luận văn đại học sư phạm hà nội Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học đối với trường tiểu học của Phòng Giáo dục Gia Viễn tỉnh Ninh Bình - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. LÝ do chọn đề tài:
Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, dưới ánh sáng của nghị
quyết đại hội, nước ta thực sự bước vào thời kỳ đổi mới trên mọi lĩnh vực
của đời sống kinh tế xã hội. Bên cạnh đó là sự bùng nổ về thông tin, sự
phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ. Để đáp ứng đòi hỏi cấp
bách của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nền Giáo dục
Việt Nam đã có những thay đổi to lớn, vấn đề về tổ chức, quản lý lại càng
được thu hót quan tâm của đông đảo các nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu
khoa học, nhà quản lý thực tiễn; trong đó có khoa học về quản lý giáo dục.
Trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của nước ta, Đảng ta đặt con
người ở vị trí trung tâm, con người vừa là yếu tố quyết định sự thành công
của chủ nghĩa xã hội, vừa là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam
đã chỉ rõ: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc
sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân
tài”. Đại hội đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất
nước nhằm mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ
văn minh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII của Đảng cộng sản Việt Nam
đã nêu: “Định hướng phát triển giáo dục- đào tạo trong thời kỳ công nghiệp
hóa - hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000” và xác định vấn đề có ý
nghĩa then chốt là tăng cường, phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục- đào
tạo. Đặc biệt nghị quyết đã nêu ra bốn giải pháp:
- Tăng cường nguồn lực cho giáo dục- đào tạo.
- Xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người
học.
1
- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp và cơ sở vật chất trường
học.
- Đổi mới công tác quản lý giáo dục.

song các trường tiểu học trên địa bàn huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình đã có
nhiều cố gắng trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Tuy nhiên, xuất
phát từ góc độ khoa học việc quản lý hoạt động dạy học đối với các trường
tiểu học của huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình còn nhiều vấn đề tồn tại cần
rút kinh nghiệm để đáp ứng được yêu cầu của giáo dục trong thời kỳ mới.
Từ những lý do trên đã thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài: “Các biện
pháp quản lý hoạt động dạy học đối với trường tiểu học của Phòng Giáo
dục Gia Viễn tỉnh Ninh Bình” Với hy vọng đóng góp một phần nhỏ công
sức của mình vào việc nâng cao chất lượng Giáo dục tiểu học của quê
hương trong điều kiện kinh tế- xã hội còn gặp nhiều khó khăn.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nhằm nâng cao chất lượng dạy học nói riêng và chất lượng giáo dục
tiểu học nói chung thông qua các biện pháp quản lý hoạt động dạy học của
phòng giáo dục đối với trường tiểu học.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Công tác quản lý hoạt động dạy học đối với các trường tiểu học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp quản lý của phòng giáo dục huyện Gia Viễn về hoạt
động dạy học đối với các trường tiểu học.
4. Giả thuyết khoa học:
Bằng lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, chúng tôi cho rằng, việc quản
lý hoạt động dạy học đối với trường tiểu học của huyện Gia Viễn tỉnh Ninh
Bình đã có những kết quả và những hạn chế nhất định. Nếu Phòng Giáo
dục Gia Viễn có những biện pháp quản lý hoạt động dạy học phù hợp đối
với các trường tiểu học thì chất lượng dạy học sẽ được nâng cao .
3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài.
5.2. Nghiên cứu thực trạng về các biện pháp quản lý hoạt động dạy

dạy học dựa trên cơ sở lý luận, kết quả khảo sát tính cần thiết và khả thi của
các biện pháp qua sự đánh giá của CBQL, GV trong công trình này có thể
coi là những đóng góp mới cho việc quản lý hoạt động dạy học đối với
trường tiểu học của Phòng Giáo dục nói chung và Phòng Giáo dục huyện
Gia Viễn tỉnh Ninh Bình nói riêng.
9. Cấu trúc luận văn:
Cấu trúc của luận văn gồm 3 phần chính: Mở đầu, nội dung, kết luận.
Phần mở đầu
Phần nội dung: Gồm có 3 chương
Chương I: Cơ sở lý luận về biện pháp quản lý hoạt động dạy học của phòng
giáo dục đối với trường tiểu học.
Chương II: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học của Phòng Giáo
dục đối với trường tiểu học huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình.
Chương III: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học đối với các trường
tiểu học của Phòng Giáo dục huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình.
Phần kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục

5
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
I. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:
Dạy học và quản lý dạy học được hình thành và phát triển cùng với
lịch sử hình thành và phát triển các hình thái kinh tế xã hội. Lúc đầu, cơ sở
lý luận về dạy học chỉ thể hiện dưới dạng một số ý tưởng của những nhà
triết học (đồng thời cũng là nhà giáo dục) sau đó dần dần phát triển và hoàn
thiện hơn. Tuy rằng gần đây người ta mới chú ý, bàn luận về quản lý nói
chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng; nhưng hầu hết các ý tưởng
và các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục (trong đó có quản lý dạy

dạy theo khả năng tiếp thu của hoc sinh (vừa sức); Dạy học phải thiết thực;
Dạy học theo nguyên tắc cá biệt…
- Vào thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX ở phương Tây có nhiều nhà
nghiên cứu về quản lý tiêu biểu như: Robet Owen (1717 - 1858); Chales
Babbage (1792 - 1871); F. Taylor (1856 -1915) ông được coi là “cha đẻ
của thuyết quản lý khoa học”; H.Fayob (1841 – 1925); …
- Đến khoảng cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, khoa học giáo dục
thực sự có sự biến đổi về lượng và chất. Những vấn đề chủ yếu trong các
tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin đã định hướng cho hoạt
động giáo dục là các quy luật về “Sự hình thành cá nhân con người” về “
tính quy luật về kinh tế - xã hội đối vớigiáo dục…”. Các quy luật đó đặt ra
những yêu cầu đối với quản lý giáo dục và tính ưu việt của xã hội đối với
việc tạo ra các phương tiện và điều kiện cần thiết cho giáo dục. Trên cơ sở lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhiều nhà khoa học Xô Viết cũ đã có các
thành tựu khoa học đáng trân trọng về quản lý giáo dục và quản lý dạy học.
Ở Việt Nam khoa học quản lý tuy được nghiên cứu muộn nhưng tư
tưởng về quản lý cũng như phép “trị nước an dân” đã có từ lâu đời. Điều
7
đó đã được thể hiện trong các tác phẩm của các nhà chính trị, quân sự, nhà
giáo, nhà thơ lỗi lạc dưới thời phong kiến như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng
Đạo, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm…
Trong thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam trước hết phải nói đến
quan điểm phát triển giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 –1969).
Bằng việc kế thừa những tinh hoa của các tư tưởng giáo dục tiên tiến và
việc vận dụng sáng tạo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin,
Người đã để lại cho chóng ta nền tảng lý luận về : Vai trò của giáo dục,
định hướng phát triển giáo dục, mục đích dạy học, các nguyên lý dạy học,
các phương thức dạy học, vai trò của quản lý và cán bộ quản lý giáo dục,
phương pháp lãnh đạo và quản lý …Phải khẳng định rằng: Hệ thống các tư
tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục có giá trị cao trong quá trình

Cụm từ “Quản lý” được thường xuyên sử dụng trong nghiên cứu
khoa học của xã hội loài người. Ngay từ buổi sơ khai, để đương đầu với sức
mạnh của tự nhiên, để tồn tại và phát triển, con người đã phải hình thành các
nhóm hợp tác lao động để nhằm thực hiện những mục tiêu mà từng cá nhân
riêng lẻ không thể thực hiện được, điều này đòi hỏi phải có tổ chức, phải có
sự phân công và hợp tác trong lao động, và từ đó xuất hiện sự quản lý.
Các Mác đã nói: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao
động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì Ýt nhiều cũng
cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực
hiện chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản
xuất, khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một
người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc
thì cần phải có nhạc trưởng”.
Trong nghiên cứu khoa học có rất nhiều quan niệm về quản lý, theo
những cách tiếp cận khác nhau. Chính từ sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn
9
đến sự phong phú về các quan niệm quản lý. Sau đây là một số khái niệm
của các tác giả trong nước và nước ngoài.
- Khái niệm quản lý của các tác giả nước ngoài:
+ Theo K. Omarov (Liên xô)- 1983: Quản lý là tính toán sử dụng
hợp lý các nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ sản xuất và dịch vụ với
hiệu quả kinh tế tối ưu.
+ Theo H.Koontz (Người Mỹ): Quản lý là một hoạt động thiết yếu
nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các cá nhân để đạt được mục
đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi
trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời
gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân Ýt nhất. [48, Tr33]
+ Theo W. Taylor: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì
cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất.
+ Theo Kozlova O.V và Kuzenetsov I.N: quản lý là sự tác động có

Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ, tác động qua lại,
hỗ trợ nhau. Chủ thể quản lý thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có
giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người thoả mãn mục đích
của quản lý.
Quản lý ngày nay được coi là một trong năm nhân tố phát triển kinh
tế - xã hội: Vốn, nguồn lực lao động, khoa học - kỹ thuật, tài nguyên và sự
quản lý, trong đó quản lý có vai trò mang tính quyết định sự thành công.
Như vậy, rõ ràng “quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là nghệ
thuật” và “ Hoạt động quản lý vừa có tính chất khách quan vừa mang tính
chủ quan, vừa có tính pháp luật nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi…
chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất”. [28, Tr15]
1.2. Chức năng quản lý:
Từ những quan niệm chung về quản lý, chóng ta thấy quản lý là một
thuộc tính gắn liền với xã hội ở một giai đoạn phát triển của nó, khi xã hội
11
phát triển đến một trình độ nhất định thì quản lý được tách ra thành một
chức năng riêng của lao động xã hội, từ đó xuất hiện những bộ phận người,
những tổ chức và cơ quan chuyên hoạt động quản lý- đó là những chủ thể
quản lý; số còn lại là những đối tượng quản lý hay còn gọi là khách thể
quản lý.
Vì là một thuộc tính gắn liền với xã hội nên quản lý có hai chức
năng cơ bản: duy trì và phát triển. Để đảm bảo thực hiện được hai chức
năng này hoạt động quản lý bao gồm bốn chức năng cụ thể:
- Lập kế hoạch.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch.
- Chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch.
- Kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch.
Các chức năng này vừa mang tính độc lập tương đối, vừa liên quan
mật thiết với nhau, tạo thành một chu trình quản lý.
Sơ đồ: Quan hệ của các chức năng quản lý

các chức năng quản lý theo đúng các nguyên tắc đã được xác định, các
nguyên tắc đó được vận dụng và được thực hiện thông qua các phương
pháp quản lý nhất định và các biện pháp quản lý phù hợp. Vì vậy, việc vận
dụng các phương pháp quản lý cũng như áp dụng các biện pháp quản lý là
nội dung cơ bản của quản lý.
Tóm lại: Biện pháp quản lý là cách làm, cách giải quyết những công
việc cụ thể của công tác quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Hay nói
13
cách khác, biện pháp quản lý là những phương pháp quản lý cụ thể trong
những sự việc cụ thể, đối tượng cụ thể và tình huống cụ thể.
2. Quản lý giáo dục:
2.1. Khái niệm quản lý giáo dục:
Giáo dục là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội. Đây là một
hoạt động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh
nghiệm lịch sử xã hội qua các thế hệ, đồng thời là một động lực thúc đẩy sự
phát triển của xã hội. Để hoạt động này vận hành có hiệu quả, giáo dục
phải được tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống các cơ sở giáo
dục, điều này dẫn đến một tất yếu là phải có một lĩnh vực hoạt động có tính
độc lập tương đối trong giáo dục, đó là công tác quản lý giáo dục, để quản
lý các cơ sở giáo dục có trong thực tiễn.
Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục, đã có
những khái niệm như sau:
- Khái niệm của các tác giả nước ngoài:
+ Theo P.V Khuđôminxky: Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có
kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác
nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (Từ Bộ đến nhà trường) nhằm mục
đích đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự
phát triển toàn diện, hài hoà của họ. [40,tr50]
+ Theo M.M Mechity Zade: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện
pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, cung

các hoạt động thực hiện chức năng của giáo dục - đào tạo.
Nội dung của quản lý giáo dục một số vấn đề cơ bản sau:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển giáo dục.
- Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo
dục, ban hành điều lệ nhà trường.
15
- Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục, tiêu chuẩn nhà
giáo, cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học.
- Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục.
- Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý- giáo viên.
- Huy động quản lý sử dụng các nguồn lực.
- Quản lý giáo dục được phân công theo nguyên tắc khác nhau: Theo
địa bàn lãnh thổ, theo chuyên môn – kỹ thuật, theo mục tiêu quản lý…
2.2. Đặc điểm của quản lý giáo dục:
Từ những khái niệm quản lý giáo dục trên đây, chúng ta có thể đưa
ra các đặc điểm của quản lý giáo dục như sau:
Thứ nhất: Quản lý bao giờ cũng chia thành chủ thể quản lý và đối
tượng bị quản lý. Đây là đặc điểm cơ bản của quản lý nói chung và quản lý
giáo dục nói riêng. Quản lý giáo dục là quản lý việc đào tạo con người, việc
hình thành và hoàn thiện nhân cách, việc tái sản xuất nguồn lực con người.
Đối tượng quản lý ở đây là những ai thực hiện hoặc nhận sự GD-ĐT.
Thứ hai: Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin
và đều có mối liên hệ ngược. Quản lý được diễn ra nhờ các dấu hiệu đó là
thông tin. Thông tin chính là các tín hiệu mới, được thu nhận, được hiểu và
được đánh giá là có Ých cho các hoạt động quản lý (Cho các chủ thể quản
lý và đối tượng bị quản lý).
Thứ ba: Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi (luôn biến
đổi).
Thứ tư: Quản lý vừa là khoa học vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật.

