HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Khoa kinh tÕ Vµ PH¸T TRIÓN N¤NG TH¤N
= = = = = = = =
TRẦN THÙY DƯƠNG
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ ỔI TRÊN
ĐỊA BÀN XÃ ĐÔNG DƯ, HUYỆN GIA LÂM,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hµ Néi 2014–
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Khoa kinh tÕ Vµ PH¸T TRIÓN N¤NG TH¤N
= = = = = = = =
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ ỔI TRÊN
ĐỊA BÀN XÃ ĐÔNG DƯ, HUYỆN GIA LÂM, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
Ơ
Tên sinh viên : TRẦN THÙY DƯƠNG
Chuyên ngành : KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Lớp : K56-KTPT
Niên khóa : 2011 – 2015
Giảng viên hướng dẫn : ThS. HÀ THỊ THANH MAI
Hµ Néi 2014–
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là đề tài nghiên cứu khoa học của tôi, nội
dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa hề
được sử dụng.
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực
khá thuận lợi cho giao lưu buôn bán. Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã
là 353,6 ha với 4543 nhân khẩu trong đó nhân khẩu nông nghiệp là 3608
chiếm 79,42%, có thể thấy đời sống của nhân dân trong xã chủ yếu là sản xuất
nông nghiệpvà sự phát triển theo hướng này vẫn có xu hướng tiếp tục. Xã từ
lâu đời đã nổi tiếng với giống ổi. Với những đặc điểm về sản xuất cũng như
tiêu thụ đã tạo cho ổi tại xã những lợi thế cũng như năng suất sản lượng tốt
mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nắm bắt được điều này, trong những năm qua
các trung tâm, ngành, địa phương đã quan tâm khôi phục, phát triển sản xuất
và tiêu thụ ổi tại xã. Diện tích, quy mô, sản lượng ổi tại xã liên tục tăng qua
các năm, tuy nhiên các dự án, nghiên cứu mới chỉ bước đầu thúc đẩy sản xuất
và tiêu thụ ổi chứ chưa thể giải quyết hết các vấn đề khó khăn còn tồn tại
cũng như phát huy hết tiềm năng của ổi. Do đó đề tài chúng tôi hướng tới việc
trên cơ sở tìm hiểu thực trạng sản xuất và tiêu thụ ổi trên địa bàn xã Đông Dư,
đề xuất những giải pháp nhằm phát triển sản xuất và tiêu thụ ổi góp phần tăng
thu nhập, nâng cao đời sống của các hộ nông dân tại địa phương. Và cụ thể
hóa bằng mục tiêu sau:
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất và tiêu
thụ ổi.
- Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ ổi ở xã Đông Dư.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ ổi và khó
khăn cản trở trong sản xuất và tiêu thụ của xã trong thời gian tới.
- Đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất và tiêu
thụ ổi ở xã Đông Dư.
Qua khảo sát nghiên cứu, chúng tôi đánh giá được thực trạng sản xuất
và tiêu thụ ổi tại xã Đông Dư:
iii
- Diện tích, năng suất, sản lượng ổi của xã có xu hướng tăng qua các
năm. Sản xuất ổi đang phát triển theo hướng mở rộng, tập trung quy mô lớn.
- Mức độ đầu tư cho ổi tại các nhóm hộ nhìn chung còn thấp. Nhóm hộ
quy mô nhỏ có khả năng tận dụng nguồn lực để giảm chi phí vật tư tốt nhất.
