Các hình thức tổ chức công tác tuyên huấn trong sinh viên sư phạm - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vị trí tầm quan trọng công tác tuyên huấn trong các trường sư phạm
Công tác tuyên huấn nói chung và trong các trường đào tạo chuyên
nghiệp nói riêng, nơi đào tạo những cán bộ, chuyên gia chuyên ngành cho
đất nước phát triển luôn luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Trong những
ngày đầu vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc
đã chăm lo, đào tạo, huấn luyện những thanh niên yêu nước trong các tổ
chức Tâm tâm xã, Cộng sản đoàn, giác ngộ họ và trở thành Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên - tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng vĩ đại và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, nhân
dân ta đã giành được độc lập dân tộc, thống nhất đất nước hoàn toàn và
đang vững bước tiến vào thế kỷ XXI trên con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội. Làm nên những thành tựu vĩ đại đó có lực lượng to lớn là thanh niên,
học sinh, sinh viên. Mỗi bước trưởng thành của dân tộc Việt Nam đều có
tuổi trẻ tham gia nhiệt tình và sáng tạo, được Đảng tổ chức, lãnh đạo, giáo
dục, tuyên truyền và huấn luyện. Thực chất đó chính là công tác tuyên huấn
của Đảng, của các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội.
Ngày nay, cả nước đang ra sức thực hiện hai niệm vụ chiến lược
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc thống
nhất, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
"Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp", như Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng
sản Việt Nam khẳng định. Muốn vậy, phải khơi dậy mọi tiềm năng, nguồn
lực (nhất là nguồn nội lực), chiến lược con người có vai trò quyết định nhất
đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Điều đó, đã được ghi rõ
trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội: "Giáo dục và đào tạo gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh tế, phát
triển khoa học, kỹ thuật, xây dựng nền văn hóa mới và con người mới
1
Khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách

tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, quyết định sự thành bại của
cách mạng Việt Nam".
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Công tác chính trị tư tưởng trong các trường học và các tổ chức
chính trị xã hội luôn luôn đặt ở vị trí chiến lược hàng đầu trong chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước, là nội dung chủ yếu trên mặt trận tư
tưởng. Mỗi giai đoạn thời kỳ cách mạng Đảng đã xác định, lựa chọn những
hình thức, biện pháp tuyên huấn cho phù hợp nhằm đạt được mục tiêu cụ
thể, tiến tới giành mục tiêu chiến lược lâu dài của cách mạng Việt Nam.
Sau thắng lợi mùa xuân năm 1975, cả nước độc lập, thống nhất hòa
bình cùng quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng và Chính phủ đã có nhiều
chỉ thị, nghị quyết chỉ đạo, hướng dẫn các cấp, các ngành thực hiện tốt
công tác chính trị tư tưởng. Đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới, và nhất là khi
Liên Xô và hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu khủng hoảng
toàn diện, sụp đổ, thì công tác chính trị tư tưởng lại càng được quan tâm hơn.
Ngày 3/8/1977, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IV) đã ra Chỉ thị 14
CT/TW về việc tổ chức đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của Đảng,
xuất phát từ tình hình cách mạng nước ta đã chuyển từ chiến tranh sang
thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước. Tình hình và nhiệm vụ mới đòi hỏi
phải tăng cường công tác tuyên huấn, tuyên truyền trực tiếp, phải nhanh
chóng xây dựng và củng cố đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên là lực
lượng tuyên truyền có tổ chức của Đảng. Chỉ thị 14 CT/TW khẳng định:
"Đó là công cụ quan trọng hàng đầu trong việc tuyên truyền, giáo dục
đường lối chính sách, truyền bá những quan điểm của Đảng về những vấn
đề thời sự lớn, về những vấn đề mới đặt ra trong cuôc sống, trong công
cuộc xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hóa mới, con người
mới, hướng dẫn sự suy nghĩ và hành động của toàn dân theo Nghị quyết
của Đại hội Đảng". Ngày 7 tháng 6 năm 1997, Thường vụ Bộ Chính trị ra
3
Thông báo số 71-TB/TW về việc tăng cường lãnh đạo và đổi mới công tác