như cộng đồng được đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định
hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực
hiện phương hướng phát triển đó.
Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao
gồm các hoạt động: Quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình
17
dạy học - giáo dục; quản lý CSVC, trang thiết bị dạy học; quản lý tài chính
trường học, quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng
4. Quản lý giáo dục tiểu học:
Theo cách hiểu QLGD như đã nêu ở trên, thực chất QLGD suy cho
cùng là hệ thống những tác động có tính khoa học theo mét quy trình và
nguyên tắc nhất định vào các họat động của nhà trường để các hoạt động
này vận hành theo đúng mục tiêu. Trường học là bộ phận cấu thành của hệ
thống giáo dục, vì vậy để thành tố này vận hành và phát triển thì bản thân
nhà trường cũng cần phải quản lý. Quản lý trường học có thể hiểu như một
bộ phận của QLGD nói chung. Như vậy quản lý nhà trường cũng chính là
QLGD nhưng trong một phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nền
tảng, đó là nhà trường. Vì thế QLGD tiểu học là vận dụng tất cả các nguyên
lý chung của QLGD đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu
đào tạo của bậc học tiểu học là:
“Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban
đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người
Việt Nam XHCN bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân,
chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học THCS”
Quản lý giáo dục tiểu học có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý:
(Có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch) Mang tính tổ chức sư phạm của chủ
thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục
trong và ngoài nhà trường, huy động họ cùng hợp tác, phối hợp tham gia vào
mọi hoạt động của nhà trường, nhằm đặt được những mục tiêu xác định.

học là đối tượng chiếm lĩnh. Học là quá trình tự giác, tích cực, tự chiếm
lĩnh tri thức dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên. Chiếm lĩnh tri thức,
khái niệm khoa học còn được hiểu là tái tạo khái niệm, tri thức cho bản
thân, thao tác với nó, sử dụng nó như công cụ, phương pháp để chiếm lĩnh
19
các tri thức, khái niệm khác, mở rộng, đào sâu cho khái niệm đó và vốn tri
thức.
Học có hai chức năng thống nhất với nhau: Lĩnh hội và tự chiếm
lĩnh, lĩnh hội là tiếp thu thông tin dạy của thầy, của sách giáo khoa… và tự
điều khiển là tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh tri thức của bản thân.
Dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình dạy học của học sinh để
hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh. Nếu học nhằm mục đích
chiếm lĩnh khái niệm khoa học thì dạy lại có mục đích là điều khiển sự học
tập. Dạy có hai chức năng thường xuyên tương tác với nhau, thâm nhập
vào nhau là truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển thông tin dạy học và
điều khiển hoạt động dạy học.
Quá trình dạy học bao gồm ba thành tố cơ bản: Khái niệm khoa học,
dạy và học.
Khái niệm khoa học là nội dung bài học, là đối tượng lĩnh hội, chiếm
lĩnh của học sinh. Nó là một trong các yếu tố khách quan quyết định lô gíc
của bản thân quá trình dạy học.
Tóm lại: Quá trình dạy học là một quá trình, trong đó dưới tác động
chủ đạo (Tổ chức, điều khiển, lãnh đạo) của thầy, học sinh tự giác, tích cực
tổ chức tự điều khiển hoạt động nhận thức, nhằm thực hiện tốt các hoạt
động dạy học.
Để đạt được mục đích dạy học, người dạy và người học đều phải
phát huy các yếu tố chủ quan của cá nhân ( phẩm chất, năng lực) để xác
định nội dung, lựa chọn phương pháp, tìm kiếm các hình thức, nội dung
trên được thực hiện tuân theo sự quản lý, điều hành của các cấp quản lý
giáo dục, theo kế hoạch thống nhất, có sự tổ chức và được kiểm tra đánh

