MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỂ CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI NGHE TRUYỆN CỔ TÍCH “ DÊ CON NHANH TRÍ” THEO HƯỚNG TÍCH HỢP - Pdf 26

trờng đại học s phạm hà nội
khoa giáo dục mầm non

bài tập nghiệp vụ s phạm
Đề tài:
một số biện pháp kể cho trẻ mẫu giáo 4 5 tuổi
nghe truyện cổ tích DÊ CON NHANH TRí
theo hớng tích hợp
Ngời thực hiện: Trn Th Kim Nhung
Sinh ngày: 11/05/1981
Lp i hc K7b - Qung Ninh

Ngi hng dn: PGS - TS Nguyn Th Nh Mai
Quảng Ninh, tháng 10 năm 2012
Mục lục
Phần một: PHN M U Trang
i. Lý do chon đề tài
II. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
III. Mục đích nghiêm cứu
IV. Khách thể và đối tợng nghiên cứu.
V. Nhiệm vụ nghiên cứu
VI. Phơng pháp nghiên cứu
VII. Phạm vi nghiên cứu
Phần hai: nội dung nghiên cứu
Chơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài
I. Cơ sở tâm lý của trẻ 4- 5 tuổi
1- Cơ sở sinh lý học
2- Cơ sở tâm lý học.
II. Cơ sở giáo dục học
1- Khai niệm về giáo dục tích hợp.
2- Quan điểm tích hợp trong giáo dục mầm non và tổ chức hoạt động cho trẻ

II. Nguyên tắc xây dựng biện pháp kể truyện cổ tích theo quan điểm tích
hợp.
III. Các biện pháp kể truyện cổ tích Cáo , Thỏ và Gà Trống theo quan điểm
tích hợp
IV. Thực nghiệm và phân tích kết quả thực nghiệm
1- Địa bàn, điều kiện thực và đối tợng thực nghiệm
2- Mục đích thựuc nghiệm.
3- Yêu cầu đối với thực nghiệm.
4- Các tiêu trí đánh giá
5- Tiến hành thực nghiệm
6- Phân tích kết quả thực nghiệm
Kết luận
Phần một: PHN M U
1. Lý do chọn đề tài:
Văn học là một loại hình nghệ thuật đến với trẻ rất sớm, ngay từ thuở ấu thơ,
những bài hát ru, ca dao đến với trẻ qua lời ru ầu ơ của bà mẹ, những bài ca ấy là liều
thuốc bổ tinh thần nuôi dơng tâm hồn trẻ thơ để sau này các bé lớn lên trở thành ngời
có ích cho xã hội. Lớn hơn một chút nữa các bé vui đùa, hoạt động chạy nhảy theo các
trò chơi ngẵn với các lời của những bài đồng dao và nghe những câu truyện cổ tích để
đựơc đi vào thế giới khác lạ đầy hấp dẫn trẻ thơ khiến các bé say mê không biết chán
các câu truyện cổ tích cũng nh những câu truyện ngắn hiện đại.
Lứa tuổi mẫu giáo là tuổi đang Học ăn,học nói Vì vậy chơng trình mẫu giáo
đã dành thời gian tơng đối nhiều để dạy thơ ca và kể truyện cho trẻ em, nhằm làm cho
ngôn ngữ của trẻ em phát triển một cách trong sáng và tốt đẹp. Thông qua hoạt động
này trẻ sẽ đợc tiếp xúc với những lời hay, ý đẹp, sẽ đợc giáo dục về mặt tình cảm, đạo
đức, nó bồi dỡng cho các bé tình yêu tha thiết đối với quê hơng đất nớc, đồng thời
cũng dạy cho các bé biết khinh ghét cái xấu, cái ác, biết khâm phục những con ngời
tốt. Vì vậy hoạt động văn học rất cần cho ngời nói chung và trẻ em nói riêng, bởi vì
văn học là một trong những phơng tiện hữu hiệu để phát triển toàn diện và làm giàu có
tâm hồn trẻ, là hành lang cho các em trên những chặng đờng đời.

Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học - Hà Nguyễn Kim Giang
Trong những bài viết này tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm ý nghĩa của
truyện cổ tích với giáo dục trẻ em. Đây chính là định hớng để chúng tôi phân tích các
tác phẩm cổ tích, làm cơ sở để chúng tôi xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
của mình.
- Về phơng pháp, biện pháp kể truyện chúng tôi nghiên cứu một số công trình
sau:
Đọc và kể truyện văn học ở vờn trẻ - M.K Bôgliuxpkaia và VeptSeptsenkô
dịch năm 1976. Trong công trình này tuy các tác giả không đa ra biện pháp kể truyện
cổ tích nhng họ đã đa ra các thủ thuật kể truyện, xác định thanh điệu cơ bản, ngữ điệu,
cách ngắt giọng, nhịp điệu, cờng điệu, cờng độ của giọng, t thế, nét mặt, cử chỉ giúp
cho giáo viên xác định và thể hiện tác phẩm một cách nghệ thuật.
- Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Thuỷ Giáo dục trẻ mẫu giáo
qua truyện và thơ đã đề ra các phơng pháp, biện pháp lọc, kể tác phẩm. Tác giả cũng
đề ra các kỹ thuật thể hiện tác phẩm và đặc viện theo tác giả thì giáo viên phải tìm
hiểu tác phẩm trớc khi đọc kể, phải xác định giọng điệu phù hợp với diễn biến tâm
trạng nhân vật, tuy không đi sâu vào từng thể truyện nhng đây cũng là cơ sở cần thiết
để chúng tôi xây dựng biện pháp kể truyện cổ tích.
- Trong giáo trình Tiếng Việt - Văn học và phơng pháp giáo dục - NXB Giáo
dục năm 1988 các tác giả đã đa ra các phơng pháp, biện pháp cho trẻ làm quen với văn
học nh:
+ Phơng pháp đọc và kể diễn cảm.
+ Phơng pháp đàm thoại.
+ Phơng pháp trực quan
+ Phơng pháp giảng giải.
- Cuốn Phơng pháp kể sáng tạo truyện cổ tích thần kỳ cho trẻ mẫu giáo -
PGS, TS Hà Nguyễn Kim Giang là tác phẩm đầu tiên nghiên cứu hoạt động kể truyện
dới góc độ thể loại. Trong quá trình kể truyện Tấm Cám tác giả đã đa ra các biện
pháp kể cụ thể , rõ ràng. Đây chính là định hớng để giúp chúng tôi xây dựng một số
biện pháp kể truyện cổ tích.

