đánh giá hiệu quả kinh tế trong hoạt động trồng sắn của các hộ trên địa bàn xã kỳ lâm huyện kỳ anh tỉnh hà tĩnh - Pdf 13

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
PHẦN 2 3
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1. Lý luận chung về hiệu quả kinh tế 3
2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới 4
2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam 5
2.4. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Hà Tĩnh 7
2.5. Vai trò của cây sắn và việc sản xuất sắn 7
2.5.1. Sự cần thiết để phát triển cây sắn 7
2.5.2. Những vai trò và tiềm năng của cây sắn 8
2.5.3. Khó khăn và thách thức đối với viêc phát triển cây sắn 9
PHẦN 3 11
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1. Đối tượng và pham vi nghiên cứu 11
3.2. Nội dung nghiên cứu 11
3.2.1. Thực trạng phát triển cây sắn tại địa phương 11
3.2.2. Kết quả và hiệu quả trồng sắn của nông hộ 11
3.2.3. Khó khăn của hộ đang gặp phải 12
3.2.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất sắn 12
3.3. Phương pháp nghiên cứu 12
3.3.1. Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 12
Tiến hành xin danh sách của xã và chon ra các hộ trồng sắn, sau đó bốc thăm
ngẩu nhiên 20 hộ trồng sắn, tiến hành phỏng vấn hộ. Sau đó phân loại ra hộ
khá: hộ nghèo và hộ trung bình theo chuẩn nghèo của nhà nước ban hành 12
3.3.2. Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu 12
3.3.3. Phương pháp phân tích dữ liệu 13

PHẦN 5 27
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 27
5.1 Kết Luận 27
5.2. Kiến Nghị 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
PHIẾU ĐIỀU TRA CHO HỘ SẢN XUẤT NGÀNH HÀNG SẮN 2
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng1: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của thế giới từ 5
Năm (2006 – 2009) 5
Bảng 2. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của Việt Nam giai đoạn 6
(2006 – 2009) 6
Bảng 3: Diện tích, năng suất và sản lượng của các vùng sinh thái Việt Nam năm 2009 6
Bảng 4: Tình hình trồng sắn của tỉnh 2006-2009 7
Bảng 5: Tình hình sử dụng đất của xã Kỳ Lâm (2008-2010) 14
Bảng 6: Cơ cấu lao động của xã Kỳ Lâm năm 2010 15
Bảng 8: Tình hình trồng sắn qua 3 năm của xã Kỳ Lâm 17
Bảng 9: tình hình sử dụng đất của các hộ điều tra năm 2010 19
Bảng 11. Tình hình sản xuất sắn của nông hộ năm 2010 20
Bảng 12: kỹ thuật canh tác của các hộ trông sắn 21
Bảng 13. Tình hình tiêu thụ sắn của các hộ điều tra 21
Bảng 13: Chi phí cho trồng sắn bình quân cho một hộ 22
Bảng14: Hiệu quả kinh tế của việc trồng sắn năm 2010 23
Bảng 15: Chênh lệch giá phân giữa năm 2010-2011 25
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp và phát triển nông thôn được xem là nền tảng để phát triển
kinh tế và tiến hành hiện đại hóa, công nghiệp hóa. Xây dựng một nền nông
nghiệp đa dạng hóa định hướng phát triển của đất nước, ứng dụng công nghệ
mới và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như

