1
MUC LUC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................4
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊNH GIÁ CHUYỂN GIAO VÀ CHUYỂN
GIÁ Ở CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA. ............................................................7
1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài & hoạt động của công ty đa quốc gia....7
1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ................................................................7
1.2 Các công ty đa quốc gia (Multinational Corporations – MNC)....................9
2. Đònh giá chuyển giao...............................................................................10
2.1 Chuyển giao nội bộ trong các MNC...........................................................10
2.2 Đònh giá chuyển giao trong các MNC (Price Transfering).........................13
2.3 Nguyên tắc căn bản giá thò trừơng (Arm’s Length Principle) ....................15
2.4 Các phương pháp quy đònh về đònh giá chuyển giao ở các nước trên thế
giới đều dựa trên những hướng dẫn của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD) và từ những quy đònh trong cuốn Sách trắng (White paper) của Mỹ.18
3. Vấn đề chuyển giá ở các công ty đa quốc gia.......................................28
3.1 Khái niệm về chuyển giá ...........................................................................28
1.2 Tình hình hoạt động của các MNC tại TP.HCM ........................................51
1.2.1 Đánh giá kết quả kinh doanh và nghóa vụ thuế của các MNC............51
1.2.2 Tình hình kê khai lỗ của các doanh nghiệp FDI tại TP. Hồ Chí Minh 52
1.2.3 Một số nhận xét rút ra về vấn đề chuyển giá tại Việt Nam................56
1.3 Các trường hợp chuyển giá tiêu biểu ở TP.HCM.......................................60
1.3.1 Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lónh thò trường...............................60
1.3.1.1 Ở Công ty Coca Cola Chương Dương. ..............................................60
1.3.1.2 Chuyển giá ở P & G Viêt Nam .........................................................65
1.3.2 Chuyển giá thông qua việc chuyển giao công nghệ............................67
2. Những nguyên nhân tạo nên những đặc trưng của hoạt động chuyển
giá ở Việt Nam. ............................................................................................69
2.1 Môi trường pháp lý của Việt Nam liên quan đến vấn đề chuyển giá........69
2.2 Trình độ quản lý của các cơ quan hữu quan về thực trạng chuyển giá tại
Việt Nam...........................................................................................................72
3. Các chính sách chống hoạt động chuyển giá đã và đang áp dụng tại
Việt Nam.......................................................................................................75
3.1 Phương pháp so sánh giá thò trường tự do (CUP)........................................76
1.3.3 Phương pháp sử dụng giá thành toàn bộ để xác đònh thu nhập chòu thuế
.......................................................................................................................90
1.3.4 Một số phương pháp khác:...................................................................91
1.3.4.1 Phương pháp tỷ suất lợi nhuận (Rate of return method)...................91
1.3.4.2 Phương pháp chiết tách lợi nhuận (Profit Split Method)...................91
2. Các nhóm giải pháp hổ trợ khác liên quan đến hoạt động chuyển giá
tại Việt Nam.................................................................................................92
Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
4
PHẦN MỞ ĐẦU
Để phát triển nền kinh tế đất nước theo đường lối đổi mới, chúng ta càng ngày
càng thấy rõ hơn sự cần thiết phải tham gia vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế
và cạnh tranh quốc tế. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010 nêu rõ,
phải “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ mọi thời cơ để phát triển…
Trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, chú trọng phát huy lợi thế,
nâng cao chất lượng, hiệu quả, không ngừng tăng năng lực cạnh tranh và giảm
dần hàng rào bảo hộ “.
và vì vậy tôi chọn đề tài “các giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá tại các
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài“ cho luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
Mặc dù đã có một số báo cáo khoa học đề cập đến việc kiểm soát hoạt động
chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng trong luận văn
của mình tôi muốn trình bày hiện tượng chuyển giá dưới một gốc độ mới, trên cơ
sở đó đề xuất một số giải pháp cho việc kiểm soát thực trạng này ở các công ty
đa quốc gia.
