Luận văn tốt nghiệp
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
H
iện thực xung quanh có rất nhiều cái mà con ngời cha biết. Nhiệm
vụ của cuộc sống và hoạt động thực tiễn luôn đòi hỏi con ngời phải
hiểu thấu những cái cha biết đó ngày một sâu sắc, đúng đắn và chính xác hơn;
Phải vạch ra đợc bản chất và những quy luật tác động của chúng. Quá trình
nhận thức đó gọi là t duy.
T duy là một quá trình tâm lý thuộc nhận thức lý tính, là một mức độ
nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác, t duy phản ánh những thuộc
tính bên trong, bản chất, những mỗi liên hệ có tính quy luật của sự vật - hiện
tợng mà trớc đó ta cha biết. Quá trình phản ánh này là quá trùnh gián tiếp, độc
lập và mang tính khái quát, đợc nảy sinh trên cơ sở hoạt động thực tiễn, từ sự
nhận thức cảm tính nhng vợt xa các giới hạn của nhận thức cảm tính. Trong
những thao tác của t duy thì khái quát hoá là quá trình dùng trí óc để hợp nhất
các đối toựng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính,
những mối liên hệ, quan hệ chung nhất định. Nh vậy khái quát hoá là một
trong những thao tác cơ bản của t duy, giúp trẻ lĩnh hội trí thức một cách có hệ
thống - Nó đóng vai trò quan trọng trong việc chiếm lĩnh những khái niệm
khoa học ở trờng phổ thông.
Sự phát triển khả năng khái quát hoá của trẻ ở trờng mầm non là vấn đề
đợc các nhà tâm lý học và giáo dục học tập trung nghiên cứu, đặc biệt là đối
với trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) - chuẩn bị vào lớp 1.
Quan điểm giáo dục mầm non của nớc ta hiện nay họ đều cho rằng: Cần
phải sớm phát triển quá trình nhận thức, năng lực t duy cho trẻ. Đặc biệt là
thao tác t duy (Phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá, trìu tợng hoá). Bên
cạnh đó việc cung cấp và hình thành ở trẻ những biểu tợng về toán học nói
thật sự đã đạt đến mức cao nhất là trong hoàn cảnh hiện nay. Song song với sự
phát triển trí tuệ của trẻ với tốc độ nhanh cùng với những đòi hỏi của xã hội thì
việc làm quen với biểu tợng hình dạng để phát triển khả năng khái quát hoá
thông qua việc sử dụng hệ thống các biện pháp là có thể thực hiện đợc.
Vì những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn và thực hiện đề tài: "Một
số biện pháp khi cho trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) làm quen với biểu tợng về
Trờng Đại học Vinh - Khoa GDTH
Luận văn tốt nghiệp
hình dạng nhằm phát triển khả năng khái quát hoá" với mong muốn đóng góp
một phần nhỏ của mình vào lý luận và thực tiễn giáo dục mầm non ở Việt
Nam hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng một số
biện pháp cho trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) làm quen với biểu tợng toán học về
hình dạng nhằm phát triển khả năng khái quát hoá.
3. Khách thể nghiên cứu và đối tợng nghên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi)
3.2. Đối tợng nghiên cứu: Khả năng khái quát hoá của trẻ mẫu giáo lớn (56 tuổi) khi làm quen với biểu tợng hình dạng.
4. Phạm vi nghiên cứu: 50 cháu ở trờng mầm non Hng Dũng I - Tp.
Vinh - Nghệ An.
5. Giả thuyết khoa học: Nếu xây dựng đợc hệ thống các biện pháp khi
cho trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) làm quen với biểu tợng về hình dạng một cách hợp
lý sẽ phát triển tốt ở chúng khả năng khái quát hoá.
-Tháng 12 năm 2001 nhận đề tài.
- Tháng 01 đến tháng 02 năm 2002 viết đề cơng.
- Tháng 02 đến tháng 04 năm 2002 dự giờ ở lớp mẫu giáo lớn
và tiến hành thực nghiệm trên trẻ.
- Tháng 05 năm 2002 hoàn thành và nộp khoá luận tốt nghiệp.
9. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì đề tài gồm có 3 chơng.
Chơng I: Cơ sở lý luận.
Chơng II: Cơ sở thực tiễn.
Chơng III: Thực nghiệm s phạm.
Trờng Đại học Vinh - Khoa GDTH
Luận văn tốt nghiệp
Phần Nội dung nghiên cứu
Chơng 1. Cơ sở lý luận
1.1. Lịch sử của vấn đề
C
húng ta biết rằng sự phát triển t duy, các thao tác t duy trong đó có t duy
khái quát hoá là vấn đề dợc nhiều nhà tâm lý học để tâm nghiên cứu. Có
các quan điểm nghiên cứu về t duy của trẻ em.
Đại diện cho tâm lý học phơng Tây có J. PIAGET (1896 - 1980) là một
nhà tâm lý học Thuỵ Sỹ. Ông đã đề ra thuyết "Thao tác trí tuệ" và các giai
đoạn phát triển nhận thức của trẻ em. Ông cho rằng: T duy của trẻ phát triển
dung và biện pháp phát triển t duy dới ảnh hởng của luyện tập.
Trong tác phẩm "Tâm lý học nhận thức" Gbeuner - Nhà tâm lý học ngời
Mỹ đã nghiên cú khái quát hoá và vai trò của nó ở các mức độ khác nhau
trong hoạt động nhận thức: Từ tri giác đến t duy khái niệm - ông khẳng định: ở
trẻ em sản phẩm của quá trình t duy chính là các biểu tợng hình ảnh nhng ở
mức độ khác nhau.
Trong khi đó, các nhà tâm lý học Đông Âu và Liên Xô (Cũ) lại tiến
hành những nghiên cứu của mình theo 2 hớng chính:
Hớng 1: Nghiên cứu t duy là nghiên cứu quá trình phân tích - tổng hợp
đặc biệt là mối quan hệ giữa chúng và kết quả của nó là khái quát hoá - trìu tợng hoá.
Hớng 2: Nghiên cứu t duy nh là một hệ thống với các thao tác nhập vào
trong theo cơ chế nhập tâm.
Hai hớng trên trong tâm lý học s phạm đợc thể hiện trong hai loại
nghiên cứu dạy học cụ thể.
Trờng Đại học Vinh - Khoa GDTH
Luận văn tốt nghiệp
- Thuyết hình thành khái niệm: Những nhà nghiên cứu đại diện cho hớng này nh: D.N. Bogoia Vlenskyi, Na. Mentrinxlaia, L. Vzankov, Kalanova
Theo hớng nghiên cứu đó các tác giả cho rằng động lực quan trọng
trong việc phát triển trí tuệ của trẻ chính là sự nỗ lực tích cực vợt qua đợc khó
khăn gặp phaỉ trong quá trình lĩnh hội các tri thức mới.
- Thuyết hình thành các thao tác trí tuệ.
Đại diện cho thuyết này có các nhà tâm lý học: A.L. Leonchep, P.A.
Ganperin, D.B. Enkonhin, V.V. Đavuđôp
Theo hớng này các tác giả cho rằng: Cách thức quan trọng để phát triển
t duy của trẻ em chính là việc điều khiển các giai đoạn hình thành thao tác t
duy bằng con đờng chuyển từ ngoài vào trong.
bản chất thuộc tính đồng thời là thuộc tính chung cho một nhóm nào đó nhng
những thuộc tính giống nhau cha hẳn là thuộc tính bản chất. Việc tách những
dấu hiệu chung bản chất để liên kết các sự vật trên cơ sở loại bỏ các thuộc tính
bên ngoài không bản chất giúp trẻ lĩnh hội những khái niệm đơn giản, dễ ràng.
Nh vậy, khái niệm là sự phản ánh khái quát tòn bộ một nhóm các đối tợng giống nhau có dấu hiêu chung bản chất. Khái niệm không mang hình thức
cảm tính, mặc dù nó đợc xây dựng trên cơ sở cảm giác. Do đó khái niệm là sản
phẩm của t duy sáng tạo.