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix
DANH MỤC HỘP ix
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN XUẤT
VÀ TIÊU THỤ ỔI 4
2.1 Cơ sở lý luận về sản xuất và tiệu thụ ổi 4
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan 4
2.1.2 Vai trò của sản xuất và tiêu thụ 8
2.1.3 Đặc điểm của sản xuất và tiêu thụ ổi 9
2.1.4 Nội dung nghiên cứu sản xuất và tiêu thụ ổi 14
2.2 Cơ sở thực tiễn 17
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ổi trên thế giới 17
v
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ổi ở Việt Nam 18
2.2.3 Bài học kinh nghiệm về sản xuất và tiêu thụ ổi ở một số nước trên thế
giới và địa phương trong nước 20
2.2.4. Một số nghiên cứu có liên quan 23
PHẦN III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25
Bảng 3.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai tại xã Đông Dư (2011-2013)
28
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động tại xã Đông Dư (2011-2013) 30
Bảng 3.3 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã đến ngày 31/5/2014 31
Bảng 3.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Đông Dư qua 3 năm ( 2011-
2013) 33
Bảng 3.5 Tỷ lệ nhóm hộ sản xuất ổi điều tra 36
Bảng 4.1 Tình hình sản xuất ổi tại xã Đông Dư giai đoạn 2011-2013 43
Bảng 4.2 Tình hình chung của các nhóm hộ điều tra 46
Bảng 4.3 Diện tích, sản lượng và năng suất ổi bình quân của các nhóm hộ
điều tra năm 2014 48
Bảng 4.4 Mật độ trồng ổi trong các nhóm hộ điều tra 49
Bảng 4.5: Áp dụng kỹ thuật trong sản xuất và tiêu thụ ổi tại các nhóm hộ 51
Bảng 4.6 Tình hình đầu tư cho sản xuất ổi tại các hộ điều tra năm 2014 53
Bảng 4.7 Kết quả và hiệu quả sản xuất ổi tại các nhóm hộ điều tra năm 2014
56
Bảng 4.8 Khối lượng ổi bình quân hộ được bán qua các kênh tiêu thụ năm
2014 59
Bảng 4.9 Giá ổi tiêu thụ qua các kênh của hộ nông dân năm 2014 60
Bảng 4.10 Tham gia tập huấn của chủ hộ 68
Bảng 4.11 Kinh nghiệm trồng ổi của chủ hộ 68
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
viii
Hình 2.1 Sơ đồ các hình thức kênh tiêu thụ 7
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 4.1: Biến động giá trên kênh bán lẻ theo mùa vụ 70
DANH MỤC HỘP
STT Tên hộp Trang
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
x
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Việt Nam là một nước nhiệt đới với rất nhiều sản vật phong phú. Mỗi
vùng miền trên cả nước đều có những loại quả mang đặc trưng của vùng đó:
vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang), nhãn lồng Hưng Yên. Những sản vật đó đã
đóng góp to lớn cho phát triển kinh tế tại địa phương. Tuy nhiên, còn rất
nhiều sản vật vẫn chưa được khai thác, phát huy hết tiềm năng, lợi thế sẵn có.
Ổi (Psidium guajava L.) là cây ăn quả được trồng ở hầu hết các quốc
gia có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ổi là loại quả có hàm lượng dinh
dưỡng cao, đặc biệt có nhiều loại vitamin và khoáng chất, có thể ăn tươi,làm
nước nước ép ổi. Quả non, búp ổi, vỏ cây và rễ ổi có thể làm thuốc chữa bệnh.
Ở nước ta, cây ổi được đánh giá là loại cây dễ trồng, thích hợp nhiều loại đất,
có khả năng chịu hạn, chịu úng tốt, cho năng suất cao nếu được chăm sóc tốt.
Ở các tỉnh phía Bắc, cây ổi từ lâu đã đem lại thu nhập không nhỏ cho người
sản xuất tại một số vùng như Hà Nội, Hải Dương và Thái Bình. Các giống ổi
đang được trồng ở một số tỉnh như ổi đào, ổi mỡ, ổi Đông Dư, ổi Bo, ổi trắng,
ổi Vẹt
Ổi Đông Dư là một sản phẩm đặc sản nổi tiếng của xã Đông Dư,
huyện Gia Lâm từ lâu đời. Khác với các loại ổi thông thường, ổi Đông Dư
quả to vừa phải, ăn giòn và ngọt, hạt ổi mềm, vỏ ổi không chát. Ổi Đông Dư
còn đặc biệt vì cho trái cả bốn mùa, các mùa đông, xuân trái ít hơn vào mùa
chính. Toàn xã có 353,61ha đất tự nhiên, 286ha đất nông nghiệp, trong đó
hiện diện tích đất trồng ổi khoảng hơn 40ha.