Anh. Năm 2010, quy mô được mở rộng hơn 1,5 ha. Qua 2 lần trồng thử nghiệm
cho thấy: giống sắn có tính thích ứng rộng, có thể trồng được ở nhiều vùng sinh
thái khác nhau, chống chịu sâu bệnh, chịu hạn, chống đổ; năng suất bình quân
60-70 tấn/ha, hàm lượng tinh bột. Trong nhữn năm gần đây nhân dân trong xã
Kỳ Lâm đã không ngừng đẩy mạnh việc phát triển cây sắn, diện tích và sản
lượng cây sắn không ngừng được tăng lên. Từng bước đưa cây sắn phát triển
thành cây trồng chủ lực đem lại thu nhập cho người dân nơi đây, góp phần vào
việc xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống người dân.
Từ thực tế khẳng định, cây sắn là một cây trồng mang lại hiệu quả kinh
tế cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội nơi đây. Nhưng các nghiên
cứu về cây sắn ở đây chưa được thực hiện để hổ trợ cho bà con trong sản xuất
và phát triển cây sắn. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả
kinh tế trong hoạt động trồng sắn của các hộ trên địa bàn Xã Kỳ Lâm
huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài nghiên cứu của mình. Để biết rõ hơn
về hiệu quả của cây sắn đối với kinh tế của người dân.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành nhằm các mục tiêu:
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động trồng sắn của địa phương và hộ gia đình.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động trồng sắn của người dân trên
địa bàn xã Kỳ Lâm huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh.
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất sắn
của nông hộ.
2
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Lý luận chung về hiệu quả kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng
đầu của các nhà sản xuất kinh doanh để hạch toán kinh tế và cũng là mối quan
tâm của toàn xã hội. Hiệu quả kinh tế là một động lực, là thước đo phản ánh
chất lượng hoạt động kinh tế, trình độ tổ chức quản lý sản xuất.

Sắn (Manihot esculenta Crantz) hiện được trồng trên 100 nước có khí
hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc ba châu lục: châu Á, châu Phi và châu
Mỹ Latinh. Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) xếp sắn là cây lương thực
quan trọng ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô và lúa mì. Tinh bột
sắn là một thành phần quan trọng trong chế độ ăn của hơn một tỷ người trên
thế giới (Trần Công Khanh, Năm 2010). Đồng thời, sắn cũng là cây thức ăn
gia súc quan trọng tại nhiều nước trên thế giới và cũng là cây hàng hóa xuất
khẩu có giá trị để chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì,
màng phủ sinh học và phụ gia dược phẩm.
Đặc biệt trong thời gian tới, sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệp
chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol). Năm 2008, Trung Quốc đã sản xuất
một triệu tấn ethanol, họ đã thoả thuận với một số quốc gia lân cận để cung
cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất ethanol. Tại Thái Lan, nhiều
nhà máy sản xuất ethanol sử dụng sắn đã được xây dựng năm 2008. Indonesia
đã lên kế hoạch sử dụng sắn sản xuất ethanol để pha vào xăng theo tỷ lệ bắt
buộc 5% bắt đầu từ năm 2010. Các nước như Lào, Papua New Guinea, đảo
quốc Fiji, Nigeria, Colombia và Uganda cũng đang nghiên cứu thử nghiệm
cho sản xuất ethanol (Trần Công Khanh, Năm 2010)
Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới có chiều hướng gia
tăng từ năm 1995 đến nay (Bảng 1). Năm 2008, sản lượng sắn thế giới đạt
238,45 triệu tấn củ tươi so với 223,75 triệu tấn năm 2007 và năm 1995 là
161,79 triệu tấn. Nước sản xuất sắn nhiều nhất là Nigeria (45,72 triệu tấn), kế
đến là Thái Lan (22,58 triệu tấn) và Indonesia (19,92 triệu tấn). Nước có năng
suất sắn cao nhất là Ấn Độ (31,43 tấn/ha), kế đến là Thái Lan (21,09 tấn/ha),
so với năng suất sắn bình quân của thế giới là 12,87 tấn/ha (FAO, 2008). Việt
Nam đứng thứ mười về sản lượng sắn trên thế giới (9,38 triệu tấn). (Trần
Công Khanh, Năm 2010)
4
Bảng1: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của thế giới từ
Năm (2006 – 2009)

nước, tập trung chủ yếu ở bốn tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk và Đăk Nông.
Năm 2008, diện tích sắn của Tây Nguyên đạt 150.100 ha, nhưng năng suất
bình quân chỉ đạt 15,7 tấn/ha, tổng sản lượng 2,35 triệu tấn, thấp hơn rất
5
nhiều so với năng suất và sản lượng sắn của vùng Đông Nam Bộ (23,74
tấn/ha và 2,69 triệu tấn) (Tổng cục thống kê, 2009).
Bảng 2. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn của Việt Nam giai đoạn
(2006 – 2009)
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
( triệu tấn)
2006 475,2 16,37 7782,5
2007 495,5 16,54 8192,8
2008 554,0 16,81 9309,9
2009 508,8 16,82 8556,9
(Trần Công Khanh tổng hợp từ Niên giám thống kê qua các năm)
Hoạt động trồng sắn ở các vùng sinh thái của nước ta có sự khác nhau
cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Số liệu được thể hiện trong bảng 3.
Bảng 3: Diện tích, năng suất và sản lượng của các vùng sinh thái Việt
Nam năm 2009
TT Vùng sinh thái
Diện
tích
(1000
ha)