nắm vững tri thc về cốt truyện, về thanh điệu âm hởng cơ bản của tác phẩm và các thủ
thuật đợc vận dụng để truyền thụ và diễn đạt tác phẩm gây đợc ấn tợng sâu sắc giúp
trẻ ghi nhớ cốt truyện.
III. mục đích nghiên cứu:
- Dựa trên cơ sở lý luận của các khoa học liên ngành và thực tiễn, đề tài nhằm
xây dựng một số biện pháp kể truyện cổ tích Dê con nhanh trí cho trẻ 4 -5 tuổi theo
quan điểm tích hợp.
IV. Khách thể và đối tợng nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: Phơng pháp kể truyện cổ tích ở trờng mầm non.
- Đối tợng nghiên cứu: Một số biện pháp kể cho trẻ 4 - 5 tuổi nghe truyện cổ
tích theo hớng tích hợp.
V. NHiệm vụ nghiện cứu:
- Nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan để xây dựng
cơ sở lý luận của đề tài.
- Nghiên cứu thực trạng: Tìm hiểu thực trạng về kể truyện cổ tích Dê con
nhanh trí cho trẻ 4 - 5 tuổi theo hớng tích hợp ở một số trờng MN hiện nay.
- Xây dựng hệ thống các biện pháp kể truyện cổ tích chop trẻ 4 - 5 tuổi theo
quan điểm tích hợp.
- Tổ chức thực nghiệm những biện pháp đã đề ra.
VI. phơng pháp nghiên cứu:
1. Phơng pháp nghiên cứu lý luận: Tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài
nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận chung của đề tài.
2. Phơng pháp nghiên cứu thc tiễn:
- Phơng pháp quan sát: Dự và quan sát các tiết học kể truyện cổ tích cho trẻ 4 -
5 tuổi nhằm phát hiện thực trạng của hoạt động này.
- Phơng pháp điều tra bằng phiếu anket ( trên giáo viên mầm non): Sử dụng
phiếu anket để tìm hiểu nhận thức của giáo viên về cách tổ chức hoạt động kể truyện
cổ tích cho trẻ 4 - 5 tuổi theo quan điểm tích hợp.
- Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm về vấn đề nghiên cứu
- Phơng pháp thực nghiệm s phạm:

Nh vậy trẻ 4 -5 tuổi các chức năng và các bộ phận trong cơ thể hoàn thiện dần
đặc biệt là chức năng phối hợp động tác, hệ thần kinh tơng đối phát tiển do đó chức
năng phân tích tổng hợp của vỏ não tơng đối hoàn thiện. Đây chính là điều kiện tiên
quyết giúp các nhà nhà giáo dục đa ra các biện pháp đọc, kể tác phẩm mà cụ thể là
truyện thần thoại phù hợp với trẻ.
2. Cơ sở tâm lý học:
- Từ lọt lòng đến 6 tuổi là giai đoạn phát triển đầu tiên của cuộc đời nó có tầm
quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển chung của trẻ em.
- Trẻ 4- 5 tuổi có sự thay đổi hoạt động chủ đạo, sử dụng trò chơi đóng vai theo
chủ đề nhằm thoả mãn nhu cầu của trẻ em muốn đợc sống và làm việc nh ngời lớn,
hoạt động vui chơi sẽ đợc chuyển thành hoạt động chủ đạo. Tuy trẻ đã bắt chớc một số
hành động phối hợp với nhau trong sinh hoạt của ngời lớn, nhng việc vui chơi đó còn
mang tính chất của việc chơi một mình.
- Sự hình thành ý thức về bản thân còn gọi là ý thức bản ngã đợc nảy sinh khi
trẻ biết tách mình ra khỏi mọi ngời xung quanh để nhận ra chính mình, trẻ bắt đầu tìm
hiểu thế giới của chính con ngời và dần dần khám phá đợc mối quan hệ giữa ngời và
ngời. Theo các nhà nghiên cứu cho biết: hiện tợng gia tốc phát triển cũng diễn ra hết
sức mạnh mẽ trong lĩnh vực tâm lý và đặc biệt trong lĩnh vực phát triển trí tuệ. Trẻ em
đến trờng đã có một vốn tri thức, kinh nghiệm khá phong phú, trẻ em thu nhận những
kiến thức đa dạng nhiều hơn hẳn trớc và muốn trẻ tự mình khám phá, giải quyết các
tình huống xảy ra với mình. Chính vì vậy, dạy học theo quan điểm tích hợp nói chung
và cho trẻ em làm quen với tác phẩm văn học trong đó có truyện cổ tích theo quan
điểm này nói riêng rất phù hợp với đặc điểm tâm lý của trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển
con ngời mới trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
2.1. Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ:
- Ngôn ngữ là một trong những phơng tiện giáo dục toàn diện cho trẻ, nó bao
gồm cả sự phát triển về đạo đức, chuẩn mực hành vi văn hoá. Ngôn ngữ phát triển giúp
trẻ mở rộng giao tiếp, từ đó trẻ học đợc những điều tốt đẹp xung quanh mình, ngôn
ngữ phát triển giúp trẻ tiếp thu những giá trị phẩm mỹ trong thơ ca, truyện kể, đó là
nhng tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đầu tiên mà ngời lớn có thể đem đến cho trẻ ngay

đoạn này loại hình t duy của trẻ chủ yếu là t duy bằng hành động trực quan, gắn liền
với sự vật, đò vật mà hàng ngày trẻ tiếp xúc trực tiếp bằng hành động, đồng thời với
phát triển t duy bằng trực quan, mầm mống t duy từ ngữ lôgíc xuất hiện đã đạt tới ranh
giới của t duy trực quan hình tợng, nhng các hình tợng trong đầu trẻ vẫn còn gắn liền
với hành động vật chất bên ngoài.
- T duy của trẻ còn gắn liền với xúc cảm và ý muốn chủ quan, đặc biệt t duy của
trẻ còn bị tình cảm chi phối rất mạnh, thể hiện ở chỗ trẻ chỉ suy nghĩ về những điều
mà chúng thích và dòng suy nghĩ thờng bị cuốn hút vào ý thức của riêng mình.
- Những động cơ nhằm làm cho ngời lớn vui lòng và yêu mến cũng bắt đầu xuất
hiện và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy trẻ thực hiện những hành động tích
cực. Vì vậy việc giáo dục phát triển t duy cho trẻ ở thời điểm này giúp trẻ tích luỹ
biểu tợng bằng cách quan sát, tiếp xúc, va chạm với sự vật đồng thời rèn luyện các
giác quan để tăng cờng khả năng thu nhận những ấn tợng bên ngoài nhằm làm cho thế
giới biểu tợng của trẻ ngày một phong phú, đây cũng là điều kiện thuận lợi để cô giáo
kích thích hoạt động nhận thức tích cực của trẻ trong quá trình kể truyện thần thoại
cho trẻ, cô giáo nên cho trẻ vừa tiếp xúc, vừa nghe, vừa quan sát sự vật, hiện tợng một
cách đa dạng, tăng cờng thu nhận ấn tợng từ bên ngoài với các giác quan, làm cho thế
giới biểu tợng của trẻ ngày càng trở nên chính xác, Điều đó càng đòi hỏi giáo viên khi
tổ chức hoạt động làm quen với các tác phẩm văn học nói chung và kể truyện cổ tích
nói riêng cần phải có những biện pháp dạy học theo quan điểm tích hợp.
2.3. Đặc điểm xúc cảm, tình cảm.
- Trẻ mẫu giáo rất giầu xúc cảm, tình cảm, ở giai đoạn này trẻ phát triển tát cả
các sắc thái xúc cảm, trẻ phản ững với những ngời xung quanh, các sự kiện bằng các
sắc thái vui, buồn, giận, hờn. Qua lời nói, sự vận động và điệu bộ hành vi khá chính
xác, phù hợp với đối tợng, hoàn cảnh. Tình cảm trí tuệ của trẻ đã xuất hiện, qua truyện
kể trẻ thích thú lắng nghe và kể lại nội dung truyện một cách hứng thú, trẻ xúc động
thật sự đối với các nhân vật yếu ớt, bị ma quỷ tấn công, gtự hoàn thích thú muốn noi
gơng các nhân vật anh hùng, nhiều đối tợng mới lạ, động vật, chim muông, cây cỏ đều
gây sự tò mò ham hiểu biết đối với trẻ. Trẻ biết kể chuyện khi đến thăm vờn thú, bắt
chớc hành vi của khỉ, voi, gấumột cánh say xa, cùng với cái nhìn hồn nhiên ngây