đường lối, nghị quyết của Đảng (tính định hướng), đồng thời cũng là người
nắm bắt và hướng dẫn dư luận xã hội.
Hàng năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức Hội nghị công tác tư
tưởng, chính trị trong các trường đại học và cao đẳng. Tổng kết những việc
đã làm được, những yếu kém hạn chế, đề xuất những biện pháp để làm tốt
hơn công tác giáo dục tư tưởng chính trị, công tác tuyên huấn trước yêu cầu
ngày càng cao của cách mạng.
Hạn chế lớn nhất hiện nay của công tác tuyên huấn trong các trường
sư phạm là chưa làm rõ tính đặc thù của ngành. Chưa hệ thống hóa nội
dung cơ bản nhất trực tiếp đến công tác giáo dục - đào tạo và ngành sư
phạm. Hình thức tuyên huấn chưa được đổi mới, cả nội dung nhất là biện
pháp và điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật.
3. Điểm mới của đề tài
- Hệ thống hóa những hình thức tuyên huấn cơ bản nhất đối với
sinh viên sư phạm với nội dung phù hợp với ngành sư phạm - đào tạo giáo
viên có chất lượng cao toàn diện phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc.
- Cung cấp những tư liệu lịch sử về truyền thống dân tộc Việt Nam,
về Đảng Cộng sản Việt Nam, về Chủ tịch Hồ Chí Minh, về tuổi trẻ, về
Ngành Sư phạm và trường Đại học Sư phạm Hà Nội hơn 50 năm xây dựng
và phát triển, với những hình thức tổ chức tuyên huấn phong phú, thích
hợp. Qua đó sinh viên có cơ sở tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc,
của Ngành Sư phạm, của Nhà trường và nêu cao trách nhiệm làm vẻ vang
thêm trang sử chói lọi đó.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu các hình thức tổ chức công tác tuyên huấn
trong sinh viên, nhằm góp phần đánh giá đúng thực trạng của việc tuyên
truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, công tác tuyên huấn đối với sinh viên
sư phạm trong thời gian vừa qua. Từ đó đưa ra những giải pháp những hình
5

khác trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tuyên huấn đối với sinh
viên.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài cấu tạo gồm 3 chương:
Chương 1: Công tác tuyên huấn và những nội dung cơ bản cần
giáo dục và rèn luyện đối với sinh viên sư phạm
Chương 2: Thực trạng công tác tuyên huấn, giáo dục chính trị
tư tưởng đối với sinh viên sư phạm
Chương 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hơn
nữa công tác tuyên huấn, giáo dục chính trị tư
tưởng đối với sinh viên sư phạm trong giai đoạn
mới
8. Kế hoạch thực hiện và những hình thức sản phẩm của đề tài
- Đề tài được thực hiện trong hai năm (1999, 2000).
Sau khi được phê chuẩn và cấp kinh phí, Ban Chủ nhiệm đề tài tổ
chức lực lượng nghiên cứu, cộng tác viên và tư vÊn khoa học. Từ tháng
6/1999 đến tháng 12/1999 tập hợp tư liệu và nghiên cứu lý luận cơ bản. Từ
tháng 01/2000 đến tháng 12/2000 tiến hành thông qua hoàn thiện đề tài. Từ
tháng 01/2001 đến tháng 5/2001 góp ý, sửa chữa và nghiệm thu đề tài.
- Đề tài có một bộ phận sản phẩm gồm các chuyên luận, các báo
cáo thực tế, báo cáo tổng quan nghiên cứu (toàn văn và tóm tắt) có thể
được sử dụng trong và ngoài trường.
7
Chương 1
CÔNG TÁC TUYÊN HUẤN VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
CẦN GIÁO DỤC VÀ RÈN LUYỆN ĐỐI VỚI SINH VIÊN SƯ PHẠM
1. CÔNG TÁC TUYÊN HUẤN, GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG
TRONG VIỆC HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH SƯ PHẠM
Vị trí vai trò công tác tuyên huấn
Công tác tuyên huấn, giáo dục chính trị tư tưởng trong các trường