hàm lượng tinh bột cao như các giống KM140, KM94, KM98…
Bảng 4: Tình hình trồng sắn của tỉnh 2006-2009
Năm
Chỉ tiêu
Diện tích (ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(tấn)
2006 3100 12,5 38900
2007 4100 8 32800
2008 4100 12,2 49800
2009 3900 12,8 49900
(Tổng cục thống kê, năm 2009)
Những năm gần đây diện tích và năng suất của cây sắn trên địa bàn
tỉnh luôn luôn tăng, sản lượng sắn của năm 2009 tăng 100 tấn so với năm
2008 trong khi diện tích giảm, chứng tỏ rằng cây sắn đã đem lại hiệu quả kinh
tế đáng kể. Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác đã khai
thác tối đa năng suất của loại cây trồng này.
2.5. Vai trò của cây sắn và việc sản xuất sắn
2.5.1. Sự cần thiết để phát triển cây sắn
Ở những nước trồng sắn thì sắn chủ yếu dùng làm lương thực cho
người và dùng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến tinh bột.
Thuỷ tổ của cây sắn nhiệt đới được biết đến với cái tên tapioca hay manioc là
7
một loại cây có củ được trồng ở các nước nhiệt đới với hàm lượng
hydratcacbon từ 30-35%. Hàm lượng protein trong củ sắn rất thấp (1-2%).
(Hoàng Kim và Trần Công Khanh, 2005). Vì vậy khi sử dụng làm thức ăn
chăn nuôi phải kết hợp với các thành phần giàu protein khác. Hàm lượng tinh
bột trong củ sắn từ 25-30% tuỳ theo giống sắn. Một nhược điểm lớn khi sử

8
Một trong những ứng dụng có thể nói nổi bật nhất hiện nay của cây sắn
là sản xuất xăng sinh học để dùng cho các động cơ đốt trong, không gây ô
nhiễm môi trường. Đây là hướng phát triển chủ yếu hiện nay.
Ở nước ta những năm gần đây, cây sắn thực sự đã trở thành cây hàng
hoá góp phần rất lớn trong công cuộc xoá đói giảm nghèo. Hiện nay cả nước
có 53 nhà máy công suất trên 50 tấn tinh bột ngày đêm và khoảng hơn 2.000
cơ sở chế biến thủ công. Sản lượng tinh bột hàng năm xấp xỉ 1 triệu tấn, đóng
góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.
Ngoài ra nhờ tận dụng nguồn phụ phẩm từ công nghiệp chế biến sắn,
nguồn phân hữu cơ từ việc nuôi bò, đã sản xuất phân bón đa dinh dưỡng cho
bà con nông dân, thâm canh để ngăn chặn tình trạng đất bị bạc màu( Nguyến
Bạch Mai, 2010).
2.5.3. Khó khăn và thách thức đối với viêc phát triển cây sắn
Cây sắn là cây dễ trồng, khả năng chống chịu tốt, năng suất sinh học
cao nhưng việc trồng sắn hiện nay đang đối diện với nhiều thách thức. Điều
đầu tiên đó là sự suy thoái dinh dưỡng đất trồng sắn. Năng suất sinh học của
sắn khá cao nhưng do đầu tư chưa tương xứng nên đất bị mất dinh dưỡng rất
mạnh trong lúc đó sự hoàn trả các chất hữu cơ như thân, lá cho đất không
đáng kể. Sự rửa trôi dinh dưỡng của đất trồng sắn được ghi nhận là rất lớn do
thường được trồng vào đầu mùa mưa với mật độ thấp nên trong (3 – 4)tháng
đầu diện tích lá thấp. Tại một số nơi, nông dân thường quản canh vì vậy đất
trồng sắn ngày càng bị suy giảm dinh dưỡng. Năng suất tinh bột của cây sắn
hiện nay là khá thấp và có xu hướng giảm dần. Mặc khác, sắn thường được
trồng trên đất có độ dốc lớn nên quá trình xói mòn rất mạnh làm cho đất bị
kiệt quệ dinh dưỡng một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, việc chế biến các
sản phẩm từ cây sắn đặc biệt là tinh bột ảnh hưởng đến môi trường nếu không
được xử lý tốt. Do sắn thường được trồng chủ yếu tại các nước đang phát
triển, nên đi đôi với việc tăng diện tích trồng sắn là diện tích rừng bị mất, đe
doạ trực tiếp đến môi sinh, môi trường, góp phần làm biến đổi khí hậu.