tiếp với trò, thông qua hoạt động dạy của thầy quản lý hoạt động của trò và
các điều kiện vật chất kỹ thuật.
Cũng như quá trình dạy học nói chung, quá trình dạy học tiểu học là
một quá trình xã hội, gắn liền với hoạt động dạy của thầy và hoạt động học
21
của trò với tư cách là hoạt động của hai chủ thể. Các hoạt động trong quá
trình dạy học nhằm mục đích nhất định, trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ
xác định. Để truyền tải nội dung dạy học từ phía chủ thể giáo viên đến chủ
thể học sinh, phải có những phương pháp dạy học và phương tiện dạy học
nhất định. Các hoạt động này được tổ chức sắp xếp theo các hình thức dạy
học khác nhau. Cuối cùng sau mét chu trình vận động, các hoạt động dạy
và hoạt động học phải đạt được kết quả dạy học mong muốn.
Như vậy, quá trình dạy học tiểu học với tư cách là một hệ thống bao
gồm những nhân tố, những thành tố cơ bản sau: Mục đích và nhiệm vụ dạy
học; Nội dung dạy học; Thầy và hoạt động dạy, trò và hoạt động học; Các
phương pháp và phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học; kết
quả dạy học.
Tất cả các nhân tố cấu trúc của hệ thống quá trình dạy học tiểu học
đều tồn tại trong mối quan hệ biện chứng thống nhất với nhau. Mặt khác,
toàn bộ hệ thống quá trình dạy học lại có mối quan hệ qua lại và thống nhất
các môi trường của nó.
Dạy học cần có môi trường giáo dục thuận lợi cả ở hai phương diện vĩ
mô và vi mô. Môi trường vĩ mô là môi trường kinh tế - xã hội phát triển và
môi trường công nghệ tiên tiến. Môi trường vi mô là môi trường giáo dục gia
đình, nhà trường và các mối quan hệ trong cộng đồng thuận lợi, tích cực.
Sự vận động và phát triển của quá trình dạy học tiểu học là một kết
quả tác động biện chứng và thống nhất giữa các yếu tố kể trên. Kết quả dạy
học là kết quả phát triển của toàn bộ hệ thống. Muốn nâng cao chất lượng
quá trình dạy học phải nâng cao chất lượng tổng hợp của toàn bộ hệ thống.
Nội dung của quản lý hoạt động dạy học bao gồm nhiều hoạt động,

Bộ máy tổ chức và nhân lực trong quản lý chỉ kết quả đã có về: Cơ
cấu chủ định và về cơ chế hoạt động của tổ chức, về vai trò, nhiệm vụ hay
chức vụ đã được hợp thức hoá; về kết quả của cách thức thiết kế, xắp xếp, bố
trí, bồi dưỡng, điều hành và phát triển đội ngũ nhân sự trong một tổ chức.
23
Trong giáo dục bộ máy tổ chức và nhân lực là các cán bộ quản lý
giáo dục, giáo viên, học sinh, nhân viên phục vụ dạy học và các lực lượng
tham gia các mặt giáo dục khác trong nhà trường.
• Nguồn tài lực và vật lực:
Nguồn tài lực và vật lực là khái niệm nói về tài chính, cơ sở vật chất
kỹ thuật, sản phẩm công nghệ được huy động và sử dụng vào hoạt động
quản lý Trong quản lý, chủ thể quản lý phải huy động tối đa và tận dụng
hết công suất của nguồn tài lực vật lực để thực hiện mục tiêu. Nói cách
khác nguồn tài lực và vật lực là một trong những phương tiện chủ yếu để
chủ thể quản lý thực hiện mục tiêu quản lý.
Nguồn tài lực và vật lực trong dạy học là tài chính, cơ sơ vật chất, kỹ
thuật, phương tiện, thiết bị và các điều kiện được huy động phục vụ cho
hoạt động dạy học trong các nhà trường.
• Thông tin quản lý và môi trường quản lý:
Theo Shannon thì “Thông tin là độ bất định được giảm bớt, bị thủ
tiêu”. Đối với bất kỳ hoạt động nào, khi nói đến độ bất định được giảm bớt,
bị thủ tiêu là nói đến sự hiểu biết về đối tượng chính xác hơn; khi nói một
thuộc tính chung nhất của vật chất là nói đến những phản ánh của vật chất
mà con người cần nhận biết. Như vậy, nói chung thông tin là những gì cần
nhận biết của con người về thế giới khách quan và thông tin quản lý là
những gì chủ thể quản lý cần nhận biết về đối tượng mà họ quản lý. Môi
trường quản lý là những yếu tố khách quan về tự nhiên và xã hội ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình quản lý. Như vậy môi trường
của hoạt động vừa là điều kiện vừa là phương tiện để thực hiện mục đích
quản lý.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status