Đề tài này được thực hiện trên cơ sở áp dụng nghiên cứu theo phương pháp duy
vật biện chứng và chủ nghóa duy vật lòch sử, đồng thời kết hợp phương pháp tổng
hợp, quy nạp, suy diễn, cùng với các phương pháp thống kê, phân tích các nguồn
dữ liệu trong và ngoài nước … tự do dự báo và làm rõ những vấn đề lý luận về
đònh giá chuyển giao trong chính sách thuế và chỉ ra được những ưu và nhược
điểm của phương pháp xác đònh giá thò trường.
Các nghiên cứu về chuyển giá trong luận văn này sẽ được xem xét trước hết
trên cơ sở lý thuyết về chống chuyển giá phổ biến hiện nay, sau đó sẽ được đối
chiếu, kiểm nghiệm qua các thí vụ thực tế trước khi khái quát thành các nhận
đònh làm cơ sở cho việc đưa ra các kết luận và các giải pháp xử lý cụ thể.
6
Trong khi thực hiện nghiên cứu để viết đề tài này, tôi nhận thấy tuy việc chống
chuyển giá đã được thực hiện hiện ở nhiều nước trên thế giới từ rất lâu nhưng
ngày càng khó khăn hơn do tính chất của các giao dòch ngày càng đa dạng và
phức tạp hơn. Nhất là trong điều kiện Việt Nam còn ở giai đoạn làm quen với
lónh vực này này thì tính chất phức tạp và khó khăn sẽ tăng gấp bội. Thực trạng
đầu tư nước ngoài ở nước ta, không chỉ xuất hiện dấu hiệu hoạt động chuyển giá
ở các công ty đa quốc gia có quy mô kinh doanh nhỏ và trung bình. Do đó trong
đề tài này sẽ dành một phần đi sâu vào phân tích tình hình Việt Nam dẫn đến
chính phủ và tổ chức quốc tế khác. Hiện nay FDI được xem là một giải pháp hỗ
trợ vốn cho các nước nghèo, và là thành phần không thể thiếu trong nền kinh tế
kinh tế hiện đại. FDI không những được sử dụng như một hình thức hợp tác kinh
tế mà còn được xem như là phương tiện quyết đònh cho sự phát triển của kinh tế
thế giới.
Khác với các loại hình đầu tư khác, FDI có các đặc trưng:
FDI không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư mà bên cạnh đó còn có cả
kỹ thuật, công nghệ, bí quyết công nghệ, năng lực Marketing, kinh nghiệm quản
lý… thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ.
Việc tiếp nhận FDI tạo điều kiện để phát huy tiềm năng kinh tế của nước tiếp
nhận đầu tư. Các công ty đa quốc gia thường đạt tới một giai đoạn mà sự phát
triển hạn chế tại nước của họ, sản phẩm bán ra giảm một cách đáng kể. Nguyên
nhân của vấn đề này có thể là do sự cạnh mạnh mẽ từ các nhà sản xuất khác
hay do sự thay đổi thò hiếu của con người. Như vậy việc đầu tư sản xuất ra nước
ngoài là giải pháp khả thi.
8
Sử dụng nguyên liệu nước ngoài rẻ tiền thay vì nhập khẩu nguồn nguyên liệu
với chi phí cao hơn rất nhiều lần, những nước chủ nhà có lực lượng lao động dồi
dào, nguồn la động rẻ, lao động có tay nghề.
FDI góp phần giải quyết công ăn việc làm, đẩy lùi nạn thất nghiệp và nâng
cao đời sống của người dân.
FDI góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng của nền kinh tế mà nguồn vốn trong
nước của các quốc gia đang pháp triển không đủ khả năng cung ứng.
FDI biểu hiện qua các hình thức:
100% vốn thành lập doanh nghiệp mới: đây là hình thức các công ty hay xí
nghiệp toàn hoàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá nhân và do bên nước ngoài
Các MNC là sản phẩm của sự liên minh giữa các nhà tư bản có thế lực nhất trên
thế giới.