3.2.2. Kết quả và hiệu quả trồng sắn của nông hộ
- Năng suất sắn của các nông hộ
- Kết quả, hiệu quả sản xuất sắn
- Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất sắn
+ Ảnh hưởng của chính sách nhà nước
+ Vai trò của nhà máy tinh bột sắn
+ Ảnh hưởng của việc quy hoạch sản xuất
+ Ảnh hưởng của thị trường và các yếu tố đầu vào
 Giống
 Phân bón
 Ảnh hưởng của công tác khuyến nông
11
3.2.3. Khó khăn của hộ đang gặp phải
- Khó khăn về vốn.
- Khó khăn về lao động.
- Khó khăn về thị trường và giá cả.
- Khó khăn về giống và kỹ thuật
- Khó khăn về thiên tai và thời tiết.
3.2.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất sắn
- Định hướng phát triển.
- Giải pháp:
+ Kỷ thuật
+ Về chính sách vay vốn
+ Nhà máy
+ Về chuyển giao tiến bộ khoa học kỷ thuật
+ Về các dịch vụ sản xuất
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Để thu thập thông tin phục vụ cho việc viết đề tài này, tôi đã lựa chọn các
đối tượng là.

Kỳ Lâm là một xã vùng núi nằm ở phía tây huyện Kỳ Anh, cách trung
tâm huyện khoảng chừng 18km theo hướng Đông- Tây theo đường quốc lộ 12A.
Phía đông giáp với xã Kỳ Lạc
Phía tây giáp xã Kỳ Thượng
Phía nam giáp xã Kỳ Hợp
Phía nam giáp xã Kỳ Sơn
Kỳ Lâm là một xã miền núi của huyện kỳ anh chủ yếu là diện tích đồi
núi, rất phù hợp trong việc phát triển ngành nông nghiệp. Có chiều dài 14 km
tuyến đường quốc lộ 12A chạy qua được xây dựng và hoàn thành năm 2007
chạy dọc từ thì trấn kỳ anh tới cửa khẩu cha lo nên khá thuận lợi cho việc vận
chuyển hàng hóa và sản phẩm nông nghiệp.
4.1.2. Tình hình sử dụng đất của xã Kỳ Lâm
Về địa hình địa thế có phần phức tạp, giới hạn độ cao so với mực nước
biển khoảng 800m đến 120m. Hình dạng bề mặt chủ yếu là đồi núi nhấp nhô
bị chia cắt thành nhiều vùng nhỏ bởi các con sông, suối. Với thành phần cơ
giới là đất thịt và đất cát rất phù hợp cho việc sản xuất nông nghiệp đặc biệt
là trồng trọt và chăn nuôi. Rất phù hợp cho việc trồng và phát triển cây sắn.
Tình hình sử dụng đất của xã Kỳ Lâm được thể hiện qua bảng 5.
Bảng 5: Tình hình sử dụng đất của xã Kỳ Lâm (2008-2010)
Loại đất Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Đất tự nhiên 10.105,21 ha 10.127,84 ha 10.135,49 ha
Đất nông nghiệp 612,25 ha 693,71 ha 872,34 ha
Đất lâm nghiệp 7.928,12 ha 7.546,20 ha 7.148,86 ha
Đất chuyên dụng và nhà ở 1164,85 ha 1403,61 ha 1644,84 ha
Đất khác 399,99 ha 754,44 ha 994,28 ha
(Nguồn: Số liệu thống kê xã Kỳ Lâm 2008-2010)
14
Thực trạng về sử dụng đất đai đã thể hiện hướng đi mới trong phương
hướng phát triển của toàn huyện. Tuy nhiên, điều quan trọng phải đặt ra hiện
nay là làm sao để một mặt mở rộng diện tích đất đai hợp lý từ nguồn chưa sử