Tuy nhiên, hiện nay việc phát triển, trồng và sản xuất ổi Đông Dư còn
nhiều hạn chế, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, tiếp cận thị trường của người sản xuất
còn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù giá bán trên thị trường khá cao, nhưng lợi
nhuận chính chủ yếu tập trung vào các nhóm tư thương. Người trồng ổi chủ
yếu bán ổi tươi nhỏ lẻ, chưa tiếp cận được các kênh tiêu thụ sản phảm hiệu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng sản xuất và tiêu thụ ổi
tại xã Đông Dư.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng sản xuất
và tiêu thụ ổi tại xã Đông Dư, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu
nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất ổi ở địa phương trong thời gian tới.
- Không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tại địa bàn xã Đông Dư,
huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: Số liệu nghiên cứu đề tài chủ yếu từ năm 2011-
2013.
-Thời gian nghiên cứu đề tài: từ ngày 21/5/2014 đến ngày 21/11/2014
3
PHẦN II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN
XUẤT VÀ TIÊU THỤ ỔI
2.1 Cơ sở lý luận về sản xuất và tiệu thụ ổi
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan
* Khái niệm về sản xuất
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài
nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch
vụ(đầu ra) (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, 1997).
Quá trình sản xuất là việc chuyển các đầu vào, dưới hình thức lao
động của con người và những nguồn lực vật chất khác, thành đầu ra. Những
đầu ra này có thể được sử dụng là đầu vào cho quá trình sản xuất khác hoặc là
những sản phẩm cuối cùng được phân chia cho các thành viên trong xã hội
với vai trò là người tiêu dùng cuối cùng (Neva Goodwin, Phạm Vũ Luận,
2002).
Đầu vào của sản xuất bao gồm các yếu tố như sau: lao động, đất đai,
máy móc, vốn, nguyên liệu, trình độ quản lý các yếu tố này tác động qua lại
lẫn nhau.
Đầu ra là kết quả quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như: lương
- Sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu
trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất trên quy mô lớn, khối lượng
sản phẩm nhiều. Sản xuất này mang tính tập trung chuyên canh và tỷ lệ sản
phẩm hàng hóa cao.
Phương thức sản xuất theo hướng thị trường tập trung vào ba câu hỏi
cơ bản là: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Theo đó,
sản xuất hướng tới tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu của thị trường trong tất cả các
khâu của quá trình sản xuất.
Tóm lại, sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra các
sản phẩm đầu ra, là quá trình tác động của con người vào các đối tượng sản
xuất, thông qua các hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục
vụ đời sống con người.
* Khái niệm về tiêu thụ
Tiêu thụ là quá trình thực hiện tổng thể các hoạt động có mối quan hệ
logic và chặt chẽ bởi một tập hợp các cá nhân, doanh nghiệp phụ thuộc lẫn
nhau nhằm thực hiện quá trình chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất tới nơi tiêu
dùng. Tiêu thụ thực hiện mục đích của sản xuất và tiêu dùng nó là khâu lưu
thông hàng hoá là cầu nối trung gian một bên là sản xuất một bên là tiêu dùng
(Huỳnh Thị Mị, 2010).
Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối của sản xuất kinh
doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng
như người sản xuất (Phạm Văn Đình và cộng sự, 1997).
Có thể hiểu tiêu thụ là quá trình chuyển hóa quyền sở hữu và quyền
sử dụng hàng hóa tiền tệ giữa các chủ thể kinh tế. Trong sản xuất hàng hóa thì
5
khâu quan trọng nhất là khâu tiêu thụ, bởi đó là đầu ra trong nền kinh tế thị
trường, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các cơ sở sản xuất kinh
doanh.