Các MNC’s là những công ty có tầm cỡ quốc tế, có chi nhánh hoặc hệ thống chi
nhánh ở nước ngoài với mục đích nâng cao tỷ suất lợi nhuận thông qua việc
bành trướng thế lực quốc tế.
Các MNC’s phải hình thành từ công ty quốc gia, mang quốc tòch của một nước
và vốn chủ sở hữu của công ty mẹ thuộc các nhà tư bản nước đó.
Một MNC thường có cơ cấu tổ chức gồm hai bộ phận cơ bản là công ty mẹ và
một hay nhiều công ty con (subsidiary) hoặc chi nhánh (afficiate) ở nước ngoài.
nh hưởng của MNC thông qua FDI tại các nước tiếp nhận đầu tư:
- Số liệu thống kê cho thấy hơn 90% vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới là do
các công ty đa quốc gia – MNC’s (multinational Copration) cung cấp, với Việt
Nam cũng không phải là ngoại lệ khi chúng ta thấy có sự hiển diện của các
MNC như Coca Cola, Pespi, Nestle, Unilever, Ford, Mercedes Benz,… Cùng với
sự bành trướng ra khỏi phạm vi của chính quốc (home Country) bằng nguồn vốn
FDI, các MNC’s sẽ tạo ra một mạng lưới các công ty con (Subsidaries) trên
10
phạm vi toàn thế giới mà lẽ đương nhiên là giữa các công ty còn này với nhau
và với chính bản thân công ty mẹ ở chính quốc sẽ có các mối ràng buộc về
nhiều mặt mà trong đó sự ràng buộc về mặt kinh tế là quan trong và rõ ràng nhất
nhằm phục vụ cho mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của toàn bộ các MNC.
- Các lý thuyết quan trọng về các MNC đều chỉ ra rằng sự phát triển của các
MNC đều dựa trên lợi thế riêng biệt, độc quyền mà có. Rõ ràng khi các MNC đã
bành trướng hoạt động ra ngoài biên giới đòa lý của các quốc gia thì các giao
dòch trong nội bộ của một MNC sẽ tốn kém ít chi phí hơn là khi giao dòch trên thò
trường tự do. Điều này đạt được là do các giao dòch nội bộ có tính chuyên môn
Tuy nhiên chúng ta cũng có thể nhận dạng một số nghiệp vụ chuyển giao nội
bộ qua các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ qua các dòch chuyển về tài sản hữu
hình và vô hình, qua sự dòch chuyển nguồn vốn bằng cách thức đi vay hay cho
vay, qua sự cung cấp các dòch vụ tư vấn quản lý hay các nghiệp vụ, dòch vụ tài
chính khác. Bên cạnh đó có một yếu tố giao phức tạp ở các nước đang phát triển
xảy ra dưới hình thức phí lisence, tiền trả cho các dòch vụ tư vấn và quản lý hoặc
phí sử dụng bằng phát minh. Việc xác đònh mức giá hợp lý cho giao dòch này rất
khó cho cán bộ quản lý thuế Việt Nam. Và thực tế khu vực dòch vụ là nơi tình
trạng đội giá phổ biến nhất. Một phương pháp trốn thuế khác mà các MNC sử
dụng ở nơi có thuế quan cao là kê hóa đơn giá hàng nhập khẩu thấp. Sau cùng,
MNC có thể lợi dụng giá chuyển giao nội bộ để né tránh những quy đònh kiểm
soát hối hay việc chuyển vốn về nước.