những nguyên tắc đường lối chính trị - đường lối đổi mới đúng đắn của
Đảng, nhằm phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa [6] - như Văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
đã khẳng định.
Ngay trong quá trình vận động thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã
thấy rõ khả năng to lớn của thanh niên. Những thanh niên, học sinh, sinh
viên ưu tú đều được Bác Hồ rèn luyện, giáo dục, vận động tuyên truyền,
giác ngộ. Người đã lựa chọn được những thanh niên ưu tú trong tổ chức
Tâm tâm xã, giác ngộ họ và lập ra nhóm Cộng sản đoàn vào tháng 2 năm
1925, gồm có 9 người. Đó là một trong những tổ chức cơ sở của Hội Việt
Nam Cách mạng Thanh niên - tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt
Nam do Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Trong tác
phẩm Đường cách mệnh, trong khi Người khẳng định "công nông là chủ, là
gốc cách mệnh", thì "học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn của
cách mệnh". Như vậy, thanh niên học sinh, sinh viên là lực lượng quan
trọng của cách mạng - là tương lai của dân tộc đã được Chủ tịch Hồ Chí
Minh sớm phát hiện và là người Việt Nam đầu tiên thấy được sức mạnh,
sức sáng tạo của tuổi trẻ. Thư gửi các học sinh nhân dịp ngày khai trường
đầu tiên (tháng 9 năm 1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Non sông
Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài
9
vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không,
chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em".
Công tác tuyên huấn, với nhiệm vụ trọng tâm là giáo dục truyền
thống về dân tộc anh hùng, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ
tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhằm góp phần quan trọng giáo dục tư tưởng cách
mạng, đạo đức, lối sống, tinh thần tự lực, tự cường sáng tạo, trách nhiệm
của tuổi trẻ nói chung và của thanh niên, sinh viên các trường đại học, cao
đẳng, trung học chuyên nghiệp nói riêng; hình thành nhân cách con người

mạng cao đẹp nhất và là lẽ sống của dân tộc Việt Nam, tuổi trẻ Việt Nam;
giáo dục tinh thần độc lập tự chủ sáng tạo; giáo dục đạo đức cách mạng
và những kỹ năng nghiệp vụ sư phạm - tính nhân văn - đức phạm trong giáo
dục, trong sự nghiệp trồng người. Mỗi nội dung đều có vị trí vai trò riêng,
song đều thống nhất trong mối quan hệ biện chứng hỗ trợ, thúc đẩy nhau
cùng nhằm tới hoàn thiện nhân cách của một nhà giáo dục - người thầy
giáo xã hội chủ nghĩa.
2.1. Giáo dục truyền thống Việt Nam - Lịch sử Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục truyền thống, giáo
dục lịch sử dân tộc Việt Nam. Ngay từ khi chưa giành được chính quyền,
đầu năm 1942, trong tác phẩm Lịch sử nước ta, Người viết:
Dân ta phải biết sử ta
Cho trường gốc tích nước nhà Việt Nam
Kể năm hơn bốn ngàn năm
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa
Là người Việt Nam phải nắm vững quốc sử, quốc văn, quốc ngữ.
Một nhà văn hóa học nổi tiếng cho rằng: "thế hệ trẻ của một đất nước dù có
trình độ khoa học kỹ thuật cao, làm ra nhiều tiền của, nhưng không hiểu
biết gì về lịch sử truyền thống dân tộc, thì cũng như là những con lừa kéo
nặng mà thôi". Câu nói đó đủ thấy vai trò quan trọng của lịch sử đối với
11
việc giáo dục truyền thống dân tộc của thế hệ trẻ cũng như của cả cộng
đồng dân tộc.
2.1.1. Khái quát lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam
Nước Việt Nam được hình thành khá sớm, từ thời các vua Hùng
(2879 - 259 trước Công nguyên), nước ta gọi là Văn Lang. Thủy tổ dân tộc
là là Kinh Dương Vương. Từ thuở các vua Hùng dựng nước, đến vị hoàng
đế cuối cùng Bảo Đại trị vì, nước ta trải qua hơn 4000 năm lịch sử với
những thăng trầm của hơn 20 triều đại, các ông hoàng bà chúa.
Lịch sử Việt Nam là quá trình dựng nước gắn liền với giữ nước,

