PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong mỗi Quốc gia, mỗi thời kỳ, mỗi điều kiện tự nhiên - kinh tế -
xã hội cụ thể đều có một chiến lược cụ thể đảm bảo an ninh lương thực
khác nhau, nhưng mục đích cuối cùng là đảm bảo đủ nhu cầu lương thực tối
thiểu cho mọi thành viên trong xã hội. Việt Nam đi lên từ cây lúa nước, từ
một nền nông nghiệp lạc hậu, cho đến nay, lao động nông nghiệp chiếm
khoảng 75%, nguồn thu nhập chủ yếu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng việc sản xuất lương thực, coi
đây là nhiệm vụ hàng đầu cho vấn đề an ninh lương thực Quốc gia.
Trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước ngày nay, diện tích sản xuất lúa
phải nhường chỗ cho các công trình xây dựng, cho phát triển công nghiệp,
cho quá trình đô thị hoá diễn ra ồ ạt, thì vấn đề về đảm bảo lương thực càng
đặt lên vai người nông dân một trọng trách hết sức lớn lao.
Xã Quảng Phước là một xã vùng ven phá của huyện Quảng Điền và
là trung tâm KT-VH-XH của huyện Quảng Điền. Trong nhiều năm qua sản
xuất nông nghiệp đã đạt được những tiến bộ đáng kể, trong đó cây lúa đóng
vai trò chủ đạo. Với lợi thế, địa hình bằng phẳng, đất đai phì nhiêu, xã đã
áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất, đã mạnh dạn đưa các
giống lúa mới có năng suất cao. Nhờ vậy mà những năm qua sản lượng lúa
được ổn định trong khi diện tích canh tác giảm. Bên cạnh đó vẫn còn không
ít hộ nông dân sản xuất kém hiệu quả, mất mùa do chăm sóc bón phân,
phun thuốc không đúng kỹ thuật, năng suất không cao do sử dụng giống lúa
sẵn có từ vụ thu hoạch trước, giống không thuần. Trước thực trạng đó, để
nghiên cứu một cách toàn diện các biện pháp kỹ thuật, các nhân tố ảnh
hưởng đến hiệu quả trong quá trình sản xuất, cũng như vấn đề về giống lúa
có năng suất cao, phẩm chất tốt và thích nghi với điều kiện khí hậu đất đai
tại địa phương, để nâng cao giá trị thu nhập cho người nông dân trên một
đơn vị diện tích.
Được sự giúp đỡ của nhà trường cũng như quý thầy cô giáo, nhóm
chúng tôi đã có cơ hội được nghiên cứu thực tế, để từ đó đánh giá được
gạo.
- Vitamin: Trong lúa gạo còn có một số vitamin nhóm B như B1,
B2, B6…Vitamin B1 là 0,45 mg/100hạt. Từ những đặc điểm của cây lúa và
giá trị của nó, lúa gạo được coi là nguồn thực phẩm, dược phẩm có giá trị
và được tổ chức dinh dưỡng quốc tế gọi là "Hạt gạo là hạt của sự sống".
Với giá trị dinh dưỡng của hạt kết hợp với việc chọn tạo giống có
năng suất cao, phẩm chất tốt thì lúa gạo ngoài việc sử dụng hàm lượng
lương thực là chủ yếu thì các sản phẩm phụ của lúa còn sử dụng rất nhiều
trong các lĩnh vực khác nhau.
1.1.2. Một số đặc điểm của cây lúa
1.1.2.1. Đặc điểm sinh học
Sinh trưởng và phát triển của cây lúa phụ thuộc rất nhiều yếu tố, từ
điều kiện tự nhiên, tình hình canh tác, phân bón đất đai, mùa vụ gieo trồng,
giống và thời gian sinh trưởng của từng giống lúa.Quá trình sinh trưởng của
cây lúa có thể chia ra làm hai thời kỳ: Sinh trưởng dinh dưỡng và sinh
trưởng sinh thực.
- Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng: Ở thời kỳ này cây lúa chủ yếu
hình thành và phát triển các cơ quan dinh dưỡng như ra lá, phát triển rễ, đẻ
nhánh…
- Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: Là thời kỳ phân hoá, hình thành cơ
quan sinh sản bắt đầu từ khi làm đòng đến khi thu hoạch. Bao gồm các quá
trình làm đòng, trổ bông, hình thành hạt. Quá trình làm đốt tuy là sinh
trưởng dinh dưỡng nhưng lại tiến hành song song với quá trình phân hoá
đòng nên nó cũng nằm trong quá trình sinh thực. Thời kỳ này có ảnh hưởng
trực tiếp đến việc hình thành số bông, tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng hạt lúa.
+ Quá trình nẩy mầm: Hạt hút nước, độ ẩm trong hạt tăng, hoạt động
các men hô hấp và phân giải rõ rệt, một loạt các phản ứng sinh hoá xảy ra,
phôi được cung cấp glucoza, axitamin, các tế bào phân chia, lớn lên trục
phôi phình to, đẩy mầm khi nẩy mầm, đầu tiên xuất hiện lá bao hình vảy,
không có diệp lục. Đồng thời trong quá trình nẩy mầm, từ phôi xuất hiện rễ
ra, hạt phấn rơi vào đầu nhuỵ, đó là quá trình thụ phấn. Sau quá trình thụ
phấn là quá trình thụ tinh và hình thành hạt. Trong điều kiện bình thường
hạt phấn rơi xuống đầu nhuỵ, sau 15 phút ống phấn bắt đầu dài ra, các chất
trong hạt bắt đầu dồn về ống phấn. Sau thụ tinh là quá trình phát triển phôi
và phôi nhũ.
+ Quá trình chín hạt: Chúng ta có thể chia quá trình chín hạt ra làm
ba thời kỳ: chín sữa, chín sáp và chín hoàn toàn.
• Chín sữa: Sau phơi màu 6-7 ngày các chất dự trữ trong hạt ở dạng lỏng,
trắng như sữa, hình dạng hạt hoàn thành có màu xanh, trọng lượng hạt tăng
nhanh ở thời kỳ này.
• Chín sáp: Ở thời kỳ này chất dịch trong hạt dần dần đặc lại, hạt cứng và
màu xanh dần chuyển sang màu vàng.
• Chín hoàn toàn: Thời kỳ này hạt chắc cứng, màu vàng nhạt và trọng
lượng hạt đạt tối đa.
Quá trình lúa chín kéo dài 30-40 ngày tuỳ theo giống, thời vụ. Đây
là quá trình quyết định năng suất lúa.
1.1.2.2. Đặc điểm sinh thái
Ngoài sự tác động của con người thì khí hậu thời tiết là yếu tố quan
trọng nhất của điều kiện sinh thái, nó có ảnh hưởng lớn nhất và thường
xuyên đến quá trình sinh trưỡng và phát triển của cây lúa.
+ Về nhiệt độ: Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa phụ
thuộc rất nhiều về nhiệt độ trong vụ gieo trồng. Nếu thời tiết thuận lợi,
nhiệt độ trung bình cao cây lúa đạt được tổng nhiệt cần thiết sẽ ra hoa và
chín sớm hơn tức là rút ngắn thời gian sinh trưởng và ngược lại. Để cho cây
lúa phát triển tốt thì cần nhiệt độ khác nhau qua các thời kỳ sinh trưởng.
• Thời kỳ nẩy mầm: Nhiệt độ thích hợp cho cây lúa nẩy mầm là 30-
35
0
C. Nhiệt độ giới hạn thấp nhất là 10-12
0
đến quá trình sinh trưởng của cây lúa. Để lúa sinh trưởng thuận lợi, đạt
năng suất cao cần cung cấp nước đầy đủ.
1.1.3. Một số vấn đề về hiệu quả và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh
tế:
Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng
đầu của các nhà sản xuất, nhà kinh doanh và cũng là mối quan tâm chung
của toàn xã hội. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất
lượng của hoạt động kinh tế, là thước đo trình độ tổ chức và chức năng
quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp. Chính vì vậy trong điều kiện
hiện nay các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì yêu cầu đặt ra là
phải kinh doanh có hiệu quả, thì doanh nghiệp mới đứng vững trên thị
trường. Với một lượng đầu vào hay tài nguyên nhất định, để tạo ra một khối
lượng sản phẩm lớn nhất có thể được là mục tiêu chung của các nhà sản
xuất và các nhà quản lý. Tuy nhiên trong thực tế nghiên cứu ta thu được kết
quả rất đa dạng và phong phú, kết quả có thể trên phương diện kinh tế - tài
chính mà cũng có thể trên phương diện KT-XH. Từ đó mà hình thành nên
khái niệm hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội.