2.5. Đặc điểm phát triển trí nhớ:
+ Chú ý: Xu hớng là sự tập trung t tởng vào một đối tợng xác định, chú ý là
quá trình tổ chức định hớng cho các hoạt động tâm lý khác: t duy, tởng tợng, xúc
cảm
- ở trẻ 4- 5 tuổi nhiều phẩm chất chú ý của trẻ đợc hình thành và phát triển
mạnh, do đó có sự tiếp xúc vơi nhiều dạng đồ vật, nhiều loại âm thanh, màu sắc, độ di
động khác nhau, kích thích phản xạ định hớng của trẻ, khối lợng chú ý của trẻ tăng lên
dới tác động của ngôn ngữ, nhất là các chức năng ngôn ngữ, trẻ gọi tên đò vật, tên câu
chuyện đợc nghe, đánh giá đợc hành vi của trẻ và hành vi của nhân vật trong chuyện
đã đợc nghe, đánh giá đợc hành vi của trẻ và hành vi của nhân vật trong truyện và sức
bền vững của chú ý đợc tăng lên, trẻ 4- 5 tuổi chú ý đợc khoảng 27 phút nếu đối tợng
hấp dẫn, chính vì vậy trẻ có thể vừa lắng nghe cô đọc, kể truyện vừa quan sát cô chỉ
vào tranh trong quá trình nghe cô kể và có thể lại đợc truyện.
+ Trí nhớ: Là quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm cá nhân dới hình
thức biểu tợng, nó bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn tái tạo trong óc cái mà con ngời đã
từng tri giác, từng suy nghĩ.
- Trí nhớ của trẻ ở độ tuổi này phát triển rất nhanh ở tất cả các quá trình trí nhớ,
trẻ ghi nhớ những dấu hiệu bên ngoài phong phú, đa dạng về hình dáng, thời giantrẻ
gìn giữ đợc thông tin mang tính chất trực quan, hình ảnh, nếu sự kiện đồ vậtcần nhớ
gắn liền với cảm xúc thì nhớ đợc lâu.Truyền đạt cho học sinh những kiến thức cơ bản,
giúp cho học sinh có khả năng tự tìm kiếm, xử lý, quản lý thông tin và dạy cho học
sinh biết vận dụng những kiến thức của nhiều bộ môn khoa học vào những tình huống
có ý nghĩa đối với trẻ, cũng tức là hình thành ở họ những năng lựuc thực tiễn. Nói
cánh khác học sinh cần phải tích hợp đợc kiến thức đã tiếp nhận đợc trong nhà trờng
đẻ giải quyết các tình huống đặt ra trong cuộc sống. Do vậy, càng ngày ngời giao viên
cần phải có năng lực cao. Phải biết vận dụng tất cả những điều đã biết để tổ chức quá
trình dạy học nhằm đạt đợc mục đích giáo dục trong giai đoạn mới.
- Trớc tình hình đó trào lu s phạm tích hợp xuất hiện và đợc các nhà khoa học,
các nhà giáo dục trên thế giới quan tâm.
- Theo dHainaut (Pháp) hiện nay tồn tại 4 quan điểm khác nhau đối với môn

năng lực đó, khoa s phạm tích hợp dự tính các hoạt động tích hợp trong đó học sinh
hc cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kỹ năng và những động tác đã lĩnh
hội một cách rời rạc. Nh vậy, ngay trong khái niệm này ông đã đề cập đến việc hình
thành ở trẻ những năng lực cần thiết giúp học sinh có thể giải quyết đợc tình huống cụ
thể trong học tập và trong cuộc sống sau này. Tuy nhiên để có thể nhìn nhận một cách
rõ ràng hơn về khái niệm giáo dục tích hợp, ngời viết xin trình bày quan điểm của một
số tác giả khác mà ngời viết thấy đúng đắn và dễ hiểu.
- ở Việt Nam trong cuốn Giáo dục Mần non- những vấn đề lý luận và thực
tiễn Trang 541- PGS TS- Nguyễn ánh Tuyết đã nhận định: Quan điểm tích hợp xuất
phát từ cách nhìn nhận thế giới tự nhiên, xã hội và con ngời nh một thể thống nhất. Nó
đối lập với cái nhìn chia cắt rạch ròi đối với sự vật và hiện tợng trong hiện thực, nó
phản ánh cái nhìn các đối tợng nh đặt cạnh nhau, tạo thành một chỉnh thể. Trong đó
không những các giá trị của từng bộ phận đợc bảo tồn và phát triển, mà đặc biệt là ý
nghĩa thực tiễn của toàn bộ chỉnh thể nó đợc nhân lên.
- Nh vậy giáo dục tích hợp là một quan niệm về quá trình giáo dục có mục đích,
có hớng, có kế hoạch do nhà giáo dục tổ chức và điều khiển nhằm hình thành cho ngời
bị giáo dục hoặc đợc giáo dục những phẩm chất, những năng lực chung để giúp cho họ
có thể giải quyết đợc tình huống, những hoàn cảnh mà trẻ gặp phải trong cuộc sống
hiện tại cũng nh trong tơng lai. Giáo dục tích hợp sẽ giúp cho ngời đợc giáo dục dễ
dàng hoà nhập vào cuộc sống, hoà nhập vào môi trờng xung quanh và làm cho quá
trình giáo dục tích hợp đó mang ý nghĩa thiết thựuc đối với mỗi cá nhân.
II. Cơ sở giáo dục học
1. Khái niệm về giáo dục tích hợp:
2. Quan điểm tích hợp trong giáo dục mầm non và tổ chức hoạt động cho trẻ làm
quen với tác phẩm văn học ở trờng mầm non.
2.1. Quan điểm tích hợp trong giáo dục mầm non.
- Đối với giáo dục mầm non thì vấn đề tích hợp lại càng cần thiết hơn bất cứ bậc
học nào, đó là do đối tợng của giáo dục mầm non là những trẻ em từ 0 - 6 tuổi, sự phát
triển tâm lý, sinh lý của các cháu mới ở giai đoạn đầu tiên của đời ngời, các chức năng
sinh lý và tâm lý còn cha phan hoá rõ rệt, chúng còn hoà quện vào nhau, do đó trẻ cha