* Kênh tiêu thụ sản phẩm
Kênh tiêu thụ sản phẩm là sự kết hợp qua lại với nhau giữa người sản
phẩm hàng hóa đều phải qua tay các trung gian trước khi đến tay người tiêu
dùng nên các kênh có những ưu điểm như: tổ chức chặt chẽ hơn, quy mô hàng
hóa lớn và quay vòng vốn, thu hồi vốn nhanh tiết kiệm được chi phí bảo quản.
Qua mỗi một trung gian hàng hóa có thể được biến đổi để phù hợp hơn với thị
trường (Marketing cho sản phẩm). DN có thể tiêu thụ sản phẩm trong một
thời gian ngắn nhất với khối lượng hàng lớn.
Nhưng nhược điểm là: thời gian lưu thông hàng hóa kéo dài, chi phí
tiêu thụ tăng, DN khó kiểm soát được các khâu tiêu dùng, có thể mang lại rủi
7
ro cho trung gian, đôi khi do phân phối lợi ích không hợp lý mà hiệu quả phân
phối không được đảm bảo nhất là đối với các kênh lớn có nhiều thành phần
trung gian tham gia.
2.1.2 Vai trò của sản xuất và tiêu thụ
2.1.2.1 Vai trò của sản xuất
Sản xuất luôn giữ vai trò quy định sự tồn tại, phát triển của con người
và xã hội loài người, làhoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển những
mối quan hệ xã hội, là cơ sở của sự hình thành,biến đổi và phát triển của xã
hội loài người.
- Mọi thành viên trong xã hội đều tiêu dùng (ăn, uống, ở, mặc v.v).
Những thứ có sẵn trong tự nhiênkhông thể thoả mãn mọi nhu cầu của con
người, nên nó phải sản xuấtra của cải vật chất. Sản xuất vậtchất là yêu cầu
khách quan cơ bản; là một hành động lịch sử mà hiện nay cũng như hàng
ngàn nămtrước đây con người vẫn phải tiến hành. Cùng với việc cải biến giới
tự nhiên, con người cũng cải biếnchính bản thân mình và cải biến cả các mối
quan hệ giữa con người với nhau và chính việc cải biến đólàm cho việc chinh
phục giới tự nhiên đạt hiệu quả cao hơn.
- Xã hội loài người tồn tại và phát triển được trước hết là nhờ sản xuất
vật chất. Lịch sử xã hội loài người, do vậy và trước hết là lịch sử phát triển
của sản xuất vật chất.
- Sản xuất là cơ sở để hình thành nên các mối quan hệ xã hội khác. Xã
trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5- tháng 6).
2.1.3.2 Sản xuất ổi đòi hỏi điều kiện về đất đai, khí hậu đặc thù và kỹ thuật
sản xuất, bảo quản phù hợp
Do có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nên ổi được đánh giá là loại cây có
phổ thích ứng rất rộng. Hiện nay nó đã được thích nghi và trồng phổ biến ở
9
hầu khắp các nước nhiệt đới. Ở các nước á nhiệt đới nó đã lên tới độ cao 1500
m chứng tỏ thích nghi rất rộng. Ổi là cây ăn quả xếp thứ 4 của Ấn độ sau
xoài, chuối và cam quýt về sản lượng.
Ở Việt Nam, cây ổi được phát triển khắp cả nước, trừ những vùng núi
cao. Ở đồng bằng cũng như miền núi, miền Nam cũng như miền Bắc, không
hiếm những rừng ổi, rặng ổi hoàn toàn không được chăm sóc và mùa mưa
tháng 8 có nơi quả chín nhanh đến độ không thu hái kịp, chim chóc đến rỉa, ổi
chín rụng đầy mặt đất, cây ổi thích hợp ở nhiệt độ bình quân năm 25 - 27
0
C.