15
Bảng 7. Cơ cấu thu nhập năm 2010 của xã Kỳ Lâm
ĐVT: 1000 đồng
STT Chỉ tiêu Năm 2010
I Tổng thu nhập của xã 34.520.000
1.1 Thu nhập từ nông nghiệp 17.260.000
1.2 Thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp 12.982.000
1.3 Các nguồn thu khác 4.278.000
II Thu nhập bình quân/người 10.000
(Nguồn báo cáo kinh tế xã Kỳ Lâm năm 2010)
Qua bảng 7 chúng ta thấy rằng thu nhập của người dân nơi đây chủ yếu
là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Các thu nhập từ hoạt động sản xuất
nông nghiệp chiếm 50% thu nhập của các hộ gia đình. Thu nhập bình quân
đầu người của xã đạt 10 triệu đồng/người.
4.2. Thực trạng phát triển cây sắn trên địa bàn xã Kỳ Lâm - huyện Kỳ
Anh – tỉnh Hà Tĩnh
4.2.1 Thực trạng sản xuất sắn của xã Kỳ Lâm
Cây Sắn đã thực sự mang lại giá trị kinh tế cho người dân toàn Huyện
Kỳ Anh nói chung và xã Kỳ Lâm nói riêng. Dưới sự chỉ đạo của Uỷ Ban
Nhân Dân huyện, xã Kỳ Lâm đã đưa cây sắn vào trồng. Với lợi thế về điều
kiện tự nhiên và đất rộng lớn, trong những năm gần đây thực hiện chính sách
chuyển đổi cơ cấu cây trồng bà con nông dân nơi đây đã mạnh giạn đầu tư và
phát triển cây sắn bước đầu đã mang lại những thành công trong sản xuất nói
riêng và trong việc thay đổi nâng cao đời sống người dân nơi đây.
Cây sắn được coi như là cây lương thực hổ trợ gần gủi, gắn bó với
người nông dân là cây trồng rất quan trộng đem lại lợi ích kinh tế cho người
nông dân, trong những năm trở lại đây diện tích trồng sắn đã được tăng lên và
nhập về một số giống sắn công nghiệp có năng xuất cao. Trong nhiều năm
qua, diện tích, năng suất cũng như sản lượng sắn của xã không ngừng tăng
lên. Số liệu cụ thể được thể hiện qua bảng 9.

Việc nhà máy tinh bột cần nguyên liệu đầu vào lớn như hiện nay đã tạo cho
người dân mở rộng diện tích, chọn lọc sủ dụng các loại giống sắn mới, áp dụng
khoa học kỷ thuật tăng năng xuất, tăng thu nhập cho người dân, giải quyết lao
động việc làm tại địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo hiện nay.
4.3. Thông tin cơ bản của các hộ điều tra
4.3.1. Tình hình sử dụng đất của các hộ điều tra
Các nông hộ ở xã Kỳ Lâm có diện tích đất khá lớn. Đất ở đây được sử
dụng với nhiều mục đích khác nhau. Tình hình sử dụng đất của nông hộ được
thể hiện qua bảng 9.
18
Bảng 9: tình hình sử dụng đất của các hộ điều tra năm 2010
ĐVT: sào/hộ
STT Chỉ tiêu
Hộ nghèo
(n=5)
Hộ trên nghèo
(n=15)
Tổng diện tích đất 26 42
1 Đất ở và vườn nhà 4 6
2 Đất trồng cây hàng năm 12 20
2.1 Lúa nước 3 4
2.2 Sắn 8 13
2.3 Rau màu, khác 1 3
3 Đất trồng cây lâu năm 7 9
4 Mặt nước NTTS 0 0
5 Đất khác 3 7
(Nguồn: Số liệu phỏng vấn hộ xã Kỳ Lâm 2011)
Từ số liệu bảng 9 cho thấy rằng hầu hết các hộ sản xuất đều có tổng
diện tích đất sản xuất khá lớn. Tổng diện tích đất sản xuất bình quân của
hộ nghèo là 26 sào/hộ, hộ trên nghèo là 42 sào/hộ. Đất trồng sắn bình

