TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
BỘ MÔN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
………………
ĐỀ TÀI MÔN:
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững
Các Giải pháp Định Hướng
Phát Triển Bền Vững Nền Nông Nghiệp
VIỆT NAM
SV thực hiện: Phạm Thị Thuỳ Dung
Lớp: NL02 STT: 05
Khóa: 32
Tp. Hố Chí Minh, 12/2008
LỜI NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Hướng Nền Nông Nghiệp Việt Nam Theo Hướng Phát Triển Bền Vững".
Đề tài của em gồm các phần như sau:
1. Phát triển bền vững là gì?
2. Các thành tựu đạt được và triển vọng phát triển bền vững trong nông nghiệp ở Việt
Nam
3. Các thách thức đặt ra đối với định hướng phát triển bền vững nông nghiệp Việt
Nam
4. Các giải pháp đư ra để định hướng nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng Phát
triển bền vững
1. Phát triển bền vững là gì?
Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về sự phát triển bền vững, theo Bách khoa tòan thư điện
tử Wikipedia, " Phát triển bền vững là một khá niệm mới nằm định nghĩa một sự phát triển về
mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này là
mục tiếu hướng tới của nhiều quốc gia trên Thế giới, mỡi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế,
xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để họach định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia
đó". Còn theo định nghĩa của Ủy ban Thế giới về môi trường và phát triển đưa ra năm 1987: “
Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả
năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai”.
Trong thời đại ngày nay, phát triển bền vững phải nhằm hướng tới và giải quyết tốt những
vấn đề cơ bản có liên quan chặt chẽ với nhau như: bền vững về kinh tế, bền vững về chính trị,
xã hội và bền vững về môi trường. Điều này cũng có nghĩa là sự phát triển bền vững phải bảo
đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng nhanh và có hiệu quả, thực hiện công bằng xã hội và bảo vệ
môi trường sinh thái.
Với cách hiểu về phát triển bền vững như vậy, có thể thấy được sự phát triển bền vững trong
nông nghiệp, nông thôn nước ta, đó là sự tăng trưởng nhanh, mạnh, hiệu quả vể mặt năng suất,
sản lượng và cả về chất lượng nông sản, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao đời sống người nông
dân, góp phần thực hiện công bằng xã hội, nhưng vẫn đảm bảo về mặt môi trường sinh thái, an
tòan cho sức khỏe người dân.
2. Các thành tựu đạt được và triển vọng phát triển bền vững trong nông
nghiệpNông nghiệp, nông thôn đã góp phần quan trọng trong việc tăng nguồn hàng xuất
khẩu, tăng nguồn ngoại tệ để tăng trưởng kinh tế. Nông, lâm, thủy sản và hàng thủ công
mỹ nghệ là những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm vừa qua.
Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản và hàng thủ công mỹ nghệ ngày càng tăng lên
và đạt giá trị hàng tỷ đôla Mỹ, đó là nguồn ngoại tệ quý giá để đầu tư phát triển kinh tế
cho đất nước.
• Cơ cấu giá trị sản phẩm nông nghiệp dịch chuyển theo hướng tích cực, theo hướng đa
lĩnh vực và đa ngành, ra đời nhiều nhân tố mới trong tổ chức sản xuất kinh doanh nông
nghiệp. Ngành nông, lâm, ngư nghiệp đã có chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tính
chất thuần nông, thuần lương thực, mang tính tự cung tự cấp sang một nền nông nghiệp
đa dạng mang tính chất sản xuất hàng hóa. Xem bảng 1.
Bảng1: Chuyển dịch cơ cấu ngành nông, lâm, ngư nghiệp (%)
1990 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Nông
nghiêp
81,4 80,6 80,4 80,6 81,5 80,2 77,4 76.9 76,56
Lâm
nghiệp
7,6 5,3 5,1 4,6 4,6 4,5 4,5 4,3 5,04
Ngư
nghiệp
8,3 14,1 14,3 13,9 13,9 15,3 18,1 18,8 18,40
Nguồn: Niên giám Thống kê năm 2003.
Nghiên cứu các giống cây trồng mới cho năng suất cao, chất lượng tốt, hình thành các
vùng chuyên canh, các giống cây trồng vật nuôi được phát triển phù hợp với điều kiện
khí hậu, thổ nhưỡng của từng vùng, có thị trường tiêu thụ ổn định.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đa dạng hóa và sản xuất hàng hóa là điều kiện
cơ bản để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hiệu quả của từng ngành, cũng như toàn bộ nền kinh
tế quốc dân.
• Về xã hội: Cùng với những chuyển biến về mặt kinh tế, trong xã hội nông thôn cũng
cầu phát triển bền vững, từ yêu cầu lấy con người làm hạt nhân, trung tâm của sự phát
triển.