Khái quát hoá phản ánh những mối liên hệ, quan hệ qua lại giữa các sự
vật, hiện tợng xung quanh có tính quy luật. Khi đó từ ngữ đợc sử dụng trong
những trờng hợp này để khái quát hoá kinh nghiệm.
Theo quan điểm của tâm lý học thì nghĩa của từ trớc hết có sự khái quát
hoá, khái quát hoá dễ dàng nhìn thấy - đó là một hành vi đặc biệt của ý nghĩ.
Hiện thực khách quan đợc phản ánh trong cảm giác và tri giác trực tiếp.
Khái quát hoá là hành động tìm từ để biểu đạt sự hiểu biết, là hoạt đọng
mang ý nghĩa về mặt nhận thức. Nếu không có từ để biểu đạt hành động thì
khái quát hoá không có ý nghĩa về mặt nhận thức.
Trong quá trình khái quát hoá, dựa vào những dấu hiệu chung, vào vốn
từ ngữ, chủ thể t duy xác định đợc các sự vật - hiện tợng riêng lẻ, cụ thể phù
hợp với dấu hiệu chung đó. Vì vậy kết quả của quá trình khái quát hoá còn phụ
thuộc vào sự lĩnh hội từ ngữ.
Trờng Đại học Vinh - Khoa GDTH
Luận văn tốt nghiệp
Nh thế thì khái quát hoá không chỉ là sản phẩm của quá trình t duy mà
hơn thế - nó là sản phẩm của t duy ngôn ngữ mà kết quả của nó là sự lĩnh hội
nghĩa của từ, hình thành các khái niệm và hệ thống khái niệm mà khái niệm sản phẩm của qúa trình khái quát hoá trở thành phơng tiện của hoạt động t duy
cho phép con ngời ngày càng đi xâu hơn tìm hiểu, khám phá những bí ẩn của
tự nhiên.
quan cảm tính và xúc cảm mạnh.
Những dấu hiêu nào gây ấn tợng mạnh mẽ và đạp ngay vào mắt trẻ dễ
làm cơ sở dể trẻ hợp nhất chúng.
Một đặc điểm nổi bật khác nữa là khái quát hoá của trẻ chủ yếu là khái
quát hoá kinh nghiệm do đặc trng t duy của trẻ mẫu giáo là thao tác t duy tổ
hợp đơn giản. Trẻ dựa vào các biểu tợng đã có để liên kết và phân loại các đối
tợng theo nhiều dấu hiệu khác nhau. Trên cơ sở tích luỹ kinh nghiệm hoạt
động mà trẻ hình thành đợc những khái niệm.
Nh vậy, khái quát hoá của trẻ có đợc phải thông qua các thao tác t duy
gắn liền với ngôn ngữ nhng sự khái quát hoá của trẻ chủ yếu là khái quát kinh
nghiệm và mang tính phiếm hoạ nhanh.
1.2.3. Khả năng khái quát hoá và sự hình thành khái quát hoá ở trẻ
mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi)
Khả năng khái quát hoá xuất hiện khi t duy của trẻ phát triển đến mức
độ nhất định nào đó. Những kết quả của các nhà nghiên cứu tâm lý học cho
thấy: Khả năng khái quát hoá có từ 2 - 3 tuổi trên cơ sở so sánh các đối tợng
cùng loại và bằng cách trìu xuất và khái quát các đặc điểm đặc trng cho tất cả
các dối tợng đó. Khi quan sát các sự vật, hiện tợng xung quanh, trẻ thờng chú
ý đến các dấu hiệu bên ngoài, những nét trực tiếp đập vào mắt trẻ và trẻ khái
quát hoá theo những dấu hiệu bên trong của sự vật - nh thế thì cơ sở đầu tiên
để trẻ khái quát các sự vật - hiện tợng là đặc điểm bên ngoài. Đến 4 - 5 tuổi trẻ
bắt đầu chú ý đến thuộc tính bên trong, đến nguyên nhân bên trong của sự vật
- hiện tợng - lúc này nội dung t duy của trẻ thay đổi kéo theo sự thay đổi hình
thức t duy. Cùng với sự chuyển quá trình t duy từ "Bình diện bên ngoài" vào "
Bình diện bên trong" trẻ khái quát dựa vào các hình ảnh mà nó tri giác đợc.