Vì tính chất quan trọng liên quan đến chiến lược hoạt động của các MNC, các
nghiệp vụ chuyển giao nội bộ này có tính chất bảo mật và tập trung cao mà chưa
chắc các nhà quản lý trung cấp trong các MNC hay các nhà quản lý các công ty
con tại nước ngoài đã được tiếp cận. Vì lẽ đó nhiều nghiệp vụ chuyển giao nội
bộ có thể đã phát sinh trong thực tế theo chỉ thò của các nhà quản lý cao cấp nào
12
đó nhưng chúng ta lại chưa bao giờ được thể hiện bằng sổ sách, chứng từ hay nói
một cách khác sẽ tồn tại những giao dòch với quy mô cực lớn nhưng lại không
thể hiện bằng sổ sách, chứng từ hay nói cách khác sẽ tồn tại những giao dòch với
vi mô cực lớn nhưng lại không thể hiện dưới hình thức giá trò và do đó không cơ
quan thuế nào có thể đưa ra bằng chứng về hành vi chuyển giá của các MNC.
Các nghiệp vụ chuyển giá mang tính chất nội bộ của các MNC thường liên
quan đến các vấn đề sau:
- Sự dòch chuyển đáng kể khối lượng máy móc thiết bò, và nơi tiếp nhận là các
đầu tư tại hai nhà máy bia Foster’s ở Việt Nam đồng thời thành lập công ty
TNHH Foster’s Việt Nam để thực hiện nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm được các
chuyên gia tài chính cho là lách luật để thực hiện “chuyển giá” nội bộ nhằm
tránh nộp một phần thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào mặt hàng bia chai ở khâu
sản xuất.
Theo bình thường, giá tiêu thụ của các đại lý bia lý toàn quốc sẽ là giá bán
của nhà máy bia cho các đại lý cộng với 65% mức thuế tiêu thụ đặc biệt, Tuy
nhiên, việc thành lập công ty tiêu thụ riêng mặc dù cùng một chủ đầu tư sẽ tạo
điều kiện cho nhà máy sản xuất bia bán cho công ty tiêu thụ (nội bộ) với giá
thấp hơn so với các đại lý bên ngoài nhằm giảm mức thuế tiêu thụ đặc biệt đánh
vào sản phẩm này.
Không chỉ thế, chính quy mô mang tính toàn cầu của các công ty đa quốc gia
đã làm hình thành nên một mạng lưới các công ty con tại rất nhiều quốc gia trên
thế giới và tạo nên vô vàn những giao dòch phức tạp qua lại trong bản thân nội
bộ của từng MNC. Do đònh hướng sản xuất kinh doanh cũng như đặc điểm thò
14
trường hoạt động của từng MNC mà chúng ta thấy rằng ngày nay một sản phẩm
của các MNC có thể được thực hiện tại nhiều quốc gia khác nhau cũng từ đây
hình thành các hành vi chuyển giá tại các công ty này.
Ví dụ như sản phẩm điện tử của Philip (Hà Lan), sau khi nghiên cứu thò trường
Việt Nam, quyết đònh sản xuất Tivi Philip hiệu Smart được đưa ra tại đại bản
doanh công ty ở Hà Lan, bóng đèn hình do công ty con của Philip tại Hà Lan sản
xuất theo đơn đặt hàng từ Hà Lan, các linh kiện điện tử khác thực hiện theo đơn
đặt hàng tại Singapore và việc lắp ráp hoàn chỉnh Tivi Smart được thực hiện ở
Việt Nam tại công ty điện tử Vietronic Biên Hoà. Tivi Smart này có thể tiêu thụ
tại Việt Nam hay xuất khẩu sang thò trường EU phụ thuộc hoàn toàn vào hợp
Một trường hợp tương tự là các bên đối tác nước ngoài thường cố ý khai báo
cáo giá trò thật để nâng chi phí, góp phần làm cho các khoản lỗ tăng cao.
2.3 Nguyên tắc căn bản giá thò trừơng (Arm’s Length Principle)
Căn bản giá thò trường (ALP) là một chuẩn mực quốc tế do Tổ chức Hợp tác
kinh tế và phát triển (Organisation for Economic Co – Operation and
Depveloment – OECD) đưa ra, làm cơ sở để so sánh giá cả của hàng hoá, dòch
vụ trong một hoạt động thương mại diễn ra giữa các bên hoàn toàn độc lập –
không có sự liên kết.