cha thể lĩnh hội chi thức khoa học theo các môn học riêng biệt mà chỉ có thể tiếp thu
văn hoá theo các kiến thức mang tính tích hợp, trong đó các lĩnh vực văn hoá lồng
ghép, đan cài, hoà quện vào nhau theo chủ đề, chủ điểm hay đợc dùng để giải quyết
tình huống tích hợp nh trong cuộc sống thực vậy. Theo quan điểm tích hợp thì những
tri thức, kỹ năng về cuộc sống gần gủi xung quanh và tri thức tiền khoa học hay tiền
khái niêm - Theo Vgotxki là phù hợp nhất với trình độ phát triển của trẻ mầm non,
bởi lẽ những tri thức đó vốn mang trong mình tính tích hợp cao, có khả năng cung cấp
cho trẻ những kinh nghiệm sống phong phú về nhiều mặt.
- Giáo dục ở bậc mầm non theo hớng tích hợp đợc tiến hành theo các chủ đề,
chủ điểm ( chủ đề đối với mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ, chủ điểm đối với mẫu giáo
lớn) đó là những mảng về các sự vật, hiện tợng, sự kiện, các tình huống trong môi tr-
ờng xã hội và môi trờng tự nhiên mà trẻ sống trong đó.
- Giáo dục tích hợp nhìn nhận trẻ em nh một nhân cách trọn vẹn, mỗi đứa trẻ là
một chủ thể tích cực khàm phá thế giới xung quanh và cũng là một chủ thể tích cực
trong việc thiết lập mối quan hệ với mọi ngời. Chính vì vậy, các nhà khoa học cho
rằng: Đứa trẻ chỉ bộc lộ nhân cách của mình trong hoạt động và thông qua hoạt động.
Hiệu quả của hoạt động ấy phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu hứng thú của đứa trẻ cũng
nh phơng thức, cách thức làm việc của ngời lớn trong quá trình tổ chức hoạt động giáo
dục ở trờng mầm non cũng nh trong gia đình.
- Giáo dục tích hợp ở bậc mầm non sẽ tạo điều kiện, tạo cơ hội cho cô và trẻ,
cho trẻ và bố mẹ, giữa trẻ với nhau, cùng hợp tác cùng chia sẻ cùng làm việc và cùng
đi đến những kết hợp cụ thể, giúp cho đúa trẻ đợc phát triển về thể chất, về nhận thức,
về tình cảm xã hội, góp phần hình thành và phát triển nhân cách con ngời mới của thế
kỷ XXI.
- Các nhà giáo dục đã xây dựng những nội dụng giáo dục và đề ra các nguyên
tắc tổ chức hoạt động giáo dục theo hớng tích hợp, trong đó có nguyên tắc Phát huy
tính tích cực, chủ động của trẻ trong các hoạt động của giáo dục. Đây là một nguyên
tắc quan trọng bởi vì mục tiêu cuối cùng của vgiáo dục tích hợp là tạo ra những con
ngời năng động sáng tạo, tích cực tìm kiếm thông tin và tích cực trong việc vận dụng
những kiến thức, thông tin ấy vào cuộc sống. Tính tích cực của trẻ đợc biểu hiện ở

hội con ngời đợc diễn tả biểu đạt trong hình thức đa dạng phong phú. Có thể nói văn
học nh những bộ sách giáo khoa về cuộc sống, bởi nó đem đến cho trẻ những tri thức,
góp phần củng cố và mở rộng kiến thức, vốn hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh,
giúp trẻ khám phá ra những điều bí ẩn trong cuộc sống. Cũng qua văn học các hiện t-
ợng tự nhiên tởng chừng rất khó lý giải lại dễ ràng đợc trẻ chấp nhận Văn học nói về
thế giới loài vật, cỏ cây, hoa lá, mọi hiện tợng tự nhiên, vũ trụ mà trẻ nhìn thấy đợc và
cũng nói về những điều gần gũi trong môi trờng sống của tre nh làng quê, cánh đồng,
phiên trợ, lớp học, dòng sông, các hiện tợng tự nhiện nh sấm, ma. Bên cạnh đó, qua
văn học trẻ em cũng bắt đầu nhận ra có một xã hội ràng buộc con ngời với nhau trong
lịch sử và đấu tranh cách mạng, trong tình làng nghĩa xóm, tình cảm gia đình, tình
bạn, tình yêu đến với văn học trẻ đợc tìm hiểu và khám phá các mặt của đời sống, đ-
ợc thâm nhập vào thế giới bên trong con ngời vào các quá trình t duy, tình cảm. Nh
vậy có thể nói văn học nghệ thuật đồng nghĩa với quá trình Hiểu biết, khám phá và
sáng tạo.
Tác phm văn học là tác phẩm nghệ thuật dợc xây cất từ nghệ thuật ngôn từ nên
nó giàu tính thẩm mỹ, Biêlinxki đã nói Câi đẹp là điều kiện không thể thiếu đợc của
nghệ thuật, nếu không có cái đẹp thì không có và không thế có nghệ thuật, đó là một
định lý Văn học thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ của trẻ bằng việc phản ánh cái đẹp vốn
có trong thiên nhiên, đời sống. Không những thế cái đẹp trong hiện thựuc đi váo văn
học đã đợc nhân lên rất nhiều làm cho cái đẹp ấy càng trở nên lộng lẫy, lung linh
trong con mắt trẻ thơ, nhờ tiếp xúc với văn học trẻ không những chỉ nhận ra cái đẹp
của tác phẩm mà còn biết khám phá ra cái đẹp của thế giới khách quan, tìm ra cái đẹp
trong đời sống và đặc biệt năng lực thẩm mỹ của trẻ càng trở nên nhạy bén hơn.
Văn học rất giàu tởng tợng nhất là truyện cổ tích và truyện thần thoại, đây chính
là tiền đề cho mọi hoạt động sáng tạo giúp trẻ Biết khám phá, phát hiện ra cái mới
lạ, hình dung, ớc mơ ra cái sẽ có và mong muốn làm ra những điều tốt lành Đúng nh
LêNin đã nói: Trí tởng tợng là một phẩm chất vô cùng quý giá, trí tởng tởng vốn là
net đẹp trong tâm hồn trẻ thơ, làm đầy thêm tình cảm của tuổi nhỏ và chính văn học
đã kích thích cho trí tởng tợng của trẻ phát triển và bổ sung cho các em thêm những
hiểu biết khi trình độ nhận thức của các em còn rất non nớt trong thời thơ ấu, và quan

