SKKN Một số biện pháp hướng dẫn trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi phối hợp màu nhằm phát triển khả năng cảm thụ màu sắc cho trẻ - Pdf 26

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN MỸ ĐỨC
TRƯỜNG MẦM NON ĐẠI NGHĨA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“Một số biện pháp hướng dẫn trẻ mẫu giáo 4-5
tuổi phối hợp màu nhằm phát triển khả năng
cảm thụ màu sắc cho trẻ”
Lĩnh Vực: Giáo dục mẫu giáo
Họ và tên: Nguyễn Thị Diệu
Giáo viên: Mẫu giáo 4 – 5 tuổi
Tài liệu kèm theo là đĩa CD
Năm học: 2013 - 2014
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
CHƯƠNG I . Lý do chọn đề tài 3
CHƯƠNG II : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4
1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
1.1 Một số quan điểm nhìn nhận về màu sắc của các lĩnh vực khác nhau
trong cuộc sống .4
1.2 Một số công trình nghiên cứu về vai trò của màu sắc đối với sự phát
triển của trẻ em 4
2 . Một số vấn đề chung về màu sắc 4
2.1 Màu sắc là gì ?
… 4
2.2 Phối hợp màu là gì ? 5
2.3 Cảm thụ màu 6
3 . Đặc điểm khả năng cảm thụ và thể hiện màu sắc của trẻ mẫu giáo
4-5 tuổi 8
4 . Một số phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình 9
CHƯƠNG III : THỰC TRẠNG VỀ VIỆC TỔ CHỨC CHO TRẺ SỬ
DỤNG MÀU SẮC VÀ KHẢ NĂNG TÔ MÀU CỦA TRẺ MẪU GIÁO

4-5 TUÔI VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 19
1 . Đề xuất một số biện pháp phối hợp màu và quy trình dạy trẻ 19
1.1 Một số biện pháp phối hợp màu theo mẫu nhằm phát triển khả năng
cảm thụ màu sắc cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4- 5 tuổi …………………….……… 19
1.2 . Thực nghiệm sư phạm 25
1.3 Kết quả thực
nghiệm 30
KẾT QUẢ SO SÁNH SỰ TIẾN BỘ VỀ KHẢ NĂNG CẢM THỤ VÀ SỬ
DỤNG MÀU SẮC CỦA TRẺ HAI NHÓM ĐỐI CHỨNG VÀ THỰC NGHIỆM
TRƯỚC VÀ SAU THỰC NGHIỆM 31
KẾT LUẬN 32
1 . Kết luận chung 32
2 . Kiến nghị sư phạm 33
3
CHƯƠNG I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Dựa trên quan điểm giáo dục toàn diện, trẻ em ở trường mầm non được
chăm sóc và giáo dục sao cho phát triển một cách hài hòa tất cả các mặt: đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và lao động. Năm yếu tố này không tách rời mà
được thực hiện đồng thời, có tác dụng bổ trợ lẫn nhau nhằm đạt được hiệu quả
giáo dục tốt nhất. Ta nhận thấy rằng để hình thành và phát triển nhân cách trẻ
thơ, một trong số những nhiệm vụ không thể thiếu là phát triển thẩm mỹ cho
trẻ.
Phát triển thẩm mỹ cho trẻ chính là giúp trẻ hòa mình vào nghệ thuật,
cảm nhận được cái đẹp và làm phong phú, thanh lọc tâm hồn trẻ, hướng trẻ
đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Cách tiếp cận nghệ thuật phù hợp
nhất với trẻ là vẽ. Hoạt động vẽ vốn là một nhu cầu không thể thiếu, gắn liền
với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ em, đặc biệt là trẻ mẫu giáo nhỡ
Đối với trẻ em, thế giới xung quanh vô cùng rộng lớn và đầy bí ẩn. Thế
giới ấy trong đôi mắt trẻ thơ là vô vàn những màu sắc kỳ diệu. Màu sắc của
cuộc sống là màu sắc của thiên nhiên hòa quyện với màu sắc tâm hồn các em.