Trờng Đại học Vinh - Khoa GDTH
Luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp
Trẻ dùng tên gọi khái quát để ký hiệu cho cả nhóm nh là một thể thống
nhất.
- Giai đoạn 4: Trớc khi thực hiện hành động phân nhóm các sự vật trẻ
đã biết gọi tên chung của một nhóm nhng trẻ sử dụng các từ thông qua các vật
cụ thể trong nhóm.
- Giai đoạn 5: Trẻ gọi tên khái quát của nhóm trớc khi xác định các vật
cụ thể.
Theo L.C. Vgôtxky, quá trình hình thành khái niệm của trẻ diễn ra theo
một dãy các giai đoạn.
+ Giai đoạn 5.1: Hình thành tập hợp.
Đây là quá trình liên kết các đối tợng riêng lẻ vào một nhóm và định
nghĩa chúng bằng một từ chung kết quả. Giai đoạn này chia làm 3 bớc:
- Bớc 1: Chọn và liên kết các đối tợng một cách may rủi.
- Bớc 2: Lựa chọn trên cơ sở các dấu hiệu không gian của các đồ vật.
- bớc 3: Đa đến khái niệm chung cho tất cả các đồ vật.
+ Giai đoạn 5.2: Hình thành khái niệm.
Tổ hợp trên cơ sở của một vài dấu hiệu liên kết. Có thể có 4 loại tổ hợp:
- Tổ hợp theo bất kỳ một dấu hiệu thay thế bên ngoài nào đó.
- Liên kết các đồ vật trên cơ sở của những dấu hiệu chức năng.
- Liên kết theo từng dấu hiệu, trong một vật thể có nhiều đồ vật đợc
liên kết theo những dấu hiệu khác nhau.
- Giả khái niệm (Bên ngoaì là khái niệm, bên trong là tổ hợp)
+ Giai đoạn 3: Hình thành khái niệm thực sự.
Trờng Đại học Vinh - Khoa GDTH
Luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp
- Theo vật liệu: Gỗ, nhựa, kim loại
- Theo loại, dạng đối tợng.
Tác giả còn nhấn mạnh: Trẻ mấu giáo thờng hớng vào các dấu hiệu đa
dạng khi khái quát các đối tợng. Mức độ khái quát mà trẻ đạt đợc phụ thuộc
vào:
- Trình độ quen thuộc của trẻ với sự đa dạng của vật đợc đa vào nhóm.
- Sự hiểu biết về từ mà nó khái quát đa vào nhóm.
Ngoài ra, một số tác giả phân loại theo cấp độ khái quát của trẻ.
Theo Matvâyeva, có 2 loại khái quát:
- Khát quát theo cấp độ cảm tính (Diễn ra sự biệt hoá các dấu hiệu cảm
tính).
- Khát quát theo cấp độ khái niệm (Phân biệt các dấu hiệu bản chất của
khái niệm).
Theo Vgôtxki và Saxarôp trong tác phẩm "T duy và ngôn ngữ", khái
quát đợc diễn ra theo mức độ:
- Khái quát hoá đơn giản: Là sự hình thành những tập hợp hình thức
liên kết các đối tợng trên cơ sở một đặc điểm ngẫu nhieen nào đấy. Tập hợp
này đợc gọi là hỗn chung vì các đối tợng không có mối liên hệ khách quan nào
cả.
- Khái quát hoá phức hợp: Là sự hình thành các khái niệm - tập hợp
trên cơ sở liên kết một dấu hiệu khách quan khác nhau (Liên kết theo dấu hiệu
cảm tính, theo dấu hiệu chức năng)
- Khái quát hoá khái niệm: Là sự khái quát trong đó các đối tợng đợc
phân loại và liên kết theo dấu hiệu cần thiết để xác định khái niệm sau đó tổng
hợp và đa chúng vào định nghĩa phù hợp.