thức của các môn học khác vào hoạt động đọc, kể cho trẻ nghe và ngợc lại nó cũng
giúp cho việc tiếp thu các kiến thức trong lĩnh vực khác, điều quan trong khi đọc, kể
truyện cổ tích giáo viên phải biết khai thác các giá trị của nó để phát huy tính giáo dục
của truyện đối với trẻ.
3. Các hình thức dạy học ở trờng mầm non:
- Hiện nay chơng trình cải cách ở trờng mầm non, dạy học nói chung và cho trẻ
làm quen với tác phẩm văn học đợc tổ chức dới hai hình thức cơ bản:
+ Trong tiết học
+ Ngoài tiết học
- Tiết học trong chơng trình đổi mới còn gọi là hoạt động có chủ đích- học
tập, đây chính là hình thức bắt buộc cho cả lớp, thời gian quy định cho một tiết học th-
ờng là 15- 20 phút (Đối với mẫu giáo bé 3- 4 tuổi) nhng giáo viên có thể linh hoạt tuỳ
thuộc vào nhu cầu, hứng thú của trẻ mà có thể rút ngắn hoặc kéo dài thời gian của tiết
học. trong hoạt động chung này các kiến thức mang đến cho trẻ thờng theo hệ thống
nhất định
- Hình thức ngaòi tiết học bao gồm: hoạt động vui chơi (hoạt động chơi ở các
góc) hoạt động ngoài trời, hoạt động dạo chơi tham quan, hoạt động chiều, hoạt động
lễ hội
- Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học nói chung và kể cho trẻ nghe truyện cổ
tích Dê con nhanh trí noi riêng có thể tiến hành dới tất cả hình thức nh đã nêu trên,
dù tổ chức dới hình thức nào, giáo viên cũng pahỉ đảm bảo thựuc hiện các nhiệm vụ
giáo dục.
4. Một số phơng pháp dạy học ở mẫu giáo:
+ Phơng pháp dùng lời nói:
- Phơng pháp kể chuyện là một hoạt động đã có từ nâu đời. Ngời kể sử dụng
mọi sắc thái giọng của mình và các phơng tiện kể biểu cảm khác nhau làm cho tác
phẩm cất tiếng nói tạo cho tác phẩm một âm thanh tơng ứng.
- Khi trình bày môt tác phảm nghệ thuật, ngời kể truyền đạt lại những suy nghĩ
và tình cảm của tác giả. Nhiệm vụ của ngoì kể là giúp ngời nghe nhìn thấy cái đã
nghe, làm cho những bức tranh và hình ảnh tơng ứng nổi nên chân thực và đập vào

trong câu chuyện hay nói cách khác là nội dung tác phẩm. Cô giáo giảng bằng lời,
dùng lời kết hợp với đồ dùng trực quan, sử dụng lòi kết hợp với động tác cử chỉ minh
hoạ.
+ Phơng pháp sử dụng đồ dùng trực quan:
- Phơng pháp này không những gây hứng thú cho trẻ mà còn giúp cho trẻ củng
cố lại những kiến thức đã đợc nghe đợc học. Từ đó khắc sâu những ấn tợng nghệ thuật
cho trẻ, tuy nhiên đồ dùng dành cho trẻ mẫu giáo phải đảm bảo về kích thớc, bố cục
mầu sắc
- Sử dụng đồ dùng trực quan là phơng pháp luôn đi kèm với phơng pháp sử dụng
lời nói (đàm thoại, đọc, kể diễn cảm, giảng giả ) giúp trẻ tăng hứng thú khi làm quen
với các câu chuyện, bởi vì đặc điểm nhận thức của trẻ là trực quan bằng hình tợng cụ
thể. Nó còn rèn luyện khả năng quan sát, phát triển ngôn ngữ, làm giàu trí tởng tợng
của trẻ, tuy nhiên sử dụng cũng phải đúng lúc, đúng chỗ, tránh lạm dụng.
+ Phơng pháp trò chơi:
- Phơng pháp này có u điểm là gây hứng thú tích cực cho trẻ em, chúng tham
gia vào hoạt động một cách cao trào xúc cảm, do đó ít mệt mỏi hơn các buổi học khác,
nó nhằm hoàn thiện và củng cố những tri thức và kỹ năng mà trẻ nắm đợc trong các
tiết học khác. Trong quá trình chơi trẻ không chỉ tái hiện tri thức mà trẻ đã nắm đợc
trong các tiết học mà nhũng điều kiện chơi đòi hỏi trẻ phải cải biến những tri thức ấy.
Vì thế khi tái hiện những tri thức và kỹ năng trò chơi hoạt động sáng tạo của trẻ đợc
kích thích, muốn đạt đợc hiệu quả cao, cần hiểu rõ đợc việc hớng dẫn trò chơi có nghệ
thuật thích hợp với từng độ tuổi của trẻ, cô giáo phải hớng dẫn sao cho trò chơi trở
thành một hoạt động thích thú gần gũi với trẻ.
III. truyện cổ tích với giáo dục trẻ mẫu giáo:
1. Khái niệm về cổ tích
Theo duy danh nh ngha thỡ c cú ngha l c , tớch l du vt cũn li . Trc
Cỏch mng thỏng tỏm 1945, mt s nh nghiờn cu ó hiu truyn c tớch nh vy v
m khỏi nim ny ra rt rng , nú bao hm ton b kho tng truyn c dõn gian . Theo
t in vn hc thỡ truyn c tớch ny sinh t xó hi nguyờn thy , song phỏt trin
ch yu trong xó hi cú giai cp , ch chr yu ca nú l ch xó hi . Truyn c