Như vậy, hiệu quả kinh tế là sự tương quan so sánh giữa lượng kết
quả đạt được và chi phí bỏ ra, nó thể hiện bằng các chỉ tiêu như sau: Giá trị
tổng sản phẩm, thu nhập, lợi nhuận tính trên lượng chi phí bỏ ra.
Hiệu quả xã hội là tương quan so sánh giữa chi phí xã hội bỏ ra và
kết quả mà xã hội đạt được như: tăng thêm việc làm, cải tạo môi trường
sinh thái, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo
Hiệu quả kinh tế - xã hội là sự tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra
và kết quả đạt được cả về kinh tế và xã hội. Mục tiêu cuối cùng của phát
triển kinh tế là phát triển xã hội. Do đó khi nói đến hiệu quả kinh tế chúng
ta nói trên quan điểm kinh tế xã hội.
Tùy theo mục đích tính toán hiệu quả kinh tế mà xác định kết quả
sao cho phù hợp. Đối với nông hộ, kết quả cần được quan tâm là thu nhập.
Chi phí bỏ ra trong quá trình kinh doanh là những chi phí cho các yếu tố
P: giá cả của sản phẩm
+ Chi phí sản xuất: Bao gồm chi phí trung gian và chi phí về lao
động gia đình
- Chi phí trung gian (IC): là bộ phận cấu thành giá trị sản xuất bao
gồm những chi phí vật chất và dịch vụ cho sản xuất (không kể khấu hao),
như phân bón, thuốc các loại, thuê thu hoạch, các khâu dịch vụ như thuỷ
lợi, làm đất, vận chuyển, tuốt lúa.
• Chi phí vật chất trong sản xuất lúa là các yếu tố đầu vào: giống, phân
bón, thuốc các loại…
• Chi phí dịch vụ trong sản xuất lúa:
Công lao động thuê ngoài
Các chi phí dịch vụ khác
+ Năng suất lúa (N): Chỉ tiêu này nói lên sản lượng thu được trên
một đơn vị diện tích, được xác định bằng công thức sau:
N=Q/S
Trong đó: Q: sản lượng lúa
S: diện tích gieo lúa
* Các chỉ tiêu phản ánh quy mô lợi nhuận của đơn vị sản xuất có
được trong sản xuất.
VA/IC: Giá trị tăng thêm trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này phản
ánh một đồng chi phí trung gian có thể tạo ra bao nhiêu đồng giá trị tăng
thêm trong kỳ.
GO/IC: Giá trị sản xuất trên chi phi trung gian, chỉ tiêu này phản ánh
một đồng chi phí trung gian có thể tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản xuất
trong kỳ.
VA/lao động gia đình (LĐGĐ): Chỉ tiêu này phản ánh một công lao
động gia đình tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng trong kỳ sản xuất.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1. Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới và ở Việt Nam
- Trên thế giới, lúa chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt ở vùng Châu
là
giống lúa IR5, IR8. Đến những năm 1990 dẫn đầu năng suất lúa trên
thế giới
là các nước Triều Tiên, Úc, Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nha (IRRI, 1990).
Từ
năm 1990 trở đi đến tại thời điểm hiện nay năng suất lúa thế giới liên
tục được
cải thiện đạt 4,3 tấn/ha năm 2008, tuy nhiên chỉ bằng phân nửa năng
suất của
Ai Cập (9,7 tấn/ha) nước đứng đầu thế giới.