Nguyên tắc căn bản giá trò trường là nguyên tắc quan trọng, cốt lỗi của tất cả
mọi vấn đề trong nghiệp vụ đònh giá chuyển giao và chuyển giá của các MNC vì
xuất phát từ nguyên tắc này, kết hợp với phương pháp đònh giá chuyển giao phù
hợp mà những nhà quản lý doanh nghiệp, những nhà hoạch đònh chính sách tài
chính của các chính phủ, cũng như cơ quan thuế và các bộ phận có liên quan
khác có thể kết luận MNC đang được xem xét là có thực hiện hành vi chuyển
giá hay không.
16
Khi các công ty hoàn toàn độc lập (không có sự liên kết) có quan hệ trao đổi,
mua bán với nhau, thì các điều kiện về thương mại và tài chính trong hợp đồng
kinh tế (giá cả hàng hoá, dòch vụ, điều khoản về tín dụng …) điều được đònh
hướng và chi phối bởi các tác động khách quan của thò trường. Ngược lại khi các
công ty có liên kết thực hiện quan hệ mua bán, trao đổi hàng hoá và dòch vụ, các
tác động thò trường không nhất thiết có ảnh hưởng đáng kể đến các điều khoản
thương mại và tài chính của hợp đồng và do đó sẽ chắc chắn có sự sai lệch, thiếu
khách quan trong quan hệ chuyển giao này. Các công ty được xem là có mối
quan hệ liên kết khi chúng là thành viên trong cùng một MNC.
Do đặc tính của căn bản giá thò trường phản ánh đúng bản chất của thò trường
lâu thì các MNC và các cơ quan thuế mới tìm được đầy đủ các thông tin phục vụ
cho việc áp dụng nguyên tắc căn bản giá thò trường.
Tuy có những hạn chế trên nhưng cho đến nay OECD và các thành viên vẫn
tiếp tục công nhận sự đúng đắn của nguyên tắc ALP trong việc xác đònh giá
chuyển giao giữa các công ty liên kết và các cơ quan thuế vẫn tiếp tục thừa nhận
sự cần thiết phải áp dụng nguyên tắc ALP trong các hoạt động mua bán trao đổi
hàng hoá và dòch vụ đặc biệt là khi các giao dòch vượt quá ranh giới đòa lý của
một quốc gia. Một sự chệch hướng nguyên tắc ALP trong đònh giá chuyển giao
các sản phẩm, hàng hoá và dòch vụ có thể tạo nên rủi ro cho MNC là phải chòu
đánh thuế trùng nhiều lần cho cùng một khoản thu nhập.
Cách trực tiếp tốt nhất để kiểm tra xem các quan hệ liên kết có tác động thực
sự lên chuyển giao giữa các công ty trong cùng MNC hay không là so sánh giá
chuyển giao giữa các công ty trong cùng MNC với giá cả trong các chuyển giao
có thể so sánh được giữa các công ty độc lập trong cùng những điều kiện tương
ứng. Tuy vậy trong thực tế hầu như chúng ta không tìm ra được các chuyển giao
tương ứng có thể so sánh được để trực tiếp áp dụng nguyên tắc ALP, do đó
chúng ta phải tìm những cách tiếp cận khác mang tính chất gián tiếp để vẫn có
18
thể sử dụng nguyên tắc ALP vào việc kiểm tra sự chuyển giá trong nội bộ MNC.
Bằng cách phân tích một cách hợp lý lãi gộp trong nhiều trường hợp chúng ta có
thể xác đònh các chuyển giao đang đề cập có tuân thủ nguyên tắc ALP hay
không?
2.4 Các phương pháp quy đònh về đònh giá chuyển giao ở các nước trên
thế giới đều dựa trên những hướng dẫn của tổ chức hợp tác và phát
triển kinh tế (OECD) và từ những quy đònh trong cuốn Sách trắng
(White paper) của Mỹ.