nhn trong th gii riờng ca truyn c tớch . Cng t ú nú ri chiu mt ỏnh sỏng
c bit vo cuc i tm ti y kh au ca con ngi , thụi thỳc nim lc quan v
tim nng ca h tri dy . Truyn hp dn ngi nghe khụng phi bi li k m bi
chớnh th ỏnh sỏng k o , cú sc hp dn mnh m ú . Nh nh vn M.Gorki tng
núi : Truyn c tớch m ra trc mt tụi mt cỏnh ca nhỡn vo cuc i , trong ú
cú mt lc lng t do khụng bit s ang tn ti v hot ng , m c mt cuc
sng tt p hn.
2. ý nghĩa về chuyện cổ tích Dê con nhanh trí với giáo dục trẻ mẫu giáo.
- Truyện cổ tích có ý nghĩa rất lớn trong giáo dục trẻ mẫu giáo, trớc hết truyện
nói về thế giới động vật nên cung cấp cho trẻ một số kiến thức về môi trờng xung
quanh: Trẻ biết tên gọi, tập tính đặc điểm, tính cách, môi trờng sống, của một số con
vật nh: Dê, chó sói. Tất cả những kiến thức này càng thôi thúc trẻ tò mò, lòng ham
hiểu biết của trẻ, kích thích nhu cầu muốn khám phá thế giới của tự nhiên xung quanh.
- Không chỉ cung cấp cho trẻ những kiến thức về thế giới động vật, ở truyện cổ
tích Dê con nhanh trí còn giúp trẻ nhận ra một kinh nghiệm sống, đó là tính cẩn
thận, lòng dũng cảm và sự đề cao cảnh giác với những đối tợng xấu có ý điịnh hãm hại
ngời khác. Ca ngợi trí thông minh lòng dũng cảm của những ngời tuy nhỏ bé, hiền
lành mà chiến thắng đợc kẻ hung dữ, gian ác.
- Bằng biện pháp nghệ thuật nhân cách hoá, những con vật nh dê, chó sói, mang
tính cách nh một con ngời, biết nói tiếng ngời và sử dụng ngôn ngữ đối thoại một cách
linh hoạt. Một chú đê con vẫn còn đang bú mẹ, trớc khi đi kiếm cỏ ăn dê mẹ đã dặn dê
con ở nhà đóng chặt cửa không cho ai vào kẻo bị chó sói ăn thịt, khi bị chó sói dùng
hết các thủ đoạn lừa gạt hòng chờ dê con mở cửa sẽ ăn thịt nhng nhờ trí thông minh,
bình tĩnh và lòng dũng cảm của dê con đã lật tẩy đợc những thủ đoạn độc ác của chó
sói để tránh đợc khỏi gian kế của chó sói, thể hiện cho ta thấy đợc tính cách của một
con ngời thực sự, một đứa trẻ khôn ngoan, lanh lợi. Câu truyện là một sự phản ánh vô
cùng rõ nét và có thực về một xã hội với nhiều âm mu thủ đoạn lừa gạt, đa những ai
không có lập trờng vững chắc, nhẹ dạ cả tin, không nghĩ đến những hậu quả vô cùng
nghiêm trọng của những âm mu đen tối có thể đẩy con ngời vào nguy hiểm khôn lờng.
Qua ngòi bút hiện thực vô cùng tinh tế, sắc xảo tác giả đã đánh tiếng chuông báo động

động t duy đợc hoàn thiện đần và ở trẻ xuất hiện các câu hỏi Do đâu? Vì sao? Để
làm gì?
* Sự tiếp nhận mang màu sắc xúc cảm:
- Bản chất giàu xúc cảm, tình cảm cùng với cái nhìn hồn nhiên, ngây thơ trớc
cuộc sống, giúp trẻ nhanh chóng biểu lộ cảm xúc của mình khi nghe đọc, kể tác phẩm,
tẻ em rất nhạy cảm, rất dễ rung cảm nhũng điều mà ngời lớn thấy rất bình thờng, nhất
là đối thế giới thiên nhiên. Đay chính là khả năng giao cảm ở trẻ, trẻ có thể hoà mình
vào câu truyện theo lới vật ngã đồng nhất trẻ thấy mình là một nhân vật trong
truyện, hoà mình vào các tình tiết, các sự kiện trong chuyện. trẻ có thể thêm thắt vào
câu truyện, đửa ra các ý kiến của mình, biểu lộ sự tức giận hoặc xúc đông, đôi khi
chúng có thể khóc cảm thơng hoặc cời phá lên thích thú.
* Tiếp nhận với tởng tợng phong phú:
- Cảm xúc thẩm mỹ của trẻ mẫu giáo luôn luôn quan hệ chặtchẽ với hoạt động
tởng tợng, ở trẻ tởng tợng hoang đờng chiếm u thế, tuy nhiên nó hào quyện với tởng t-
ợng về cái thực. Thế giới tởng tợng và thế giói thực hoà quện trong t duy của trẻ và
chính tởng tợng là cầu nối giữa hai thế giói đó, trẻ thờng bị cuốn hút bởi những hình t-
ợng ngộ nghĩnh, đáng yêu của các nhân vật trong truyêh cổ tích thấy đợc mơ ớc của
con ngời trong cuộc sống đời thờng và hình dung ra hình ảnh của cuộc sống.
- Khi tiếp xúc với tỷuyện cổ tích trẻ mẫu giáo thờng dùng trí tởng tợng phối
hợp, trẻ không chỉ gán tình cảm và xúc cảm của con ngời cho sự kiện, hình tợng mà
còn sống với nó. Trí tởng tợng đợc trẻ vận dụng trong tiếp nhận văn học là để đi sâu,
mở rộng, và thanh lọc đời sống cảm xúc của mình và nhận ra cái mới trong các quan
hệ tởng nh khó gắn chúng lại với nhau, từ đó làm náy sinh khát vọng và kỹ năng sáng
tạo của trẻ.
- Khi đọc, kể chuyện cổ tích giáo viên cần hớng trí tởng tợng của trẻ vào chất
mơ tởng của cổ tích làm rung động ở trẻ những tình cảm thực, tạo ra cho trẻ một ấn t-
ợng mạnh mẽ với tác phẩm, chắp cánh cho những ớc mơ hồn nhiên của chúng càng
thêm bay bổng.
* Tiếp nhận ngây thơ và triệt để:
- Trẻ mẫu giáo luôn khát khao biết tất cả những gì xảy ra trong môi trwongf

rung động, đánh thức cái trẻ đã và đang có, phát huy những gì trẻ có và sẽ có, tức là
phải tổ chức cho trẻ tích cực hoạt động t duy. Khi kể chuyện cô cần cuốn hút trẻ vào
hoạt động tởng tợng, sau đó đặt ra hệ thống câu hỏi gợi mở nhất là các hoạt động
Chuyển vào trong để truyện tác động vào nhân cách trẻ biến thành nội dung nhân
cách bền vững.
- Nguyên tắc vừa sức: Theo lý thuyết về vùng phát triển gần của Vgôtxki vừa
sức không có nghĩa là tạo sự phù hợp với khả năng hiện có của trẻ mà có thể hớng tới
khả năng có thể đạt đợc cao hơn mức hiện có qua sự nỗ lực đánh thức tiềm năng của
trẻ nhờ các phơng pháp tích cực trong dạy học, thực hện nguyên tắc vừa sức phải chú
ý:
+ Đảm bảo tính s phạm trong kế hoạch đào tạo, có hệ thống từ đơn giản đến
phức tạp, những gì cần thiết cho sự phát triển đúng đắn năng lực của trẻ.
+ Phải lựa chọn tác phẩm và phơng pháp dạy học phù hợp với nhận thức tâm lý
tiếp nhận văn học và năng lực thể chất trí tuệ của trẻ. Tác phẩm phải đáp ứng nhu cầu
nhận thức, khám phá cuộc sống theo tinh thần nhân văn nhân đạo, có ý nghĩa là tác
phẩm phải giàu lòng nhân ái, ca ngợi con ngời, đứng về phía con ngời.
- Bảo đảm tính gợi cảm cho thẩm mỹ hấp dẫn: Tính gợi cảm thẩm mỹ thể hiện
ngay trong lời kể diễn cảm của cô, khi kể phải đảm bảo có hệ thống ngôn ngữ chuẩn
mực, trong sáng, gợi cảm, mợt mà, rõ ràng, biểu cảm giàu hình tợng. Tính gợi cảm
thẩm mỹ còn thể hiện ở phong thái phải đờng hoàng đĩnh đạc, ung dung, th thái, nét
mặt cử chỉ biểu lộ cảm xúc.
- Bảo đảm thống nhất các nguyên tắc phối hợp và các phơng pháp, biện pháp
trong quá trình cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học.
- Cô kết hợp hài hoà các phơng pháp để giờ học thực sự hấp dẫn, có tác dụng
đối với trẻ.
3. Các phơng pháp cơ bản khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học:
- Quá trình cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học chúng tôi quan niệm là bao
gồm hai quá trình s phạm:
+ Qua trình s phạm thứ nhất: Đọc, kể tác phẩm cho trẻ nghe.
+ Quá trình s phạm thứ hai: Tổ chức cho trẻ tự hoạt động nghệ thuật.