Xuất phát điểm của Việt nam là một nước nông nghiệp, cây lúa là
cây trồng chính và lâu đời, cây lúa được phân bố khắp mọi miền của đất
nước từ Bắc vào Nam, là một trong những nước có điều kiện khí hậu thuận
lợi cho sự phát triển của cây lúa. Hơn 70 % dân số Việt nam sống bằng
nghề trồng lúa, nhân dân ta rất cần cù, sáng tạo và giàu kinh nghiệm trong
nghề trồng lúa nước, được kế thừa những kinh nghiệm của cha ông và đúc
rút nhiều thành công trong công tác chăm sóc và gieo trồng.
Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa nước ta qua 2 năm
Chỉ tiêu ĐVT 2008 2009 2009/2008
± %
Diện tích
lúa
Nghìn
ha
7400,2 7440,1 +39,9 0,5
Năng suất tạ/ha 52,3 52,2 -0,1 0,2
Sản lượng Nghìn
tấn
38729,8 38895,5 165,7 0,4
(Nguồn: Niên giám thống kê cả nước 2009)
26,64
7
24,142 625 51,684 26,323 24,301 692 51,316 - 368 -0,71
2. năng suất
(tạ/ha)
49 42,7 14,7 106,4 50,5 46,3 15,2 112 +5,6 +5,2
6
3. sản lượng
(tấn)
130,6
56
104,159 921 235,736 123,922 112,516 1,052 246,490 +10,754 +4,5
6
(nguồn: niên giám thống kê tỉnh TT Huế 2005)
1.2.3. Tình hình sản xuất lúa của Huyện Quảng Điền, tỉnh TT Huế
Huyện Quảng Điền là vùng đất trù phú, phì nhiêu, trải dài dọc theo
bờ biển phá Tam Giang. Bên cạnh những thuận lợi phát triển nông nghiệp
huyện cũng gặp không ít khó khăn. Trong quá trình sản xuất nông nghiệp,
thường bị thiên tai lũ lụt, hạn hán, ngập úng, sâu bệnh… đã làm cho năng
suất lúa giảm rất đáng kể. Tuy nhiên, qua 5 năm tiếp tục thực hiện đường
lối đổi mới của Đảng, tình hình KT-XH của huyện có bước phát triển và
mở ra một số triển vọng mới.
Bảng 3: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của huyện Quảng Điền
Chỉ
tiêu
2003 Cả
năm
2004 Cả
năm
2004/2003
+1,55
7
+3,9
4
(nguồn: Niên giám thống kê tỉnh TT Huế 2005)
Từ bảng số liệu thu thập được cho ta thấy rằng diện tích, năng suất và sản
lượng qua các năm, các vụ ĐX và HT có sự biến động rõ rệt.
Về diện tích gieo trồng, cả hai năm thì vụ HT đều có diện tích gieo
trồng giảm so với vụ ĐX. Năm 2003, diện tích vụ ĐX 4.096 ha, vụ HT
giảm còn 3.820 ha. Đây là đường lối chủ trương của huyện. Bởi vì vụ HT là
mùa hạn hán, nước mặn dễ xâm nhập vào; những vùng đất cao, vùng đất
không thuận tiện cho việc tưới tiêu, nếu vẫn duy trì sản xuất lúa thì sẽ thiếu
nước dẫn đến mất mùa. Do đó diện tích này sẽ chuyển sang trồng màu có
hiệu quả kinh tế hơn và có một ít diện tích phải bỏ hoang.Tuy nhiên việc
giảm diện tích này là một phần làm giảm sản lượng lúa. Do đó, huyện cần
phải xem xét thật kỹ, xây dựng thuỷ lợi để phục vụ tưới tiêu, đặc biệt trong
vụ HT để hạn chế việc giảm diện tích sản xuất lúa không cần thiết. Đối với
cả năm thì diện tích gieo trồng lúa năm 2004 giảm so với năm 2003 là 212
ha tương ứng 2,7%. Điều này do nhiều nguyên nhân. Trước hết là do huyện
chủ trương chuyển một số diện tích trồng lúa kém hiệu quả, những vùng đất
cao ít bị ngập úng sang trồng màu, lạc, mía, hoa các loại có hiệu quả kinh tế
hơn. Hai là do xây dựng các công trình thuỷ lợi, đắp đê, mở thêm đường xá
giao thông phục vụ cho tưới, tiêu, chống úng cho vụ ĐX, cho đi lại và vận
chuyển trong mùa màng thu hoạch. Ba là do xây dựng các công trình phát
triển công nghiệp, xây dựng khu quy hoạch nhà ở vùng trung tâm của
huyện Quảng Điền - Thị Trấn Sịa.