Phương pháp CUP so sánh với giá cả của các sản phẩm, hàng hoá dòch vụ hữu
hình và vô hình trong các chuyển giao liên kết và độc lập. Tuỳ vào giá cả dùng
để so sánh mà CUP có thể chia ra hai loại:
# Phương pháp CUP nội bộ:
Trong phương pháp này giá của sản phẩm hàng hoá và dòch vụ trong chuyển
giao giữa các thành viên trong cùng MNC được so sánh với giá của sản phẩm
hàng hoá dòch vụ tương tự mà một công ty thuộc MNC bán cho một công ty độc
lập trong một chuyển giao có thể so sánh được.
# Phương pháp CUP ngoài:
Là phương pháp mà giá cả hàng hoá, dòch vụ trong chuyển giao giữa thành
viên thuộc MNC’s được so sánh với giá cả của sản phẩm hàng hoá dòch vụ tương
tự trong một chuyển giao có thể so sánh được với một bên thứ ba.
Phương pháp này không có sự khác biệt trong các chuyển giao được đem ra so
sánh và các ảnh hưởng lên giá cả của bất kỳ sai biệt nào cũng đều có thể tính
20
toán được và có thể điều chỉnh được. Phương pháp CUP được xem là phương
pháp đònh giá chuyển giao trực tiếp và có độ chính xác cao so với các phương
pháp khác.
Để tuân thủ nguyên tắc căn bản giá thò trường (ALP), trong phương pháp CUP
cần phải thực hiện so sánh giữa giá chuyển giao nội bộ bên trong các MNC với
các giá có thể so sánh sau đây:
- Giá bán của một công ty thành viên của các MNC cho một cho công ty không
liên kết.
- Giá bán giữa hai công ty không là thành viên của MNC và hoàn toàn độc lập
với nhau.
- Giá bán của một công ty không liên kết cho một công ty thành viên của các
công ty thương mại hoàn toàn độc lập với một công ty con của các MNC và giá
này sau khi trừ đi một phần chiết khấu được coi là giá thò trường (ALP) trong
giao dòch mua sản phẩm của hai công ty con có quan hệ liên kết của MNC.
Phần chiết khấu này sẽ bao gồm chi phí bán hàng, các chi phí hoạt động liên
quan đến việc bán hàng cùng với khoản lợi nhuận tương ứng hợp lý dành cho
công ty thương mại này.
Công ty con thứ
1 có quan hệ
liên kết
Công ty con thứ
2 có quan hệ liên
kết
Công ty khách
hàng độc lập
Nghiệp vụ
Nghiệp vụ bán
Giá bán
(giá bán lại)
Giá mua
(giá ALP)
Phương pháp này thích hợp với các ngành thương mại, nơi tồn tại các nghiệp
vụ mua đi bán lại các sản phẩm hàng hóa. Tuy vậy khi sử dụng giá bán lại
chúng ta không thể lấy tỷ lệ lãi gộp bình quân của toàn ngành thương nghiệp để
xác đònh khoản khấu trừ này vì mỗi nghiệp vụ chuyển giao có tỷ suất lợi nhuận
biến động về tỷ giá, cũng như gia tăng rủi ro làm cho khó khăn trong việc xác
đònh khoản chiết khấu hợp lý.
23
Do điểm mấu chốt của phương pháp này là xác đònh khoản chiết khấu hợp lý
nên cũng như ở phương pháp CUP trên mà chúng ta không thể sử dụng một
khoản chiết khấu cố đònh cho mỗi loại hàng hóa mà phải căn cứ vào tính đặc thù
của nhóm hàng hóa và tiến hành các hiệu chỉnh phù hợp thực tế. Khi so sánh với
phương pháp CUP ta thấy ở phương pháp RPM không cần thiết bởi vì điều chỉnh
do sự khác biệt về sản phẩm đã được phản ánh trong giá bán lại.
c) Phương pháp chi phí vốn cộng thêm (Cost plus method)
Khi mà phương pháp CUP và phương pháp chi phí lại không thể áp dụng được
thì phương pháp giá vốn cộng thêm là (CPM) là phương pháp tiếp theo thường
được sử dụng đến.
Hoàn toàn không giống với các phương pháp trước, phương pháp chi phí vốn
cộng thêm xác đònh căn bản giá thò trường của các chuyển giao liên kết căn cứ
vào tổng giá vốn của chuyển giao gốc trong hoạt động thương mại được điều
chỉnh bổ sung một khoản nâng giá lợi nhuận thương mại, có tính sự tác động của
các loại tài sản và các rủi ro có liên quan. Khoản nâng giá này được tính sao cho
căn bản giá thò trường trong chuyển giao liên kết này cũng tương đương với giá
thò trường trong các chuyển giao một công ty trong MNC’s với một công ty thứ
ba hay giữa các công ty hoàn toàn độc lập không có sự liên kết. Giá cả hàng hóa
dòch vụ sau khi đã cộng thêm phần nâng giá này có thể xem là căn bản giá thò
trường (ALP) cho hoạt động chuyển giao trong nội bộ MNC’s. Như vậy để so
sánh đạt hiệu quả, các điểm khác biệt nhau trong liên kết và chuyển giao không
liên kết mà có thể tạo ảnh hưởng lên khoản nâng giá điều chỉnh cần phải xác
đònh rõ ràng. Vì lý do đó điều đặc biệt quan trọng là cần phân biệt sự khác nhau
chi phí quản lý và các chi phí chung khác phải phân bổ theo giá trò của những
hợp đồng gia công.
25
Cả ba phương pháp trên được xem là các phương pháp truyền thống và là
phương pháp xác đònh giá chuyển giao giữa các doanh nghiệp có liên kết có
tương ứng với giá thò trường hay không. Các phương pháp này được sử dụng phổ
biến ở các nước trên thế giới, nhưng do ngày càng gia tăng tính đa dạng và tính
chất phức tạp của các doanh nghiệp liên kết nên trong một vài trường hợp không
thể áp dụng các phương pháp này được. Như vây phải có các phương pháp khác:
d) Phương pháp chiết tách lợi nhuận (Profit Split method)
Khi mà giữa các chuyển giao trong nội bộ MNC’s có mối ràng buộc, liên kết
quá chặt chẽ không thể tách rời ra được từng giao dòch để phân tích thì phương
pháp chiết tách lợi nhuận (PSM) được xem là thích hợp để sử dụng.
Theo phương pháp chiết tách lợi nhuận được sử dụng để loại trừ các tác động
lên lợi nhuận bởi những điều kiện đặc biệt tạo nên hoặc tác động lên những giao
dòch có thể kiểm soát được. Phương pháp chiết tách lợi nhuận trước tiên phải xác
đònh lợi nhuận sẽ chiết tách từ các chuyển giao mà doanh nghiệp liên kết có liên
quan đến. Sau đó sẽ phân tích các lợi nhuận cho các công ty liên kết một cách
hợp lý trên cơ sở kinh tế tương tự như cách mà lợi nhuận được phân chia phản
ánh giá căn bản trên thò trường. Phần đóng góp của từng bên có liên quan đến sẽ
xác đònh trên cơ sở của hoạt động kinh doanh và giá trò của mỗi bên, trong
trường hợp tốt nhất là đối chiếu được với dữ liệu khách quan của thò trường bên
ngoài. Lợi nhuận tổng hợp có thể là tổng lợi nhuận tạo nên từ các chuyển giao
và phần đóng góp của các công ty liên kết thành viên được tạo nên của các cơ
sở phân tích hoạt động có tính tới quy mô của các thành viên tham gia vao hoạt
động chuyển giao và các rủi ro mà các thành viên phải gánh chòu.