cô giáo phải hiểu sâu sắc tác phẩm, để đặt ra mục đích yêu cầu của hoath động, dựa
vào đó mà đa ra các biện pháp đọc , kể phù hợp.
3.3. Sử dụng các phơng tiện trực quan:
- Đây đợc coi là phơng pháp quan trọng trong giáo dục mầm non, do đặc điểm
t duy của trẻ chủ yếu là t duy trực quan hình tợng. Phơng tiện trực quan trong giờ kể
truyện văn học thể hiện trớc nhất ở ngôn ngữ hình thể của cô giáo, ngoài ra cần phải
sử dụng hình tợng trực quan nh tranh ảnh, con rối, mô hình để làm cho giờ học
thêm sinh động hấp dẫn.
- Việc sử dụng đồ dùng trực quan là phải mang tính thẩm mỹ và thể hiện đợc
tinh thần của tác phẩm.
3.4. Đa trẻ vào hoạt động văn học nghệ thuật:
- Thực chất của phơng pháp này là đa trẻ vào hạot động thực tiễn nghệ thuật đa
dạng, bằng cách đa trẻ vào tình huống và hành động văn học. Có thể coi đây là bớc đa
trẻ vào thực hành thể nghiệm nghệ thuật, biến chủ thể tiếp nhận thành chủ thể văn học.
Phơng pháp đa trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học con bao hàm nghệ thuật tạo
không khí văn chơng, chuẩn bị cho trẻ bớc vào cảm thụ tác phẩm. Cho trẻ làm quen
với tác phẩm văn học có ý nghĩa rất lứon đối với sự hình thành và phát triển toàn diện
nhân cách cho trẻ, do đó cô giáo phải biết kết hợp một cách linh hoạt các phơng pháp
để có thể hoàn thành tốt mục đích đặt ra.
Chơng II
Thực trạng kể truyện cổ tích Dê con nhanh trí cho trẻ 4 - 5 tuổi ở
MT S trờng mầm non theo quan điểm tích hợp.
i. khái quát thực trạng kể truyện cổ tích dê con nhanh trí cho
trẻ 4-5 tuổi theo quan điểm tích hợp ở MT S trờng mầm non.
1. Mục đích điều tra:
- Chúng tôi tiến hành thực trạng việc kể truyện cổ tích cho trẻ 4- 5 tuổi theo
quan điểm tích hợp để làm cơ sở thực tiễn cho đề tài.
2. Địa bàn điều tra:
- Trờng mầm non Trng An ụng Triu - Quảng Ninh
- Trng mm non Hoa Anh o ụng Triu Qung Ninh.

Th Huờ lớp chồi B1 trờng mần non Hoa Anh o)
Mỗi thể loại có một ý nghĩa đặc trng khác nhau cô giáo tìm hiểu kỹ thì mới
phát hiện biện pháp đọc và kẻ làm sao hấp dẫn trẻ, phát huy tính tích cực của trẻ, phat
huy trí tởng tợng của tre ( Cô giáo Nguyn Th Hu lớp mầm A trờng mầm non Bỡnh
Minh)
Biết tác phẩm ở thể loại truyện nhằm mục đích hiểu sâu hơn ý nghĩa, giá trị
tác phẩm để truyền đạt lại cho trẻ một cách đúng nhất gắn với cuộc sống gần gũi của
tre ( Cô giáo Nguyễn Thị Hơng lớp mẫu giáo B trờng mầm non Quan Lạn)
Vì muốn cho trẻ em làm quen với các thể loại truyện cho nên khi dạy trẻ tôi
thờng xuyên xem tác phảm đó thuộc thể loại truyện gì? ( Cô giáo Lê Phơng Dung tr-
ờng mầm non Ha Mi).
Tìm hiểu thể loại truyện giúp cho tôi nắm đợc ý nghĩa và từ đó có giọng kể
thích hợp với nhân vật cũng nh săc thái của truyện ( Cô giáo Lê Thị Hơng trờng mầm
non Trng An)=> Qua câu hỏi này cho thấy: 100% giáo viên đợc điều tra đều chú ý
đến thể loại truyện nhng nhiều giáo viên cha nhận thức đầy đủ ý nghĩa của việc này.
* Câu hỏi 2: Trẻ ở lớp chị có thích nghe kể truyện cổ tích Dê con nhanh trí
không? Vì sao?
Trả lời: 22/22 giáo viên trả lời là trẻ rất thích nghe -chiếm tỉ lệ 100%, trong đó
có 8/22 giáo viên không giải thích vì sao chiếm tỉ lệ 36,4%.
14/22 giáo viên (73,6%) cho rằng:
+ Truyện cổ tích Dê con nhanh trí có sự nhân cách hoá con vật có tính cách
của con ngời, sử dụng ngôn ngữ của con ngời - cho nên gây đqợc sự chú ý của trẻ.
+ Nội dung câu truyện hấp dẫn, cốt truyện đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu.
+ Diễn biến câu truyện hồi hộp, hấp dẫn với những tình tiết diễn tả lại cuộc đấu
trí giữa dê con và chó sói nên gây cho trẻ sự hấp dẫn, lôi cuốn.
+ Thông qua truyện Dê con nhanh trí trẻ hiểu thêm về loài vật xung quanh,
và học tập các nhân vật đức tính tốt, thông minh, phê phán tính độc ác.
=> Chúng ta thấy rằng trẻ mẫu giáo rất thích nghe kể chuyện cổ tích Dê con nhanh
trí và tất cả giáo viên đều nhận thức đợc điều đó. Đa số các giáo viên đều hiểu và
nắm đợc giá trị của truyện cổ tích đã đa đến và gây hứng thú đối với trẻ.