Nh vậy có thể nói khái quát hoá của trẻ phụ thuộc vào kinh nghiệm hoạt
động, kinh nghiệm hình ảnh và vốn ngôn ngữ. Khi xem xét khái quát hoá theo
mức độ, theo loại dạng thì việc phát triển khái quát hoá cho trẻ 5 - 6 tuổi vẫn
Trờng Đại học Vinh - Khoa GDTH
Luận văn tốt nghiệp
Việc hình thành các biểu tợng về hình dạng thông qua sự tác động của
hệ thống các biện pháp thì trẻ dễ dàng khái quát hoá chúng theo những dấu
hiệu bản chất hay không bản chất. Từ đó trẻ phân biệt rõ dấu hiệu của đối tợng
và xác định rõ đói tợng riêng lẻ nhng có chung đặc điểm nào đó vào một nhóm
xác định. Trẻ khái quát hoá chúng bằng lời một cách hệ thống và logic
Chơng 2: Thực trạng của đề tài
2.1. Chơng trình hiện hành với nội dung hình thành biểu tợng hình
dạng cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi)
Trong cuốn "Chơng trình chăm sóc - giáo dục mẫu giáo 5 - 6 tuổi" ghi
rõ: Dạy trẻ biết chọn các khối (Khối cầu, khối trụ, khối vuông, khối chữ nhật,
có màu sắc, kích thớc khác nhau) Theo mẫu và theo tên gọi. Dạy trẻ phân biệt
Trờng Đại học Vinh - Khoa GDTH
Luận văn tốt nghiệp
khối cầu với khối trụ, khối vuông với khối chữ nhật qua các dấu hiệ bề mặt
bao khối, số lợng và hình các mặt của khối.
Nh vậy với nội dung của chơng trình đã đặt ra yêu cầu hình thành cho
trẻ khả năng khái quát khaí niệm về hình dạng trên cơ sở tách đợc dấu hiệu
chung đặc trng cho nhóm đối tợng. Trẻ chọn đợc các khối có màu sắc, kích thớc khác nhau theo mẫu hay theo tên gọi và đồng thời còn yêu cầu dạy trẻ biết
phân biệt các khối qua các dấu hiệu bề mặt bao khối, số lợng và hình các mặt
của khối. Vì lẽ đó mà việc sử dụng một số biện pháp khi cho trẻ làm quen với
biểu tợng hình dạng để phát triển khả năng khái quát hoá là hết sức cần thiết.
lĩnh hội đúng, chính xác. Qua 3 tiết dự giờ thì chúng tôi thu đợc kết quả sau:
Bảng 1: Bảng tổng hợp kết quả dự giờ:
S
Tên tiết dạy
Khái quát hoá trên cô
T
T
Giáo án
Khái quát hoá
trên trẻ
Cách thực hiện
KQH
Bằng
lời
KQH
KQH
KQH
KQH
Nhận biết, phân biệt
khối vuông khối chữ nhật
+
+
-
+
+
+
3
Ôn nhận biết, phân
biệt các khối: cầu, trụ, vuông,
chữ nhật
+
+
-
+
mặc dù hầu hết trẻ đã chọn đợc nhng trong quá trình chọn trẻ vẫn còn lỡng lự
và lúng túng.
Ví dụ: Yêu cầu cháu Trần Kim Oanh lấy khối cầu giơ lên và đồng thời
nói cả tên khối thì cháu cứ ấp úng đến khi cô giáo gợi ý: "Khối mà có các mặt
đều tròn thì đó là khối cầu" khi đó trẻ mới cầm khối cầu giơ lên. Hay cháu
Trần Quỳnh Anh cũng thế, cô yêu cầu lấy khối trụ và tên khối thì khi cô nói:
"Khối mà khi để ngang mà lăn đợc còn khi đặt thẳng đứng thì không lăn đợc"
lúc đó cháu mới cầm khối trụ giơ lên.
Sang tiết dạy "Nhận biết phân biệt khối vuông, khối chữ nhật" thì cũng
nh tiết dạy trớc, trong giáo án cô thể hiện rất rõ việc khái quát hoá bằng lời và
khái quát hoá bằng hành động nhng khi vào tiết dạy thì cô lại thiên về khái
quát hoá bằng hành động. Mặc dù vậy nhng trong phần luyện tập thì khả năng
lấy đúng khối của trẻ rất nhanh.