Hiện nay, nông nghiệp Việt Nam đang có những cơ hội hết sức thuận lợi để tiến tới đẩy
mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam theo hướng mang tính chất bền vững. Đó
chính là quá trình hội nhập, tòan cầu hóa hiện nay đang diễn ra hết sức mạnh mẽ. Tiến trình hội
nhập là cơ hội để sản phẩm nông sản Việt Nam tiếp cận nhiều thị trường trên thế giới, đặc biệt
là hàng hóa nông sản ở đồng bằng sông Cửu Long. Đây cũng là cơ hội để nông dân tiếp cận
những công nghệ mới của nhà đầu tư, bên cạnh những sức ép buộc các doanh nghiệp trong
nước phải liên tục đổi mới và nâng cao về chất lượng cải tiến công nghệ và giá cả cạnh tranh.
Như vậy, lợi thế của nông dân là được lựa chọn nhiều mặt hàng giá rẻ, phù hợp với yêu cầu và
điều kiện sản xuất.
Theo PGS-TS. Mai Thành Phụng - Trung tâm khuyến nông quốc gia, gia nhập WTO
nông dân có 3 điều thuận lợi:
Thị trường nông sản rộng mở, hàng hóa nông sản có thể bán trong nước và 149 nước
thành viên còn lại trong WTO.
Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ tăng mạnh, đặc biệt là vào lĩnh vực nông nghiệp,
nhờ vậy sẽ thúc đẩy nền ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển mạnh lên.
Nông dân Việt Nam sẽ có dịp tiếp cận những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới ngày càng
nhiều hơn, nhanh hơn và sâu rộng hơn.
3. Các thách thức đặt ra đối với định hướng phát triển bền vững nông
nghiệp Việt Nam
Có thể thấy quá trình phát triển nền sản xuất nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển
bền vững đã có những bước tiến to lớn và có nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển bền vững
một cách mạnh mẽ trong tương lai. Tuy nhiên bên cạnh đó, nông nghiệp, nông thôn vẫn
còn nhiều điểm tồn tại, đó là:
Chất lượng tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn thấp. Điều này thể hiện ở sự
thích ứng của hàng nông sản với yêu cầu của thị trường và khả năng cạnh tranh của
chúng còn rất thấp, cụ thể là:
Tính cạnh tranh yếu: Tính cạnh tranh quyết liệt đòi hỏi chúng ta phải có quy trình
chuẩn cho ra sản phẩm giá thành hạ năng suất tăng, chất lượng tăng và đặc biệt là
bất hợp pháp.
• Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, môi trường tâm lý và khung pháp lý vẫn còn có những bất
cập, chưa tạo đầy đủ điều kiện cho sự họat động của thị trường (bao gồm thị trường
hàng hóa nông nghiệp, thị trường sử dụng đất, thị trường giá trị sử dụng sức lao động,
thị trường vốn). Do đó, việc cung ứng các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra
của nông nghiệp và kinh tế nông thôn còn gặp nhiều ách tắc.
• Lao động, việc làm trong nông thôn là một trong những vẫn đề nan giải, khi mà tốc
độ tăng dân số ở nông thôn còn cao, tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn ngày càng tăng,
mức thu nhập bình quân ở nông thôn còn thấp, sự chênh lệch lớn giữa các vùng nông
thôn, giữa nông thôn và thành thị ngày càng lớn, số lao động cần giải quyết việc làm
ngày càng tăng lên, nhưng chất lượng lao động lại còn rất thấp kém và việc dạy nghề
cho nông dân còn nhiều bất cập.
• Tình trạng suy thoái và ô nhiễm môi trường vẫn có xu hướng tăng, điều này thể hiện
ở những điểm chính sau: Vấn đề lạm dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp chưa
được kiểm soát tốt; Việc phát triển làng nghề chưa có quy hoạch, do đó tiếng ồn và
các chất thải là những nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường; Vấn đề
xử lý nguồn nước thải và rác thải ở nông thôn chưa tốt; Rừng bị chặt bừa bãi, lâm tặc
hoành hành v.v.
4. Các giải pháp đưa ra để định hướng nền nông nghiệp Việt Nam theo
hướng Phát triển bền vững
Mục tiêu và cũng là động lực phát triển nông thôn bền vững là nâng cao chất lượng cuộc
sống của người dân, xét trên cả khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường. Theo đó, nông dân phải
là nhân vật trung tâm, người được hưởng lợi trước tiên từ những thành quả của quá trình phát
triển. Nội dung của phát triển nông thôn bền vững bao gồm 4 quá trình: Công nghiệp hóa, hiện
đại hóa; Đô thị hóa; Kiểm soát dân số; Bảo vệ môi trường sinh thái.Có thể nói về thực chất của
công cuộc chấn hưng đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là phát triển nông thôn
bền vững với 4 quá trình đó.Trong quá trình phát triển nông nghiệp bền vững (bao gồm trồng
trọt, chăn nuôi, trồng rừng, nuôi trồng, đánh bắt hải sản), yếu tố đầu tiên và căn bản là nông sản
phải đảm bảo 4 yêu cầu:
Chất lượng sản phẩm phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị trường, trước hết
việc điều hành hoạt động kinh tế của các HTX phải do những nhà quản trị chuyên
nghiệp (được đào tạo và trả công xứng đáng theo giá cả sức lao động trên thị trường)
đảm trách.