cho trẻ một số kiến thức ở những lĩnh vực khác qua nội dung tích hợp trong giờ dạy
nhằm phát triển ngôn ngữ và mở rộng vốn từ cho trẻ ( Cô giáo Phạm Thị Thu trờng
màm non Hoa Mai)
Nh vậy, các giáo viên mầm non đã có những nhất định về việc tổ chức hể
chuyện cổ tích theo quan điểm tích hợp, và một điều đúng tôi nhận thấy: Tất cả các ý
kiến đa ra đa phần là của giáo viên trẻ mới tốt nghiệp hoặc đã công tác trên 10 năm,
trình độ tơng đối đồng đều về quan điểm tích hợp trong truyện Dê con nhanh trí
cúng không hơn không kém nhiều, giáo viên trờng mầm non Trng An.
* Câu hỏi 5: Khi tổ chức kể chuyện cổ tích theo quan điểm tích hợp chị th-
ờng gặp những khó khăn và thuận lợi gì?
Trả lời:
- Thuận lợi:
+ Trả rất hào hứng với thể loại cổ tích và Dê con nhanh trí
+ Trẻ đã có sẵn về hình ảnh các con vật
+ Dễ tích hợp với các môn học khác nh: Môi trờng xung quanh, toán, tạo hình
- Khó khăn:
+ Tranh minh hoạ truyện còn thiếu, nếu có thì đã lâu, cũ và không đẹp, giáo
viên không có thời gian để làm.
+ Một số giáo viên giọng kể còn hạn chế nên khó thể hiện giọng các con vật
* Câu hỏi 6: Trong quá trình kể chuyện cổ tích Dê con nhanh trí theo h-
ớng tích hợp chị thờng dùng những biện pháp nào?
Trả lời:
- 18/22 giáo viên (81,8%) sử dụng biện pháp trực quan, dùng lời nói đàm thoại
giảng giải kết hợp với thực hành trải nghiệm, các cô giáo trờng mầm non Minh Châu
còn sử dụng bài hát, các cô giáo trờng mầm non Quan Lạn sáng tác văn vần khi kể.
- 2/22 giáo viên (9,1%) sử dụng biện pháp so sánh, nhân cách hoá kết hợp với
giọng kể mang yếu tố kích thích cổ tích trong câu chuyện, kể diễn cảm lồng ghép giáo
dục.
- 2/22 giáo viên (9,1%) sử dụng biện pháp đàm thoại trích dẫn dắt các câu hỏi
suy luận. Sử dụng tranh ảnh mô hình để minh hoạ trò chơi.

3. Việc tổ chức hoạt động kể truyện cổ tích Dê con nhanh trí theo quan điểm
tích hợp.
3.1. Trờng mầm non Trng An ụng Triu - Quảng Ninh:
- Về chuẩn bị: Giáo viên có chuẩn bị giáo án để dạy trẻ, trong giáo án thể hiện
rõ phần kiến thức, kỹ năng, thái độ, chuẩn bị tranh minh hoạ, khung cảnh diễn rối tay,
băng nhạc, đàn oócgan. Yêu cầu đa ra phù hợp với lứa tuổi cô chú ý đến việc rèn phát
âm và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, nhiều cô giáo chú ý xác định giọng và ngữ điệu của
từng con vật, câu hỏi đa ra phù hợp với nội dung chuyện và có tác dụng giúp trẻ suy
nghĩ để trả lời:
- Về tiến hành tổ chức hoạt động:
+ ổn định lớp
+ Cho trẻ chơi trò chơi ghép tranh: cho trẻ ghép những mảnh ghép thành bức
tranh chú dê con
+ Giới thiệu truyện: Cô chỉ vào bức tranh hỏi trẻ con gì đây? Chúng mình thấy
câu chuyện gì mà các con đã đựơc nghe có xuất hiện con dê không gì?
- à! con dê là nhân vật đã xuất hiện trong câu truyện Chú dê đen đúng
không? và hôm nay cô sẽ kể cho các con nghe một câu chuyện về chú dê nữa, đó là
truyện Dê con nhanh trí
+ Cô kể chuyện lầ một: kể diễn cảm, cho trẻ ngồi xung quanh cô, cô chú ý đến
ngữ điệu, giọng của nhân vật tuy nhiên giọng kể cần chậm và đột ngột tăng sức hồi
hộp hơn.
+ Kể diễn cảm lần hai: kết hợp tranh minh hoạ cô sử dụng đồ dùng dạy học một
cách hợp lý và linh hoạt nên trẻ rất thích thú.
+ Đàm thoại giảng giải nội dung:
- Cô vừa kể truyện gì?
- Trong truyện có những nhân vật nào? (một trẻ kể tên, còn một trẻ gắn từng
nhân vật nên bảng giúp trẻ nhớ tên và nhân vật trong truyện)
- Khi Dê mẹ đi ăn cỏ đã dặn dê con nh thế nào?
- Dê mẹ và dê con đã thống nhất giấu hiệu gì để dê con nhận ra mẹ về?
- Con vật gì đã nghe thấy câu chuyện giữa hai mẹ con dê và nó đã có ý định nh

Giáo dục trẻ biết trong xã hội có rất nhiều kẻ xấu với nhiều âm mu và thủ đoạn
độc ác vì vậy phải biết đề cao cảnh giác đồng thời có lòng dũng cảm mu trí để chống
lại những âm mu thủ đoạn đó.
=> Nhìn chung không khí lớp học sôi nổi, trẻ hăng hái phát biểu các cô giáo mầm non
C cũng đã chú ý đến nội dụng tích hợp nh: môi trờng xung quanh, âm nhạc, phát triển
ngôn ngữ, các cô giáo cha vận dụng nội dung tích hợp một cách triệt để đặc biệt là
môi trờng xung quanh âm nhạc, phát triển ngôn ngữ, có cô giáo cha chú ý tạo cơ hội
cho trẻ đợc nhận xét, nêu suy nghĩ, cha tạo điều kiện cho trẻ hoạt động các câu hỏi đa
ra cha thực sự khuyến khích t duy trí tởng tọgn của trẻ, cô cha bao quát đợc tất cả trẻ
trong lớp.
III. kết luận
1. u điểm
+ Về phía giáo viên:
- Giáo viên đã có những nhận thức nhất định về dạy học theo quan điểm tích
hợp. Các giáo viên đã tạo đợc không khí học tập vui chơi đối với trẻ có khẳ năng bao
quát lớp, thu hút đợc sự tập chung, chú ý của trẻ
- Một số giáo viên có giọng kể hay thể hiện đợc giọng điệu chung của tác phẩm
và giọng điệu của từng nhân vật
+ Về phía trẻ:
- Trẻ rất thích nghe truyện cổ tích và có hứng thú với giờ học và trả lời khá tốt
các câu hỏi cô da ra và biết bộc lộ cảm xúc của mình trong quá trình nghe kể truyện
2. Nhợc điểm:
- Giáo viên cha thực sự chú ý đến việc soạn giáo án và đò dùng học tập việc này
hoàn toàn mang tính thụ động
- Một số giáo viên cha đề ra những mụa đích yêu cầu cần đạt tới ở trẻ, có giáo
viên chỉ quan tâm đến việc kể sao cho thật hay chứ cha kết hợp hài hoà với các phơng
pháp, biện pháp khác. Một số giáo viên khác lại lạm dụng việc sử dụng đò dùng trực
quan mà cha thật sự chú ý đến vai trò của giọng kể diễn cảm
- Do không soạn giáo án cẩn thận nên trong nhiều tiết học hệ thống câu hỏi mới
chỉ chú ý khai thác nội dung tác phẩm mà cha chú ý đến việc làm nổi bật vẻ đẹp của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status