Màu sắc là bí ẩn muôn đời mà con người luôn tìm cách để định nghĩa
và lý giải sự kỳ diệu của nó. Màu sắc đã trở thành đối tượng nghiên cứu của
rất nhiều ngành khoa học khác nhau trong cuộc sống. Trong lĩnh vực vật lý,
màu sắc đặt cơ sở cho khoa học ánh sáng màu theo thuyết ánh sáng của
Newton. Nghiên cứu về mắt và sự nhìn màu trong sinh lý học cũng được phân
chia thành một bộ môn khoa học chuyên biệt. Sự ảnh hưởng của màu sắc tới
các phản ứng tâm lý mang đến ngành nghiên cứu tâm lý màu sắc. Trong âm
nhạc, các nốt là sự hiện thân của các màu cơ bản và tổ hợp gam được nhìn
nhận như các hòa sắc trong hội họa. Ngoài ra, ngành mỹ thuật ứng dụng như
thiết kế đồ họa, quảng cáo, thời trang, nội thất… đã sử dụng màu sắc hết sức
triệt để và sáng tạo mang lại lợi ích kinh tế to lớn. Trong hội họa, những họa
sĩ thực sự là những “nhà màu sắc học” vì họ đã sử dụng chúng như một công
cụ đắc dụng để diễn tả cảm xúc về cái đẹp cũng như diễn tả cảm xúc tâm hồn
họ.
1.2 . Một số công trình nghiên cứu về vai trò của màu sắc đối với sự phát
triển của trẻ em.
Ở Việt Nam:
Các tác giả Bùi Thị Ngọc Dung , Lê Hồng Vân đã kết luận: trẻ mẫu
giáo 4-5 tuổi có khả năng lĩnh hội được đầy đủ 7 màu cơ bản và một số sắc độ
của màu, cùng với các màu trung gian (đen – xám – trắng) nếu việc giáo dục
cảm giác màu sắc cho trẻ được quan tâm một cách đầy đủ.
Các tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc, Phạm Hồng Nga đều cho rằng màu
sắc trong tranh vẽ của trẻ có quan hệ chặt chẽ và được quy định bởi yếu tố
tâm lý của trẻ qua hứng thú xúc cảm, tình cảm.
Nhìn chung, màu sắc là một vấn đề được rất nhiều nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu ngay từ những ngày đầu của nền văn minh nhân loại ở nhiều
6
lĩnh vực khác nhau. Những kết quả nghiên cứu đã cho thấy tầm quan trọng
của màu sắc đối với sự phát triển thẩm mỹ của trẻ. Nhận thức được tầm quan
trọng đó tôi mạnh dạn thực hiện đề tài nghiên cứu này với mong muốn thêm

nhiều sắc màu tương tác vơi nhau tạo nên. Ví dụ vàng tươi và tím là
hai sắc màu tương phản mạnh vì khi đặt chúng cùng nhau tạo cho ta
cảm giác cả hai đều nổi bật. Hoặc nâu trung bình và đen là hai sắc
màu tương phản yếu vì khi đặt chúng vào cùng nhau tạo cho ta cảm
giác không sắc màu nào nổi bật cả.
- Gam: trong hội họa, gam dùng để chỉ các cấp độ của màu. Ví dụ
“gam đỏ” chỉ chung các màu đỏ từ nhạt nhất đến đậm nhất.
- Tông: được dùng trong hội họa với nghĩa “loại”. Có hai cách dùng:
“tông đỏ” có nghĩa tương đương với “gam đỏ” chỉ chung các màu đỏ
từ nhạt nhất đếm đậm nhất. “Tông màu ấm” chỉ chung tất cả các màu
mang lại cảm giác ấm (đỏ, vàng, cam…). Tuy nhiên cách dùng thứ
hai chuẩn nghĩa hơn và được sử dụng phổ biến hơn.
2.2. Phối hợp màu là gì?
Động từ “phối màu” được sử dụng thường xuyên trong mỹ thuật, cả
trong ngành nghệ thuật trang trí lẫn nghệ thuật tạo hình. Vây, phải hiểu “phối
màu” như thế nào cho đúng?
Phối màu được hiểu theo hai nghĩa Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn
Như Ý, 2008: “Phối màu: 1. Pha trộn các màu tạo ra màu mới; 2. Sử dụng
màu sắc một cách hài hòa, thích hợp”.