Sản xuất theo hợp đồng (Contrac farming) giữa các trang trại và doanh nghiệp chế
biến, tiêu thụ nông sản, trên thị trường trong và ngoài nước, cũng như các doanh nghiệp
du lịch sinh thái, phải trở thành hình thức giao dịch buôn bán nông sản phổ biến và chủ
yếu. Doanh nghiệp kinh doanh chế biến, tiêu thụ nông sản và du lịch nông thôn phải là
lực lượng nòng cốt tổ chức lại nền nông nghiệp hàng hóa của đất nước.
Những mô hình sản xuất kể trên là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng,
hiệu quả của sản xuất nông nghiệp - cơ sở của sự phát triển bền vững đối với một nước có mức
bình quân diện tích trên nhân khẩu thấp như nước ta. Từ thực trạng phát triển nông nghiệp,
nông thôn nước ta trong thời gian qua, Muốn thực hiện được mô hình sản xuất nói trên có thể
đưa ra một số kiến nghị về phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững như sau:
1. Hoàn thiện quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn.Cần coi trọng công
tác quy hoạch nhằm đảm bảo sản xuất nông nghiệp theo đúng quỹ đạo đã xác định, tránh tình
trạng sản xuất theo phong trào, khó kiểm soát. Trong công tác quy hoạch (ngành hoặc vùng)
cần đặt rõ yêu cầu phát triển kinh tế phải gắn với phát triển xã hội, phát triển con người, bảo vệ
và cải thiện môi trường sinh thái. Mặt khác, công tác quy hoạch phát triển kinh tế xã hội nông
thôn cần gắn với quá trình đô thị hóa, trong đó đặc biệt coi trọng quy hoạch sử dụng đất. Bởi vì
việc phân bổ sử dụng đất vào các mục đích khác nhau có liên quan trực tiếp đến mối quan hệ
giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường
2. Đổi mới và hoàn thiện chính sách, nâng cao vai trò pháp luật.Cần có các chính
sách thích hợp nhằm huy động được toàn thể dân cư nông thôn và các nhà đầu tư đô thị tham
gia đóng góp phát triển kinh tế xã hội nông thôn và bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn. Cần
coi việc bảo vệ và cải tạo môi trường sinh thái nông thôn là trách nhiệm của toàn xã hội, trong
đó có trách nhiệm của khu vực đô thị, ví dụ trách nhiệm về xử lý chất thải, trách nhiệm bảo vệ
tài nguyên thiên nhiên v.v.
Tăng cường vai trò và nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước, đi đôi với
nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người dân. Muốn vậy, phải nâng cao vai trò của
luật pháp trong công tác quản lý nhà nước, bởi vì chỉ có luật pháp mới có thể điều chỉnh
cần tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản như:
Đầu tư sử dụng các giống có khả năng kháng bệnh và sâu rày.
Áp dụng các biện pháp canh tác tiên tiến như: luân canh cây trồng, cày sâu
bừa kỹ theo đúng yêu cầu kỹ thuật, tưới tiêu nước theo khoa học, sử dụng phân hữu cơ,
phân vi sinh.
Sử dụng rộng rãi các chế phẩm sinh học.
Giảm dần mức sử dụng hóa chất. Trong điều kiện hiện nay khi chưa giảm
được thì phaỉ sử dụng theo đúng quy trình (đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng).
Đầu tư cho hoạt động khuyến nông để nâng cao kỹ năng cho đội ngũ nông
dân hiện hữu theo nhu cầu của nông dân và thị trường nông sản, không phân biệt chủ
thể (tổ chức) hoạt động khuyến nông.
Tài trợ 100% kinh phí cho các đề tài khoa học kỹ thuật và kinh tế-xã hội
phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, không phân biệt chủ thể (tổ chức và cá
nhân) thực hiện các đề tài khoa học này.
.
7. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân nói chung và người nông
dân nói riêng, cũng như nâng cao vai trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước các cấp.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển bền vững:chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trên từng vùng sinh thái, vừa phù hợp với nhu cầu thị trường, vừa phải phù
hợp với điều kiện sinh thái tự nhiên, nhằm cho phép khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên
nhiên để phát triển kinh tế, nhưng cũng phải bảo đảm được các vấn đề xã hội và môi trường. Vì
vậy phải xác định giới hạn sản xuất hợp lý cho từng ngành và đánh giá sự tác động về mặt xã
hội và môi trường trong các phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
8. Xóa bỏ sự chênh lệch: quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa nông thôn phải theo mô
hình nhiều trung tâm trên các vùng sinh thái tự nhiên và nhân văn; mỗi trung tâm lại có nhiều
“vệ tinh”, kết nối chặt chẽ với nhau về kinh tế-văn hóa, xã hội, lịch sử và sinh thái. Mô hình
này cho phép tiến tới xóa bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn xét về mức sống vật chất
và tinh thần. Điều khác biệt chỉ còn là ở chỗ, mật độ dân số và các công trình xây dựng ở đô thị
cao hơn nông thôn, còn môi trường sinh thái tự nhiên ở nông thôn tốt hơn thành thị; nông thôn
có cảnh quan thiên nhiên thỏa mãn nhu cầu du lịch nông thôn của dân cư thành thị. Muốn vậy,