Cây ổi không chịu được rét, so với cam ổi kém chịu rét hơn, nhưng với đu đủ,
chuối tiêu thì ổi hơn hẳn, độ nhiệt – 20
0
C cả cây lớn cũng chết. Ngược lại ổi
chịu đựng dễ dàng với nhiệt độ cao ở các sa mạc nếu có đủ nước. Nhiệt độ
thấp, ví dụ dưới 18 - 20
0
C quả bé, phát triển chậm, chất lượng kém. Ổi
thích nghi với khí hậu ẩm, nếu lượng mưa hàng năm 1500 - 4000mm phân bố
tương đối đều thì không phải tưới. Bộ rễ của ổi thích nghi tốt với sự thay đổi
đột ngột của ẩm độ trong đất. Nếu trời hạn, mực nước ngầm thấp, ổi có khả
năng phát triển nhanh một số rễ thẳng đứng ăn sâu xuống đất tận 3 - 4m và có
thể hơn. Nếu mưa nhiều, mực nước dâng cao, ổi đâm nhiều rễ ăn trở lại mặt
đất do đó không bị ngạt. Thậm chí ngập vài ngày ổi cũng không chết. Có thể
Trong giai đoạn 2001 - 2005 Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm
đã nghiên cứu tuyển chọn và xác định các dòng, giống ổi có triển vọng có thể
phát triển ra ngoài sản xuất như giống ổi Trắng số 1. Ngoài ra còn một số giống
ổi khác như ổi Trắng số 5, ổi đào 102, ổi đào 138… có chất lượng khá tốt.
Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam trong những năm qua đã nhập
nội và khảo nghiệm một số giống ổi từ Thái Lan, Malaysia, Đài Loan và đã có
những giống đang được sản xuất chấp nhận như giống ổi Xá lỵ cây sinh
trưởng mạnh, tỷ lệ đậu quả và năng suất cao, quả hình quả lê ổn định, thịt
11
quảmàu trắng dòn, hương vị thơm và ngon. Vỏ quả hơi sần và lõi quả có hạt
cứng (tỉ lệ thịt quả < 77%); ổi Đài Loan (cây sinh trưởng khá mạnh, tỷ lệ đậu
quảkhá cao và năng suất cao, quả hình cầu ổn định, vỏ quả láng, thịt quả màu
trắng, dòn, hương vị thơm ngon. Lõi quả có hạt cứng và sốhạt/quảtrung
bình, tỷ lệ thịt quả<74%; giống ổi Thái Lan (cây sinh trưởng mạnh, quả thuôn
dài khá ổn định, vỏ quả trơn láng, thịt quả màu trắng kem, chắc, giòn, hương
thơm trung bình vị chua ngọt và không có hạt, tỷ lệ thịt quả cao >90%).
Từ những năm 1990 các nhà khoa học Viện Cây lương thực và Cây
thực phẩm tiến hành nghiên cứu sâu về chọn giống đã đạt được nhữngthành
tựu đáng kể. Bằng phương pháp nhập nội, lai hữu tính, đến nay Viện Cây
lương thực đã tạo được một số giống ổi mới có năng suất cao, chất lượng tốt:
ổi trắng Số 1, ổi trắng Số2, ổi đào Số 1, ổi Tím được sản xuất chấp nhận và
đang được phát triển trong sản xuất đại trà cho hiệu quả kinh tế cao (Nguyễn
Văn Dự, 2013).
2.3.1.4 Các kênh tiêu thụ đa dạng
Trong nền kinh tế thị trường việc tiêu thụ sản phẩm được thực hiện
bằng nhiều kênh khác nhau, qua đó sản phẩm được chuyển từ hãng sản xuất
đến tay người tiêu dùng. Tuy có nhiều hình tiêu thụ khác nhau nhưng việc các
doanh nghiệp áp dụng hình thức tiêu thụ này hay hình thức tiêu thụ khác phần
lớn là do đặc điểm của sản phẩm sản xuất quy định.
Việc phân phối hàng hoá và các kênh tiêu thụ chính là những quyết