chất), Phố cổ Hội An (1999) và Khu Di tích thánh địa Mỹ Sơn (1999). Đó
là nét văn hóa tài hoa sánh ngang hàng với Di sản văn hóa thế giới.
- Về quốc ngữ: Chữ viết Việt Nam có quá trình phát triển lâu dài
cho tới nay khá hoàn chỉnh (xem phần Phụ lục).
2.1.2. Những truyền thống quý báu - niềm tự hào chính đáng của
dân tộc Việt Nam
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của một dân tộc anh hùng. Truyền
thống tốt đẹp mà Tổ tiên ta đã để lại trong thiên anh hùng ca dựng nước và
giữ nước bốn nghìn năm là tài sản rất quý báu và thiêng liêng của dân tộc.
Đó là sự thống nhất chặt chẽ giữa các yếu tố: nhân, trí, dũng mà cái cốt tử
đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết thành chân lý lịch sử vĩ đại: Không
có gì quý hơn độc lập, tự do.
Những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam:
- Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường, bất khuất.
- Tinh thần đoàn kết yêu thương, gắn bó một lòng.
- Anh dũng, thông minh.
- Lao động cần cù, bền bỉ, sáng tạo.
- Tinh thần lạc quan yêu đời.
13
Trong các truyền thống đó, truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí
kiên cường, bất khuất luôn làm là nấc thang giá trị hàng đầu chi phối các
truyền thống khác.
2.2. Giáo dục truyền thống lịch sử Ngành Sư phạm và Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội
2.2.1. Khái quát lịch sử Ngành Sư phạm Việt Nam
Xem phần Phụ lục.
2.2.2. Giáo dục truyền thống nhà trường - Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội
Xem phần Phụ lục
2.3. Giáo dục đạo đức, lý tưởng cách mạng đối với sinh viên

tài. Có đức, có tài mới hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao".
Đối với sinh viên, thanh niên nói chung và với sinh viên sư phạm
nói riêng, phải rèn luyện những chuẩn mực đạo đức cơ bản: Một là, trung
với nước, hiếu với dân - Đó là trách nhiệm, bổn phận của người dân, của
con người đối với gia đình, cha mẹ, với quê hương, đất nước. Hai là, cần
kiệm, liêm chính, chí công vô tư - Phẩm chất này gắn liền và là biểu hiện cụ
thể của phẩm chất "trung với nước, hiếu với dân". Phẩm chất đạo đức này,
lấy chính bản thân mỗi người làm đối tượng điều chỉnh. Với nghề sư phạm
hết sức chú ý rèn luyện tu dưỡng theo chuẩn mực này. Vì sao vậy?
"Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai.
Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí
Liêm là trong sạch, không tham lam ; tham tiền của, tham địa vị,
tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất liêm.
Chính là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không
đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà".
Ba là, Giàu sang không thể quyết rũ, nghèo khó không thể chuyển
lay, uy vũ không thể khuất phục. Đây là những phẩm chất đạo đức không
15
thể thiếu ở người cách mạng, nhất là người cộng sản, người giáo viên - Yêu
cầu gần như đủ cả năm đức: "nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm".
Muốn có những phẩm chất đạo đức như vậy, đó là quá trình tu
dưỡng bền bỉ rèn luyện suốt đời của nhà giáo qua thực tiễn công việc, sự
nghiệp. "Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên".
Có đạo đức là gốc, nhưng muốn trở thành nhà giáo giỏi phải là
người có cả tài. Tài đó chính là năng lực, nghiệp vụ sư phạm giỏi, nắm
vững kiÕn thức cơ bản, ham đọc, ham học để không ngừng nâng cao trình
độ, sáng tạo trong công việc.
2.3.2. Giáo dục lý tưởng cách mạng đối với sinh viên
Lý tưởng chính trị - xã hội là mục đích cao cả và tốt đẹp nhất về
mặt xã hội cần phấn đấu đạt tới.

dịp tranh cử tổng thống Mỹ thì trong hơn một thập kỷ, số 1% chóp cùng của
dân Mỹ đã vơ được 50 - 70% thu hoạch kinh tế của đất nước - Báo Nhân
Dân, ngày 10/8/1992. Theo báo cáo của UNDP năm 1998 người giàu chỉ
chiếm 20% dân số thế giới nhưng lại chiếm hơn 86% tổng chi phí dành cho
tiêu dùng. Người giàu tiêu thụ hơn 45% lượng thịt, cá trên thế giới trong khi
đó người nghèo chỉ tiêu thô 5%.
Hai là, Việt Nam tại sao lại lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa
mà không phải là con đường tư bản chủ nghĩa? Là một nước nghèo, kém
phát triển liệu Việt Nam có thể đạt tới sự lựa chọn đó không?
Đúng là lịch sử phát triển của xã hội loài người trải qua năm hình
thái kinh tế - xã hội: hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thủy; hình
thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ; hình thái kinh tế xã hội phong kiến;
hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa và hình thái kinh tế - xã hội cộng
sản chủ nghĩa. Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, một dân
tộc nào đó, trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể có thể bỏ qua một hoặc
vài hình thái kinh tế - xã hội nào đó để tiến lên hình thái kinh tế - xã hội
cao hơn. Các ông cũng cho rằng, một dân tộc lạc hậu, nếu điều kiện quốc tế
17
và trong nước cho phép có thể tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội không
qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh những nguyên lý và dự báo lý luận
của các nhà kinh điển, ở Việt Nam, chóng ta cần làm rõ những yếu tố có
vai trò quyết định đến việc lựa chọn mục tiêu chủ nghĩa xã hội là:
- Việc lựa chọn con đường không qua chủ nghĩa tư bản để đi đến
chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của dân tộc. Sau hàng ngàn năm sống dưới
ách đô hộ của phong kiến, thực dân, nhân dân Việt Nam hiểu rất rõ nỗi khổ
nhục của kiếp người nô lệ, của người mất tự do. Nếu sau khi giành được
độc lập, đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì nhân dân lại phải
chịu áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản, mục tiêu tự do, bình đẳng sẽ không
được thực hiện. Có thể nói, ở Việt Nam, mục tiêu chủ nghĩa tư bản không
được nhân dân chấp nhận.