Trong giới hạn của SKKN này, chúng ta sẽ hiểu động từ “phối màu”
với ý nghĩa thứ hai là sử dụng màu sắc một cách hài hòa, thích hợp. Việc phối
màu là sắp đặt các màu cạnh nhau theo những tương quan nhất định để đạt
8
được hiệu quả về sự hài hòa. Qua việc tạo nên sự hài hòa cho màu sắc của
bức tranh, trẻ sẽ dần cảm nhận và hiểu được quy luật biến đổi của màu sắc, ý
nghĩa và tác dụng của các màu khi đặt cạnh nhau… Nhờ đó, trẻ có thể sáng
tạo với màu sắc, tiến đến làm chủ được màu sắc, sử dụng màu sắc như một
công cụ hữu hiệu để thể hiện cảm xúc, suy nghĩ, ước mơ của mình.
2.3 . Cảm thụ màu.

rối loạn chức năng võng mạc do yếu tố bẩm sinh hoặc di truyền sẽ kéo theo
những rối loạn về sắc giác.

* Yếu tố vật lý:
Ngành khoa học Vật lý về màu sắc chuyên nghiên cứu vấn đề này.
Màu sắc trong thiên nhiên luôn luôn biến đổi do ánh sáng không ngừng
biến đổi. Khi ánh sáng biến đổi, ánh sáng khúc xạ lên bề mặt của khí quyển
và sự vật cũng biến đổi theo. Vì vậy, những hình ảnh về màu sắc trong thiên
nhiên chạy qua mắt người rất nhanh. Hiện tượng này làm cho con người có
cảm giác hỗn hợp về màu sắc.
Thiên nhiên có được sự phong phú về màu sắc cũng như sự hòa sắc là
nhờ sự rọi sáng chung và các tia phản xạ trong không gian. Màu sắc của sự
vật sẽ thay đổi về độ sáng khi sự rọi sáng thay đổi. Cơ sở vật lý của độ sáng là
độ chói của bức xạ chiếu trực tiếp và bức xạ phản chiếu. Độ sáng tăng lên
mạnh thì những khác biệt về màu sắc của màu càng giảm xuống.

Yếu tố tâm lý:
Sự ảnh hướng của tâm lý cá nhân tới sự cảm thụ màu sắc thể hiện khá
rõ nét. Không phải ngẫu nhiên mà cùng đứng trước một cảnh tượng, một sự
vật mà mỗi họa sĩ lại có một bức tranh với các gam màu hoàn toàn không có
sự trùng lặp. Dù rằng màu sắc có tính chất sinh lý, phụ thuộc bởi các quy luật
10
về thị giác màu sắc nhưng sự cảm thụ màu sắc lại mang tính chất chủ quan,
mang đậm dấu ấn cá biệt của chủ thể cảm thụ.
- Sự cảm thụ màu sắc của trẻ là một thành tố của quá trình cảm thụ nghệ
thuật ở trẻ. Do đó, các tác động giáo dục phù hợp sẽ ảnh hưởng tích cực tới
khả năng cảm thụ màu sắc của trẻ. Bởi vậy, giáo dục có vai trò định hướng
cho sự cảm thụ màu sắc ở trẻ. Nhờ các tác động giáo dục mà sự cảm thụ màu
sắc của trẻ được định hướng phát triển thành sự cảm thụ thẩm mỹ về màu sắc.
Các tác động giáo dục cũng định hướng cho những xúc cảm, tình cảm thẩm

các màu khác nhau.
* Trẻ 4-5 tuổi:
Trẻ lứa tuổi này đã bắt đầu tập sử dụng “màu bắt chước” (màu tương
ứng với màu của sự vật có trong hiện thực). Trong quá trình học vẽ, trẻ loại
bỏ dần kiểu tô màu trang trí, bắt đầu biết nhận biết, phân biệt được màu sắc
thật của một số đồ vật, hoa quả như một dấu hiệu bắt buộc, như nét đặc thù
của mọi vật. Tuy nhiên, trẻ áp dụng vẽ bằng những màu có tính quy định bắt
buộc đó mà không cần quan tâm tới đặc điểm chiếu sáng, đặc điểm thời gian,
không gian trong hiện thực.
Cảm xúc vẫn đóng vai trò là một yếu tố có ảnh hưởng đến sự lựa chọn
bút màu ở trẻ: cái gì yêu thích thì tô vẽ bằng màu sáng, cái gì ghét hoặc sợ thì
thường tô màu tối.
Nhìn chung, khả năng cảm nhận của trẻ 4-5 tuổi đã có sự phát triển vượt
trội so với các lứa tuổi trước – nhờ vào sự phát triển mạnh của hoạt động nhận
biết. Trẻ 4-5 tuổi có khả năng nhận biết được các sắc thái của một số màu.
Một số ít trẻ đã có khả năng pha trộn màu để tạo ra màu mới. Tuy vậy, khả
năng thể hiện màu sắc vào tranh của trẻ còn hạn chế. Nhìn chung một gốc
thường được trẻ quy tụ lại ở một màu đại diện
12
. Ví dụ Màu xanh lá cây có nhiều sắc độ khác nhau, trẻ có khả năng nắm bắt
được các sắc độ đó trong quá trình tri giác, nhưng khi thể hiện trẻ thường vẽ
bằng một màu chung. Vì thế màu trong tranh của trẻ rất cô đọng, đơn giản và
mang sắc thái rất rõ rệt.
Hầu hết trẻ độ tuổi này vẫn chưa có khả năng pha trộn màu. Trẻ chỉ có
thể lựa chọn những màu sẵn có để tô. Hơn nữa, trẻ chỉ tô theo bảng màu bẹ
mà chưa biết chuyển nhiều màu trong một mảng.
Tóm lại, màu sắc trong tranh vẽ của trẻ mẫu giáo nói chung và của trẻ
4-5 tuổi nói riêng rất tươi, mạnh do trẻ thường sử dụng các màu cơ bản. Đặc
điểm này thể hiện rõ sự hạn chế trong khả năng cảm nhận và thể hiện màu sắc
của trẻ.

- Nhóm các biện pháp mang tính chất vui chơi (các biện pháp trò chơi):
Là các biện pháp tổ chức hoạt động tạo hình có sử dụng yếu tố trò chơi.
Đây là biện pháp phù hợp với lứa tuổi mầm non, lứa tuổi mà hoạt động
vui chơi là hoạt động chủ đạo.
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC TỔ CHỨC CHO TRẺ SỬ
DỤNG MÀU SẮC VÀ KHẢ NĂNG TÔ MÀU CỦA TRẺ MẪU GIÁO 4-
5 TUỔI
1. Khái quát điều tra thực trạng.
1.1. Mục đích điều tra.
Việc điều tra thực trạng về việc tổ chức cho trẻ sử dụng màu sắc ở các
hoạt động tạo hình và khả năng tô màu của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi ở các trường
mầm non nhằm nắm được tình hình thực tế. Từ đó có thể biết được mức độ
thực hiện nội dung giáo dục phát triển khả năng cảm thụ màu sắc cho trẻ đang
được thực hiện ở mức độ nào, khnn của trẻ đến đâu, trên thực tế có những
thuận lợi và khó khăn gì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục… Quan
trọng nhất, dựa trên kết quả điều tra thực trạng, chúng tôi có thể đưa ra những
14
biện pháp phối hợp màu theo mẫu phù hợp nhất với trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi để
đạt được mục tiêu phát triển khả năng cảm thụ màu cho trẻ.
1.2. Đối tượng điều tra và địa bàn điều tra.
Đối tượng điều tra của đề tài nghiên cứu là trẻ em mẫu giáo nhỡ 4-5
tuổi.
Địa bàn điều tra thực trạng là trường mầm non Đại Nghĩa – Huyện Mỹ
Đức – Thành phố Hà Nội
1.3. Nội dung điều tra.
* Những điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động vẽ cho trẻ:
- Về thiết bị
- Về môi trường hoạt động.
* Những nội dung phát triển thẩm mỹ cho trẻ trong chương trình giáo
dục mầm non hiện hành:

phẩm ở các hoạt động khác để phân tích, đánh giá đặc điểm nhận
thức, mức độ cảm thụ màu sắc và sở thích dùng màu của trẻ.
2. Một số tiêu chí đánh giá khả năng cảm thụ và sử dụng màu sắc của trẻ
4-5 tuổi trong hoạt động tạo hình theo mẫu.
Khả năng cảm thụ và sử dụng màu sắc của trẻ trong hoạt động tạo hình
theo mẫu được đánh giá qua mức độ nhận thức, qua quan sát quá trình trẻ
hoạt động thực tiễn cùng với việc phân tích tranh vẽ của trẻ.
2.1. Các tiêu chí đánh giá.
a.Nhận biết về màu sắc:
Trẻ nhận biết, phân biệt, gọi tên được các màu đỏ, da cam, vàng, lục,
lam, chàm, tím và các màu hồng, nâu, đen, xám, trắng (12 màu).
16

b. Phân biệt sắc độ của màu:
Trẻ biết sử dụng ngôn ngữ để diễn tả các sắc độ khác nhau của hai màu
chính: xanh – đỏ.
c. Hiểu khả năng biểu cảm của màu sắc, sử dụng màu sắc sáng tạo, thể
hiện thái độ, tình cảm:
Trẻ hiểu được tính biểu cảm của màu sắc trong tranh vẽ và có ý thực
lựa chọn sử dụng các màu sao cho phù hợp với nội dung thể hiện và cảm xúc
bản thân của trẻ.
d. Kỹ năng tô màu:
Trẻ có các kỹ năng tô màu cơ bản, tô theo một chiều hoặc xoay tròn, tô
từ ngoài vào trong hoặc tô theo một hay nhiều hướng khác nhau tùy theo hình
dáng của đối tượng, tô minh và không chờm ra ngoài nét vẽ.
e. Khả năng phối hợp màu sắc:
Trẻ có khả năng phối hợp màu sắc theo các cách tương phản hay tương
đồng, nóng – lạnh một cách hài hòa. Sử dụng linh hoạt phối hợp các biện
pháp phối hợp màu vào bức vẽ.
2.2. Thang đánh giá.

biết phối hợp màu sắc một các đơn giản, có cố gắng thể hiện tình cảm.
Loại yếu: Kỹ năng tô màu hạn chế, sử dụng màu ngẫu nhiên, không
phối hợp với nội dung miêu tả, không biết phối hợp màu sắc.
3. Kết quả nghiên cứu thực trạng.
3.1. Kết quả điều tra điều kiện cơ sở vật chất.
- Về trang thiết bị:
18
+ Bàn ghế cho cả ba độ tuổi bé, nhỡ, lớn có kích thước bằng nhau.
Không có giá vẽ cho mỗi trẻ mà trẻ đặt giấy trực tiếp lên mặt bàn
phẳng để vẽ.
+ Ở các lớp đều có bút màu sáp và màu nước. Tuy nhiên, trẻ được sử
dụng chủ yếu là màu sáp. Màu sáp được chia thành nhiều rổ. Trong
mỗi rổ có nhiều màu khác nhau. Tuy nhiên, các màu trong mỗi rổ
không đầy đủ sắc độ do trẻ thường mang màu từ rổ này sang rổ
khác và lấy hết màu mình thích từ tất cả các rổ màu. Điều đó gây
khó khăn cho việc thể hiện màu sắc ở trẻ. Màu nước, màu bột và
những loại màu khác trẻ rất hiếm khi được sử dụng do phương diện
vệ sinh và yêu cầu sử dụng các loại màu này tương đối phức tạp, đa
số trẻ không có kỹ năng sử dụng.
+ Giấy vẽ cho trẻ là giấy A4 trắng hoặc những giấy đã dùng một mặt
do phụ huynh cung cấp cho lớp.
- Về môi trường hoạt động:
Trẻ được vẽ trong lớp học . Trong đó, có thể nhận thấy chưa có sự quan
tâm đến việc tạo môi trường thẩm mỹ cho quá trình hoạt động tạo hình của
trẻ. Ở tất cả các lớp học đều có rất nhiều màu sắc. Tuy nhiên, những màu sắc
đó không tuân theo một quy luật nào cả. Đó chỉ là một tập hợp hỗn độn của
những màu sắc khác nhau. Ngoài ra, điều kiện cơ sở vật chất như tường đã
quá cũ, màu sơn bạc và quá nhiều đồ đạc khác nhau trong lớp học làm cho
không gian lớp bị bó hẹp, thiếu ánh sáng tự nhiên. Chính vì thế mà ở các lớp
đều phải bật đèn điện cả ngày, trừ giờ ngủ. Đó cũng là lý do quan trọng dẫn

nhận biết được sự thay đổi của thiên nhiên, của loài vật qua
màu sắc, hình dáng, bố cục.
+ Trẻ biết phân biệt và sử dụng các màu: đỏ, vàng, xanh, xanh lá
cây, da cam, nâu, tím, đen, trắng.
+ Dạy trẻ dùng màu để tô vẽ theo cảm xúc.
20
+ Dạy trẻ sử dụng các loại nguyên liệu khác nhau để vẽ và tô
màu như bút chì, bút dạ, bút lông, hoặc màu nước.
- Tài liệu “Hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mẫu
giáo 4-5 tuổi” chủ yếu tập trung vào đổi mới hình thành tổ chức hoạt động
trên cơ sở cấu trúc lại nội dung đã có (chương trình cải cách) theo các chủ
điểm nên về cơ bản không có sự thay đổi về nội dung giáo dục nói chung, về
nội dung giáo dục phát triển khả năng cảm thụ và sử dụng màu sắc cho trẻ
trong hoạt động tạo hình nói riêng.
Tôi đã sử dụng nội dung giáo dục phát triển khả năng cảm thụ và sử
dụng màu sắc cho trẻ trong các tài liệu trên làm căn cứ để xác định nội dung
và các yêu cầu cụ thể đối với sự cảm thụ, sử dụng màu sắc của trẻ nhằm giải
quyết vấn đề nghiên cứu trong đề tài này.
Cụ thể, tôi xác định nội dung đó là:
+ Dạy trẻ biết nhận biết, phân biệt, gọi tên màu.
+ Dạy trẻ biết phối hợp các màu sắc theo những mối tương quan nhất
định.
+ Nắm được một số tính chất của màu.
+ Dạy trẻ cách lựa chọn sử dụng màu.
+ Dạy trẻ kỹ năng tô màu.
3.3. Kết quả quy trình tổ chức hoạt động vẽ của trẻ (hoạt động tạo hình
theo mẫu)
Hoạt động vẽ trên tiết mẫu của trẻ được thực hiện theo trình tự như sau:
- Cô cho trẻ xem mẫu (tranh, ảnh, vật thật…) đa số là tranh mẫu của cô
(số liệu thống kê bảng 1)

một nét cong dưới có cùng điểm đặt bút và cắt nét cong trên ở phía cuối tạo
thành đuôi con cá. Cô vẽ một nét cong trái để tạo thành đầu con cá, vẽ một
hình trong nhỏ ở đầu cá làm mắt cá. Sau đó cô vẽ những chiếc vây, và những
chiếc vẩy cá. Cô tô mắt cá bằng bút màu đen, vì đây là con cá vàng nên cả
người con cá sẽ có màu vàng. Các con có thể vẽ thêm rong rêu và sóng nước
xung quanh con cá cho đẹp…
- Nhận xét đánh giá kết quả hoạt động của trẻ: Bức tranh nào vẽ và tô
màu giống cô nhất là đẹp nhất. Các bước của quá trình nhận xét kết
quả hoạt động của trẻ thương là: Treo tranh của trẻ lên, cô cho trẻ lựa
chọn bài mà trẻ thích nhất, giải thích tại sao thích, cho trẻ có bài vẽ
đẹp tự trình bày về cách vẽ và ý tưởng của mình, cô chọn một bài để
nhận xét, động viên khuyến khích các trẻ.
22
Ban đầu, khi cô cho trẻ xem tranh mẫu, trẻ tỏ ra rất hứng thú.
Trong quá trình đàm thoại, trẻ dễ dàng phát hiện ra những đặc điểm về hình
dáng và màu sắc của đối tượng. Khi bắt đầu vẽ, một số trẻ vẽ rất nhanh theo
mẫu của cô và bắt tay vào tô màu. Một số trẻ yếu hơn bắt chước các bạn xung
quanh để vẽ, sau đó lựa chọn màu theo ý thích. Một số trẻ khác không biết vẽ
ra sao và ngồi cắn bút rất lâu. Có trẻ nhận được sự giúp đỡ của cô, có trẻ được
bạn vẽ giúp. Tuy nhiên, khi bắt tay vào tô màu, trẻ chọn màu một cách bừa
bãi và kỹ năng tô màu của những trẻ này thường yếu. Đa số trẻ mất nhiều thời
gian cho việc vẽ nên còn rất ít thời gian để tô màu. Chính vì vậy mà rất nhiều
trẻ không hoàn thành bài vẽ của mình. Hầu hết trẻ chỉ vẽ xong mà chưa tô
màu xong
Bảng 2: Cách thức tổ chức hoạt động vẽ theo mẫu (% trên 10 giờ dự)
Số
TT
Nội dung Đặc điểm hướng dẫn
Số giờ
dự

cảm đặc trưng của vật qua các phương
tiện truyền cảm
80
20
23
3.4. Kết quả điều tra sự hiểu biết của giáo viên về tầm quan trọng của
việc dạy trẻ sử dụng màu sắc:
Đa số giáo viên mầm non đều cho rằng việc dạy trẻ sử dụng màu sắc
nhằm phát triển khả năng cảm thụ và thể hiện màu của trẻ cũng như phát triển
năng lực sáng tạo, thái độ thẩm mỹ của trẻ là rất cần thiết. Cụ thể có 60%
giáo viên được hỏi cho rằng việc phát triển khả năng cảm thụ và thể hiện màu
sắc cho trẻ mẫu giáo nhỡ là rất cần thiết, 40% còn lại cho rằng việc làm đó là
cần thiết, không ai cho rằng không cần thiết. Giải thích cho câu trả lời “rất cần
thiết”, đa số ý kiến cho rằng giáo dục thẩm mỹ là một nhiệm vụ ngày càng
quan trọng đối với trẻ, năng lực thẩm mỹ phát triển góp phần phát triển mọi
mặt trí tuệ, đạo đức, tình cảm, thể chất cho trẻ và góp phần quan trọng hình
thành nhân cách trẻ thơ. Giải thích cho câu trả lời “cần thiết”, các giáo viên
cho rằng không nên quá đề cao một nhiệm vụ giáo dục nào mà cần chú trọng
phát triển toàn diện tất cả các mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, lao động, tình
cảm cho trẻ. Vì thế họ cho rằng nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ chỉ dừng ở mức
“cần thiết” là hợp lý.
3.5. Về các nội dung giáo dục phát triển khả năng cảm thụ và thể hiện
màu sắc:
- Nội dung thứ nhất: Nhận biết, phân biệt, gọi tên màu: 100% các ý
kiến thường xuyên giáo dục trẻ nhận biết, phân biệt 7 màu trong quang phổ.
Thậm chí trẻ được dạy nội dung này ngay từ lứa tuổi nhỏ. Tuy nhiên, khi
được hỏi về việc dạy trẻ nắm được thứ tự các màu trong quang phổ thì các
giáo viên đều thừa nhận trẻ không thuộc theo thứ tự. Giải thích vấn đề này,
các giáo viên cho rằng không được áp đặt trẻ theo một khuôn mẫu nào cả, vì
thế chỉ cần dạy trẻ biết được các màu chứ không cần theo thứ tự. Điều này

25

Trích đoạn Kết luận chung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status