Đối với năng suất lúa, thì vụ HT cả hai năm đều giảm. Năm 2003,
vụ ĐX đạt 53,6 tạ/ha, vụ HT giảm xuống còn 46 tạ/ha. Năm 2004, vụ ĐX
đạt 56 tạ/ha, vụ HT giảm còn 50,4 tạ/ha. Điều này đúng như quy luật của tự
nhiên, sản xuất lúa vụ HT thường gặp nắng hạn, khó khăn trong việc tưới
Bảng 4: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa cả năm của xã
Quảng Phước qua 3 năm
Năm
Chỉ tiêu
ĐVT 2007 2008 2009
2009/2007
±
%
1.Diện tích lúa Ha 464,03 456,03 441,85 -22,18 -0.5
2. Năng suất Tạ/ha 98,99 97,81 97,99 -1,00 -0.1
3. Sản lượng Tấn 4593,7 4459,9 4330 -263,7 -5,8
(Nguồn: Báo cáo tổng kết cuối năm 2010 của xã Quảng Phước)
Từ bảng số liệu thu thập được, cho ta thấy rằng những năm qua tình
hình biến động diện tích và năng suất lúa tại địa phương có chiều hướng
trái ngược nhau. Điều này thể hiện cụ thể là, diện tích sản xuất lúa giảm
mạnh qua các năm. Năm 2007 chỉ tiêu này là 464,03 ha, đến năm 2009 chỉ
tiêu này còn 441,85 ha, tức đã giảm so với năm 2007 là 22,18 ha, tương
ứng giảm 0,5%. Chính điều này đã làm cho sản lượng lúa giảm với số
lượng không nhỏ. Sỡ dĩ diện tích giảm là do các nguyên nhân sau: một là,
xã thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển một số diện tích trồng lúa
sang trồng màu, lạc, mía có hiệu quả kinh tế hơn…và xây dựng các công
trình cầu cống chiếm nhiều diện tích.
Đối với năng suất lúa thì ổn định. Nhìn chung năng suất lúa tại địa
phương ổn định qua các năm. Năm 2007, chỉ tiêu này đạt 98,99 tạ/ha. Đến
năm 2009 chỉ tiêu này là 97.81 tạ/ha so với năm 2007 là 1,00 tạ/ha, tương
ứng 0.1%.Nhìn chung năng suất lúa la rất ổn định Có được thành tích này
là nhờ xã đã không ngừng phấn đấu vươn lên. Ngoài ra xã đã đẩy mạnh
chương trình kiên cố hoá kênh mươn, tăng tỷ lệ cơ giới hoá trong các khâu
sản xuất và thu hoạch; trình độ thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật của nông dân ngày càng tăng lên do vậy những năm qua sản lượng
người 12,00 83,00 54,00 -
người 6,00 4,88 4,90 3,86
3.Tổng số lao động
Số lao động BQ/hộ
người 5,00 43,00 33,00 -
người 2,50 2,53 3,00 2,70
4.Tổng DTCT BQ/hộ
DTCT lúa BQ/hộ
Sào 33,00 95,5 45,50
Sào 16,50 5,62 4,14 5,80
(Nguồn: Số liệu điều tra 2010)
Qua bảng số liệu điều tra năm 2010 của 30 hộ thì có 2 hộ khá giàu,
17 hộ trung bình và 11 hộ nghèo đói. Nhìn chung, nhân khẩu, lao động
cũng như DTCT của các nhóm hộ có sự chênh lệch đáng kể. Nhóm hộ
nghèo đói và trung bình có số nhân khẩu bình quân/hộ thấp hơn nhóm hộ
khá giàu. Nhóm hộ nghèo đói và trung bình lần lượt là 4,90 người/hộ và
4,88 người/hộ. Trong khi đó con số này ở hộ khá giàu là 6 người/hộ. Đối
với số người lao động bình quân/hộ thì nhóm hộ nghèo có số lao động cao
nhất là 3 người/hộ. Trong khi đó nhóm hộ khá giàu và trung bình lần lượt là
2,5 người/hộ và 2,53 người/hộ. Nguyên nhân là do nhóm hộ nghèo đói có
số người ăn theo nhiều, hộ có số con nhỏ đông. Hộ giàu có lực lượng lao
động đông, nhưng lực lượng tham gia vào sản xuất nông nghiệp ít, chủ yếu
là hoạt động các ngành nghề dịch vụ, mang lại thu nhập cao. Ta có thể nói
thiếu lao động là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến nghèo
đói.
2.2.2 Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các nông hộ:
Bên cạnh lao động, vốn, đất đai thì tư liệu sản xuất là yếu tố không
thể thiếu đối với bất kỳ ngành sản xuất vật chất nào. Tư liệu sản xuất nói
lên trình độ sản xuất và quy mô sản xuất của một đơn vị, địa phương…
hiện nay, tư liệu sản xuất của các nông hộ đã được HTX cung cấp, hỗ trợ
ĐX
526.7 100.0 512.3 100.0 530.6 100.0 527.1 100.0
1. Chi phí
trung gian
(IC)
298 56.7 279 54.5 296 55.8 294 55.8
Phân bón 102.3 34.3 130.5 46.8 115.2 38.9 114.9 39.1
Giống 21.4 7.2 23.3 8.4 19.7 6.7 20.6 7.0
Thuốc các loại 53.3 17.9 26.3 9.4 46.1 15.6 44.6 15.2
Thuê thu
hoạch
21.7 7.15 16.7 6.0 20.4 6.9 20.0 6.8
Các khâu dịch
vụ
92.7 31.1 75.2 27.0 87.6 29.6 86.8 29.5
2. lao động gia
đình
228.7 43.4 233.3 45.5 234.6 44.2 233.2 44 3
Tổng chi phí
HT
540.7 100 521.3 100 526.5 100 528.6 100
1. chi phí
trung gian
(IC)
312 57.7 288 55.2 297 56.4 298.7 56.5
Phân bón 116.3 37.3 130.4 45.3 109.0 36.7 113.7 38.1
Giống 21.4 6.9 23.3 8.1 19.7 6.6 20.6 6.7
Thuốc các loại 53.3 17.1 29.6 10.3 47.9 16.1 46.2 15.5
Thuê thu
hoạch
Nhóm hộ nghèo Bình quân chung
/hộ
ĐX HT BQ/
Vụ
ĐX HT BQ/
Vụ
ĐX HT BQ/
Vụ
ĐX HT BQ/V
ụ
NS Kg/sào 275 242 258.5 283 263 273 258 225 242 265 234 250
GO 1000đ 636 551 594 676 668 673 511 486 514 581 526 554
IC 1000đ 298 312 305 279 288 284 296 297 297 294 299 297
VA 1000đ 338 239 289 399 380 389 245 189 217 287 227 257
GO/IC Lần 2.13 1.77 1.95 2.43 2.32 2.37 1.83 1.64 1.73 1.98 1.56 1.87
VA/IC Lần 1.08 0.78 0.93 1.37 1.26 1.31 0.78 0.56 0.67 0.93 0.71 0.82
VA/LDG Lần 1.48 1.04 1.26 1.71 1.63 1.67 1.00 0.78 0.89 1.20 0.96 1.08
D
(nguồn số liệu điều tra 2010)
Qua bảng số liệu điều tra cho thấy giá trị các chỉ tiêu của các nhóm
hộ có sự chênh lệch đáng kể. Trước hết, là chỉ tiêu năng suất. Nhóm hộ có
năng suất lúa cao nhất là nhóm hộ khá giàu, đạt 264,76 Kg/sào, tiếp đến là
nhóm hộ trung bình, đạt 253,75 Kg/sào, và thấp nhất là nhóm hộ nghèo đói,
đạt 222,00.
Bảng 13: Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả kinh tế của các
hộ điều tra năm 2010
(Bình quân 1 vụ) Kg/sào.
Chỉ tiêu ĐVT Nhóm hộ
Khá Giàu
Nhóm hộ
khả quan, kết quả của quá trình phấn đấu siên năng, cần cù của các hộ.
Chính vì sự chênh lệch năng suất của các nhóm hộ rõ rệt, kéo theo
những thay đổi của GO cũng tương tự. Cụ thể là giá trị sản xuất bình quân
của nhóm hộ khá giàu cao nhất, đạt 627,62 nghìn đồng/sào, kế tiếp là nhóm
hộ trung bình, con số này đạt 552,63 nghìn đồng/sào, và thấp nhất là nhóm
hộ nghèo đói, chỉ đạt 451,17 nghìn đồng/sào. Như vậy, GO của nhóm hộ
nghèo đói thấp hơn nhóm hộ có GO cao nhất là 176,45 nghìn đồng/sào.
Điều này ngoài nguyên nhân về năng suất thấp còn do nguyên nhân về giá.
Tức là các hộ nghèo đói thường bán lúa khi vừa thu hoạch xong, để trả nợ,
mà những lúc này giá lúa rất thấp, hơn nữa lại bị tư thương ép giá. Do đó
mà các hộ này vốn đã nghèo lại càng nghèo thêm. Chỉ tiêu này xem xét
bình quân chung/hộ, đạt 553,51 nghìn đồng/sào. Nguyên nhân là do GO
của nhóm hộ nghèo đói thấp đã làm cho GO bình quân chung giảm rất đáng
kể. Đây là tồn tại, khó khăn của nông dân cũng như của địa phương. Do đó
vấn đề đặt ra trước mắt là phải hổ trợ vốn cho các nhóm hộ sản xuất nghèo
đói, đặc biệt là hổ trợ sau khi bị mất mùa để các nông hộ có điều kiện tái
sản xuất.
Về mặt chi phí trung gian (IC) của các nhóm hộ, như đã phân tích ở
bảng trước có sự biến động không đáng kể. IC của các nhóm hộ khá giàu,
trung bình và nghèo đói lần lượt là 296,18 nghìn đồng/sào, 314,59 nghìn
đồng/sào và 275,76 nghìn đồng/sào. IC bình quân chung/hộ là 298,44 nghìn
đồng/sào.
Từ những sự thay đổi của GO và IC, VA có những sự biến động kéo
theo là điều tất yếu xẩy ra. Kết quả này thể hiện sự thay đổi ở các nhóm hộ
rất rõ nét. Giá trị tăng thêm của nhóm hộ khá giàu cao nhất, đạt 331,44
nghìn đồng/sào, kế tiếp là nhóm hộ trung bình, đạt 238,04 nghìn đồng/sào
và nhóm hộ nghèo đói thấp nhất, chỉ đạt 175,36 nghìn đồng/sào. Như vậy,
giá trị tăng thêm của nhóm hộ nghèo đói thấp hơn 156,08 nghìn đồng/sào
so với nhóm hộ khá giàu là nhóm hộ có VA cao nhất. VA của các nhóm hộ
có sự chênh lệch lớn, do IC không đáng kể mà chủ yếu là do giá trị sản xuất
với nhóm hộ khá giàu thì nhóm hộ nghèo đói có giá trị tăng thêm thấp hơn
0,48 đồng trên một đồng chi phí bỏ ra. Qua đó, cho ta thấy hiệu quả sản
xuất của nhóm hộ khá giàu là cao nhất và của nhóm hộ nghèo đói là thấp
nhất.
Bên cạnh chi phí trung gian (IC), chi phí về lao động gia đình chiếm
tỷ trọng rất lớn khoảng 43,5% trong tổng chi phí sản xuất. Do đó ta có chỉ
tiêu cần đánh giá là VA/lao động gia đình (LĐGĐ). Xét bình quân vụ của
từng nhóm hộ thì con số này của nhóm hộ khá giàu cao nhất đạt 1,44 lần,
tức là một đồng chi phí về lao động gia đình bỏ ra thì tạo ra được 1,67 đồng
giá trị tăng thêm trong kỳ. Trong khi đó, con số này thấp nhất là ở nhóm hộ
nghèo đói chỉ đạt giá trị tăng thêm là 0,73 đồng trên một đồng chi phí về