hội chủ nghĩa.
2.3.3. Giáo dục lý tưởng nghề nghiệp
Lý tưởng nghề nghiệp thể hiện ở sự lựa chọn ngành nghề từ đó ra
sức học tập, rèn luyện, phấn đấu để trở thành người có trình độ chuyên môn
nghề nghiệp giỏi (ở trình độ đỉnh cao) được xã hội thừa nhận. Trên cơ sở
đó cống hiến được nhiều cho xã hội và có thu nhập cao cho cá nhân và gia
đình. Trong quá trình giáo dục và rèn luyện lý tưởng nghề nghiệp cho sinh
viên hiện nay cần làm cho họ nhận thức rõ mấy vấn đề sau đây:
Một là, làm bất cứ nghề gì đều vinh quang, đều có cơ hội tìm được
việc làm, đều có khả năng thu nhập cao nếu là người có trình độ chuyên
môn giỏi, có lương tâm nghề nghiệp. Tuy nhiên, để có thể trở thành người
giỏi, có tay nghề vững vàng thì việc chọn nghề phải phù hợp với khả năng,
sở thích của mỗi người.
Hai là, phải nhận thức được xu thế phát triển của thế giới và đòi hỏi
của đất nước trong tương lai, nhất là hai mươi, ba mươi năm tới. Chỉ có
19
như vậy ngay từ hôm nay sinh viên mới xác định được mình cần phải làm
gì.
Từ thập kỷ 80 đến cuối thế kỷ 20, do tác động của cuộc cách mạng
khoa học - công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ
sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượng nền kinh tế thế giới
chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tÕ trí thức. kinh tế trí thức là nền
kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết
định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng
cuộc sống. Trong nền kinh tế tri thức chiếm đa số là các ngành kinh tế dựa
vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ.
Những đặc trưng đáng chú ý nhất của nền kinh tế tri thức là: sản xuất công
nghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất, tiên tiến nhất, tiêu biểu
nhất của nền sản xuất; ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi, thông tin trở
thành tài nguyên quan trọng nhất; xã hội thông tin là một xã hội học tập.

thực. Như vậy, mặt thứ hai này là nhằm hình thành năng lực sáng tạo theo
quy luật của cái đẹp.
Thực chất công tác công tác giáo dục thẩm mỹ đối với sinh viên là
giúp họ tìm hiểu, phát hiện mọi giá trị thẩm mỹ trong những quan hệ
phương pháp của con người đối với thế giới. Giúp sinh viên hiểu được mọi
chi tiết của bức tranh toàn cảnh về cái đẹp của thiên nhiên, của xã hội và
biến toàn bộ sự phong phú thẩm mỹ đó thành sở hữu nội tâm của họ. Để rồi
sau đó họ lại sáng tạo ra những giá trị thẩm mỹ mới trong ngành nghề sẽ
được lựa chọn và trong cả mọi hoạt động xã hội khác.
Công tác giáo dục thẩm mỹ trong các trường đại học, một mặt có
vai trò tích cực trong việc phê phán những thị hiếu thẩm mỹ tầm thường,
những tập quán lạc hậu, bảo thủ, những ảnh hưởng của lối sống không lành
mạnh; mặt khác, có vai trò tích cực trong việc xây dựng những thị hiếu
thẩm mỹ tốt đẹp cho sinh viên, hướng dẫn cho sinh viên thấy rõ tương lai
thẩm mỹ của mình. Trong vui chơi cũng như trong học tập, nhà trường phải
làm cho sinh viên tập trung chó ý vào cái đẹp, vào việc thể hiện những
phẩm chất tốt đẹp nhất của con người theo những gương điển hình. từ
21
những tấm gương của các bạn sinh viên học giỏi, ngoan ngoãn, những tấm
gương của các thầy, cô giáo có uy tín trong trường cho đến những tấm
gương của các nhà khoa học, những anh hùng trong sản xuất và chiến đấu
ở ngoài xã hội.
Để tránh những biểu hiện cực đoan trong quá trình giáo dục thẩm
mỹ đối với sinh viên, theo chúng tôi; có hai vấn đề cần được chú ý. Một là,
lý tưởng thẩm mỹ xã hội chủ nghĩa là thống nhất cho tất cả mọi người mới
xã hội chủ nghĩa (tuy nhiên mô hình con người này phải thích ứng với từng
giai đoạn phát triển của xã hội), nhưng nó chấp nhận và khuyến khích việc
hình thành những thị hiếu ưa thích, nhu cầu thẩm mỹ đa dạng và phong
phú. Vì trong vấn đề thẩm mỹ, mỗi con người đánh giá sự vật, hiện tượng
theo những nguyên tắc lý tưởng thẩm mỹ chung nhưng trong đó còn có