Bảng 11. Tình hình sản xuất sắn của nông hộ năm 2010
STT Chỉ tiêu Đơn vị tính
Hộ nghèo
(n=5)
Hộ trên nghèo
(n=15)
1 Diện tích Sào/hộ 5,20 5,07
2 Năng suất Tạ/sào 11 10,87
3 Sản lượng Tạ/năm 57,20 55,11
(Nguồn:Số liệu phỏng vấn hộ xã Kỳ Lâm 2011)
Diện tích của các hộ nghèo của xã là 5,2 sào/hộ và của các hộ trên
nghèo là 5,07 sào/ha. Với năng suất bình quân của hộ nghèo là 11 tạ/sào
còn đối với hộ trên nghèo thì năng suất đạt được là 10,87 tạ/sào. Điều
này cho thấy rằng các hộ nghèo đầu tư vào trồng sắn nhiều hơn các hộ
trên nghèo.
4.4.2. Tình hình sử dụng giống Sắn của các nông hộ trong năm 2010
Việc chọn lựa một số giống sắn mới, nhằm tìm ra giống sắn có thời gian
sinh trưởng ngắn, năng xuất cao, giàu tinh bột để cung cấp nguyên liệu phục vụ
nhà máy chế biến tinh bột, bổ sung giống sắn cho sản xuất để giúp nông dân rải vụ
thu hoạch.
20
Hiện nay nhờ áp dụng khoa học kỷ thuật và lai tạo các giống Sắn có chất
lượng cao như KM 98, KM140, KM94, Cao Sản. Hiện nay qua số liệu điều tra
cho thấy nông dân xã chủ yếu dùng KM94 và Cao Sản.
4.4.3. các biện pháp kỹ thuật chính được các hộ áp dụng trong trồng sắn
Hầu hết các hộ được điều tra đều cho biết rằng họ đều sử dụng các biện
pháp canh tác truyền thống. Điều này được thể hiện qua bảng 12.
Bảng 12: kỹ thuật canh tác của các hộ trông sắn
tt Kỹ thuật Hộ nghèo
(n=5)

Chợ 0 0 1 6,7
21
Người bán buôn 0 0 1 6,7
Người bán lẻ 0 0 0 0
(Nguồn số liệu phỏng vấn hộ xã Kỳ Lâm 2011)
Qua bảng 13 cho thấy 100% hộ nghèo đều tiêu thụ sắn cho nhà máy.
Hộ trên nghèo 86,6% bán sản phẩm cho nhà máy 6,7% bán ở chợ và 6,7%
bán cho các lái buôn.
4.4.5. Những khó khăn trong quá trình sản xuất sắn của nông hộ
Do đặc điểm tự nhiên và xã hội của xã nên các hộ sản xuất sắn phải
găp một số khó khăn cơ bản như: diễn biến khí hậu và thời tiết bất thường
như lũ lụt và hạn hán kéo dài, gây ảnh hưởng xấu tới quá trình sản xuất cũng
như thu hoạch của người dân. Đặc biệt là mưa lũ kéo dài làm sâu bệnh phát
triển,làm hư hại củ sắn giamr chất lượng cũng như số lượng sắn. Bên cạnh đó
chưa có sự phối hợp của cơ quan nhà nước, người dân còn gặp một số khó
khăn về vốn và kỹ thuật. Cùng với việc giá cả vật tư và phân bón không
ngừng tăng lên gây ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình sản xuất và chăn sóc
của người dân.
4.5. Hiệu quả của việc sản xuất sắn ở nông hộ
4.5.1. Chi phí cho sản xuất sắn ở nông hộ
Nói chung các hộ sản xuất trong xã chủ yếu “lấy công làm lãi” nên các
hộ chủ yếu dựa vào nội lưc sản xuất của gia đình nên cũng giảm đi một phần
chi phí đầu tư. Chi phí đầu tư của cac hộ đươc thể hiện qua bảng sau:
Bảng 13: Chi phí cho trồng sắn bình quân cho một hộ
ĐVT: đồng/sào/vụ
STT Hạng mục Hộ nghèo (n=5)
Hộ trên nghèo
(n=15)
1 Giống 65000 81700
2 Phân bón 276000 307330


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status