Ví dụ: Cháu Tô Hoài Thanh và cháu Nguyễn Xuân Bách khi cô yêu cầu
lấy khối vuông và khối chữ nhật thì các cháu cầm đúng ngay khối giơ lên và
còn diễn đạt đợc bàng lời:
Khối có 6 mặt và các mặt bằng đều bằng nhau là hình vuông thì đó là
khối vuông. Khối chữ nhật cũng có sáu mặt nhng 4 mặt dài hơn và 2 mặt ngắn
hơn.
ở tiết "Ôn nhận biết, phân biệt các khối: khối cầu, khối trụ, khối vuông,
khối chữ nhật" thì ở tiết này yêu cầu trẻ là phải chọn và gọi đúng tên khối, biết
phân tích những dấu hiệu cơ bản của khối hình học và so sánh đúng các khối
hình học, có nghĩa là trẻ biết khái quát hoá về các khối. Tuy nhiên ở tiết dạy
này thì trong giáo án cô giáo lại nghiêng hẳn về khái quát hoá bằng hành động
mà ít chú ý tới khái quát hoá bằng lời nên khi yêu cầu trẻ giơ khối hay qua trò
chơi "Về đúng nhà" thì trẻ giơ khối và chơi trò chơi rất tốt nhng khi hỏi cháu
giơ khối gì và về ngôi nhà mang khối gì thì cháu laị lúng túng và không trả lời
đợc. Hay yêu cầu trẻ so sánh khối cầu và khối trụ; Khối vuông và khối chữ
nhật cháu không trả lời đợc.
Trờng Đại học Vinh - Khoa GDTH
Luận văn tốt nghiệp
Biện pháp
í kiến lựa chọn
Tỷ lệ %
Đàm thoại, gợi ý
30
100
Luyện tập, thi đua
10
33.3
Làm mẫu, sd vật
chuẩn thị giác
20
66.6
Trò chơi
ra câu hỏi: "Vai trò của việc phát triển biểu tợng hình dạng nó ảnh hởng nh thế
nào đến khả năng khái quát hoá?". Sau khi phát phiếu điều tra thì chúng tôi
thu nhận đợc kết quả:
Bảng 3. Vai trò của việc phát triển biểu tợng hình dạng ảnh hởng đến
khả năng khái quát hoá.
Mức độ ảnh hởng
í kiến lựa chọn
Tỷ lệ %
Rất tích cực
30
100
Vừa phải
10
33.3
Không ảnh hởng
0
0
Trờng Đại học Vinh - Khoa GDTH
100
Vui chơi
30
100
Mọi lúc, mọi nơi
30
100
Các chị khẳng định: "Chỉ thông qua những hình thức trên thì khả năng
khái quát hoá của trẻ mới phát triển". Nhng sự phát triển đó không chỉ ngày
một ngày 2 là hình thành - là có kết quả đợc mà nó cần phải có một sự tác
động lâu dài cuả quá trình dạy học. ở ý kiến này thì các chị hiểu rất rõ về các
hình thức dạy học, qua các hình thức đó thì ở trẻ mới phát trỉên và hình thành
khả năng khái quát hoá.
Cuối cùng, để hiểu rõ hơn về cách lên lớp của các giáo viên nên câu hỏi:
"Nếu xây dựng tốt hệ thống các biện pháp khi cho trẻ làm quen với biểu tợng
hình dạng thì sẽ phát triển ở chúng khả năng khái quát hoá" mà chúng tôi đa ra
thì có 100% giáo viên lựa chọn ý kiến đúng. Điều này lại một lần na giúp
chúng tôi nhận thấy ở các giáo viên đều hiểu đợc vai trò của các biện pháp để
phát triển khả năng khái quát hoá khi cho trẻ làm quen với biểu tợng hình
dạng. Thế nhng trong quá trình lên lớp thì các biện pháp đó cha đợc sử dụng
một cách hợp lý. Chính điều này nó sẽ ảnh hởng không tốt đến khả năng khái
quát hoá của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi).