HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
CƠ SỞ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH MIỀN TRUNG
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN HỌC:
HÀNH CHÍNH PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI:
TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA CỦA XÃ HỘI DÂN SỰ VÀO
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Giảng viên hướng dẫn Học viên thực hiện:
TS. Hoàng Mai Phạm Thành Long
Lớp: Cao học quản lý công 17D
Thành phố Huế, tháng 6 năm 2013
LỜI MỞ ĐẦU
Sự ra đời và phát triển của xã hội dân sự hay tổ chức xã hội bắt nguồn từ bản
chất của phương thức tổ chức xã hội và từ đặc tính nhà nước không thể quản lý và
thực hiện thay cho công dân của mình tất cả mọi khía cạnh của đời sống xã hội. Tổ
chức xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay tồn tại dưới hai hình thức tổ chức, đó là
các tổ chức có thành viên và các tổ chức không có thành viên. Các tổ chức có
thành viên bao gồm: các đoàn thể quần chúng, các tổ chức hội, liên hiệp hội, liên
đoàn, các hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức nhóm tại cộng đồng. Các tổ chức
không thành viên bao gồm: các tổ chức nghiên cứu khoa học, tư vấn, đào tạo, xóa
đói giảm nghèo, các quỹ xã hội, quỹ từ thiện, quỹ phát triển, các tổ chức tín
ngưỡng, các nhóm tổ chức không đăng ký tư cách pháp nhân và các tổ chức phi
chính phủ nước ngoài.
Nhìn vào lịch sử phát triển kinh tế và chính trị, người ta thấy vai trò và trách
nhiệm của xã hội dân sự ngày càng tăng. Những nước tạo ra sự ổn định và phát
triển thời gian lâu dài đều có chung một bài học là xử lý tốt mối quan hệ giữa các
tổ chức chính trị - xã hội và xã hội dân sự trong quản lý nhà nước và hoạch định
các chính sách. Những nước không coi trọng mối quan hệ ấy hoặc có giải quyết
cần phải được ưu tiên trợ giúp tùy theo thực chất của từng tổ chức;
- Cần phải tiến tới tầm cỡ độc lập về mặt chính trị xã hội, và qua đó, các tổ
chức có một tiềm năng quan trọng phục vụ cho tiến trình phát triển dân chủ;
- Miêu tả vai trò các thành tố "dân chủ tham gia" như là một bổ khuyết cho
các cơ quan "dân chủ đại diện";
- Có khả năng tiến tới tầm cỡ toàn cầu thông qua việc kết nối với những tổ
chức XHDS khác trên thế giới.
2. Đặc điểm xã hội dân sự Việt Nam
Tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam thường được gọi với nhiều tên gọi khác
nhau, nhưng tên gọi được thừa nhận rộng rãi và thường xuyên sử dụng đó là đoàn
thể nhân dân, tổ chức nhân dân hay các tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội dân sự ở
việt Nam ra đời rất sớm, bởi lẽ: Do Việt Nam ở góc tận cùng phía Đông nam nên
thuộc loại văn hóa gốc nông nghiệp điển hình (không thuộc văn hóa gốc du mục),
là một quốc gia ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Á đông và phương thức sản xuất
châu Á, nơi mà nền sản xuất nông nghiệp lúa nước đã cố kết cộng đồng giữa các
thành viên trong xã hội cùng hành động vì mục tiêu chung xuất hiện trước khi nhà
nước Phong kiến ra đời. hình thức tổ chức xã hội của cộng đồng người Việt Nam
dựa trên mối liên kết dòng họ, đồng hương, đồng môn, đồng phường, đồng hội,
đồng sở thích…hoạt động trên cơ sở tự nguyện, tự quản lý, phi lợi nhuận xuất hiện
phổ biến và trở thành đặc trưng của xã hội Việt Nam truyền thống.
Lịch sử xã hội Việt Nam cũng cho thấy sự tồn tại và phát triển của xã hội dân
sự luôn song hành, bổ sung và hỗ trợ cho nhà nước, là bộ phận quan trọng không
thể thiếu được của thiết chế xã hội nói chung. Pháp luật của chính quyền nói riêng
và thể chế chính trị nói chung không phải lúc nào cũng điều chỉnh được các hành
vi của cá nhân và của cộng đồng địa phương, mà đó là các chuẩn mực do chính
người dân, cộng đồng dân cư xây dựng và xác lập nên. “Lệ làng” chính là những
quy tắc ứng xử được xác lập không phải bởi chính quyền mà bởi các tổ chức của
cộng đồng hay xã hội dân sự.
2. Nguyên tắc hình thành
Đối với nước ta hiện nay, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định
- Thứ năm, XHDS đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chính đáng của các thành
viên, đồng thời củng cố, bảo vệ và phát triển lợi ích cộng đồng.
3. Vai trò của xã hội dân sự
Với bản chất của nhà nước Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân
thì vai trò của xã hội dân sự đóng vai trò hết sức quan trọng, nó được thể hiện ở
một số khía cạnh như:
- Là cầu nối, kênh truyền tải tiếng nói của các tầng lớp nhân dân đến Nhà
nước;
- Có khả năng và điều kiện để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp và chính
đáng của các tầng lớp nhân dân;
- Tham gia trực tiếp vào các quá trình xây dựng đường lối, chính sách, pháp
luật, góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống nhà nước, hệ thống kinh tế;
- Tổ chức phản biện xã hội đối với những chủ trương, đường lối, chính sách,
góp phần làm minh bạch hóa đời sống xã hội và hệ thống nhà nước;
- Các tiềm năng và nguồn lực tự nhiên và xã hội được phát huy nhằm huy
động tối đa đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
4. Hoạt động của xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay
Ở nước ta các tổ chức xã hội dân sự đã phát triển khá mạnh mẽ kể từ những
năm 1990 sau khi Đảng ta thực hiện chính sách đổi đổi mới với trọng tâm là dân
chủ hoá mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội và xã hội hoá hoạt động cung cấp
dịch vụ công. Các hành động tập thể mà các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam
hướng tới bao gồm: bảo thọ, bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai, khuyến học,
đền ơn đáp nghĩa, hiến máu nhân đạo, ngày vì người nghèo, người tốt việc tốt,
thanh niên lập nghiệp, toàn dân xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc…
Hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam được đánh giá là có nhiều
đóng góp tích cực trong việc cố kết và động viên các thành viên trong xã hội cùng
với Nhà nước thực hiện có hiệu quả một số định hướng lớn của đất nước trong một
số lĩnh vực quan trọng như xoá đói giảm nghèo, xoá mù chữ, phòng chống HIV
Tuy nhiên, theo đánh giá chung, xã hội dân sự tại Việt Nam có cấu trúc rộng
nhưng không sâu, người dân thường là thành viên một tổ chức nào đó của xã hội
XHDS. Các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo và các NGO nước ngoài không thuộc cơ
cấu của XHDS.
- Mặc dù phải thừa nhận rằng, XHDS cần đến Nhà nước, đến hỗ trợ và bảo
trợ của Nhà nước và pháp luật, song ở Việt Nam, sự hỗ trợ và bảo trợ này khá lớn.
- Về phương diện pháp lý, đến nay vẫn chưa có những quy chế pháp lý mạnh
mẽ, thống nhất và cụ thể để “triển khai” nguyên tắc hiến định về quyền tự do lập
hội trên thực tế.
- Hoạt động của XHDS vẫn có biểu hiện chưa thực chất so với bản chất và
chức năng sẵn có.
PHẦN 2
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT NHẰM TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA
CỦA XÃ HỘI DÂN SỰ VÀO QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Với đặc điểm, vị trí, vai trò quan trọng của xã hội dân sự như đã nêu ở trên,
để quản lý đồng thời phát huy được vài trò tích cực của xã hội dân sự vào quản lý
hành chính nhà nước tôi xin đề xuất một số ý kiến như sau:
- Cần khẩn trương nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống, toàn diện các vấn
đề lý luận và thực tiễn của XHDS.
- Về tư tưởng, cần nhận thức rõ và có quan điểm đúng về sự tồn tại khách
quan và vai trò, chức năng to lớn của XHDS ở Việt Nam trong điều kiện phát triển
kinh tế thị trường, xây dựng NNPQ và dân chủ hóa đời sống xã hội.
- Các hình thức tổ chức xã hội dân sự là đa dạng và vô tận nên, cần mở rộng
và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân.
- Nhanh chóng bổ sung, hoàn thiện thể chế, khung pháp lý đồng bộ, hợp lý,
cần thiết để thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, đúng hướng và thuận lợi của các tổ
chức XHDS.
1. Phương hướng thực hiện trong thời gian tới:
a. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân
Cần tập trung hoàn thiện các chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội của
Nhà nước phù hợp với điều kiện phát triển KTTT định hướng XHCN và hội nhập
Nhà nước cần chủ động tạo ra những cơ chế cho việc thúc đẩy dân chủ trực
tiếp.
Nâng cao văn hoá dân chủ cho cả người dân và cán bộ, công chức nhà nước là
việc làm cần thiết trong bối cảnh xây dựng NNPQ XHCN hiện nay.
2. Những giải pháp chủ yếu
a. Nhóm giải pháp về nhận thức
- Một là, nâng cao nhận thức của Đảng, Nhà nước và người dân về vai trò của
NNPQ đối với XHDS.
- Hai là, nâng cao nhận thức về vai trò của XHDS đối với NNPQ XHCN.
- Ba là, nâng cao nhận thức của người dân và chính quyền các cấp về dân chủ,
về vai trò, vị trí của của các đoàn thể nhân dân, các hội, tổ chức phi chính phủ, các
cộng đồng công dân…
- Bốn là, giáo dục, nâng cao nhận thức về các quyền cá nhân và trách nhiệm
cộng đồng để người dân, cho các đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội…
- Năm là, nâng cao nhận thức của người dân về năng lực và tiềm năng của
mình trong việc thực thi dân chủ và tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước
và xã hội.
- Sáu là, việc nâng cao nhận thức của Đảng, Nhà nước và người dân về mối
quan hệ giữa NNPQ XHCN và XHDS có thể được thực hiện thông qua nhiều
kênh.
b. Nhóm giải pháp về thể chế
- Một là, xây dựng và hoàn thiện thể chế NNPQ XHCN.
- Hai là, xây dựng và hoàn thiện các khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động
của XHDS.
- Ba là, xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về chức năng giám sát, phản
biện xã hội của các tổ chức XHDS.
c. Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện
- Thứ nhất, mở rộng quyền tự do dân chủ của người dân.
- Thứ hai, hoàn thiện các qui định pháp luật về quyền tự do, dân chủ.
- Thứ ba, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế thực thi dân chủ.
đang góp phần vào việc thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. GS.TS. Dương Xuân Ngọc: Xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam, Nxb.
Chính trị - Hành chính, năm 2009.
2. PGS.TS. Lê Minh Thông: Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền
XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Nxb.
Chính trị quốc gia, năm 2011.
3. PGS.TS. Lưu Văn An: Mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và xã hội
dân sự ở Việt Nam hiện nay, năm 2012
4. Nguồn internet.