triển". Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6/1996) tiếp tục khẳng định: "Giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu". Đặc biệt Hội nghị lần thứ hai của
Trung ương (khóa VIII) tháng 12/1996 "Về định hướng chiến lược phát
triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
nhiệm vụ năm 2000" đã nêu rõ: "Muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi phải
23
phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố
cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững" [3, tr. 9].
Luật Giáo dục năm 1998. Ngày 30/5/1998 Bộ Chính trị ra Chỉ thị
34-CT/TW, về tăng cường công tác chính trị tư tưởng; củng cố tổ chức.
Đảng, Đoàn thể quần chúng và công tác phát triển đảng viên trong các
trường học. Chỉ thị nêu rõ 4 nhiệm vụ cần phải nắm vững, trong đó nhiệm
vụ thứ nhất là "Tăng cường công tác giáo dục, chính trị tư tưởng đạo đức
cách mạng trong đội ngũ giáo viên, học sinh, sinh viên và công nhân viên
các trường học" [4].
2. NHỮNG HÌNH THỨC TỔ CHỨC CÔNG TÁC TUYÊN HUẤN ĐỐI
VỚI SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Sinh viên sư phạm là lực lượng ưu tú của tầng lớp thanh niên.
Công tác tuyên huấn khá phong phú, gồm nhiều hình thức khác nhau.
Mỗi hình thức đều có vai trò nhất định góp phần vào việc hình thành
nhân cách sư phạm.
2.1. Các hình thức tuyên huấn chủ yếu
Công tác tuyên truyền gồm có các hình thức: Tuyên truyền miệng,
chủ yếu thuyết trình, giải thích khi học chính trị đầu năm, thời sự tổng hợp,
phổ biến nghị quyết
- Tuyên truyền qua phương tiện thông tin truyền thanh nội bộ của
trường, hàng tuần 2 buổi (thứ ba, thứ năm) những đợt sinh hoạt chính trị
lớn 20/11 ngày Nhà giáo Việt Nam, 26/3 ngày thành lập Đoàn Thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh Thông tin nhanh kịp thời các hoạt động trong nhà
trường, hoạt động dạy và học

7- Phòng chống tệ nạn xã hội HIV/AIDS: 43 phiếu = 43%
8- Cảm nhận của anh (chị) về tổ chức học tập chính trị đầu năm học
2000 - 2001:
- Bổ Ých: 96 phiếu = 96%; chưa bổ Ých: 1 phiếu = 1%.
25

Trích đoạn CễNG TÁC TUYấN HUẤN PHẢI ĐƯỢC TIẾN HÀNH THƯỜNG XUYấN, LIấN TỤC, CHỈ ĐẠO CHẶT CHẼ VÀ LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA ĐỔI MỚI CễNG TÁC TUYấN HUẤN, ĐỔI MỚI CÁC HèNH THỨC TUYấN TRUYỀN GIÁO DỤC, CHĂM LO TỚI ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT, TINH RA SẮC LỆNH: TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI (1) PHẢI ĐẶC BIỆT COI TRỌNG NGHỀ THẦY GIÁO VÀ CHĂM LO CỦNG CỐ HỆ THỐNG TRƯỜNG SƯ PHẠM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status