MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục là vấn đề của mọi thời đại, mọi quốc gia, dân tộc. Sự nghiệp phát triển GD
luôn được Đảng và nhà nước ta coi trọng, được đánh giá là Quốc sách hàng đầu. Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: "Phát triển Giáo dục và Đào tạo là
một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững; Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi
mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo
dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa. Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ
và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay
nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính
quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội
học tập, thực hiện phương châm học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản
xuất, nhà trường gắn với xã hội”. [2, 35]
Quan điểm của Đảng về GD được thể hiện rõ trong Luật GD 2005: “Phỏt triển giáo
dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học,
công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa;
bảo đảm cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy
mô trên cơ sở bảo đảm chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng”. (Điều
9) [8, 3]
Nhằm thực hiện thành công nhiệm vụ trên, chuẩn hóa trường học là chủ trương lớn
của Bộ GD&ĐT, là giải pháp tích cực, phù hợp với xu thế phát triển của XH. Ngày
05/7/2001 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Quyết định số 27/2001/QĐ-BGD&ĐT về
qui chế công nhận trường trung học đạt chuẩn quốc gia và qui định các tiêu chuẩn của
trường chuẩn quốc gia. Đú chính là giải pháp phát triển giáo dục THPT. Giải pháp này
đòi hỏi các cấp chính quyền, đoàn thể, các tổ chức XH từ Trung ương đến địa phương
phải vào cuộc, chăm lo cho sự nghiệp phát triển GD. Cú thể nói, đây là cách đầu tư cho
GD tốt nhất, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay. Nó không chỉ góp phần
nâng cao chất lượng GD toàn diện, đảm bảo chất lượng phổ cập GD đúng độ tuổi cho HS
xuất các biện pháp tăng cường công tác QL của Hiệu trưởng nhằm thực hiện mục tiêu
xây dựng các trường THPT trên địa bàn quận Ba Đình - Đống Đa - Tây Hồ, Hà Nội đạt
chuẩn quốc gia giai đoạn hiện nay.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác QL xây dựng trường chuẩn quốc gia của Hiệu trưởng.
2
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp QL xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia của Hiệu trưởng các
trường THPT ở quận Ba Đình - Đống Đa - Tây Hồ, Hà Nội.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Việc xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia ở Hà Nội đã đạt được những kết
quả nhất định, tuy vậy công việc này vẫn còn nhiều bất cập. Điều đó do nhiều nguyên
nhân, trong đó có những nguyên nhân thuộc về công tác QL của Hiệu trưởng. Nếu đề
xuất được những biện pháp QL xây dựng trường chuẩn quốc gia có tính khả thi thì sẽ
sớm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn quận
Ba Đình - Đống Đa - Tây Hồ, Hà Nội.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về QL xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia.
5.2. Khảo sát thực trạng xây dựng và QL xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia ở
quận Ba Đình - Đống Đa - Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
5.3. Đề xuất các biện pháp QL xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc của Hiệu trưởng
nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng các trường THPT đạt chuẩn quốc gia trên
địa bàn quận Ba Đình - Đống Đa - Tây Hồ.
6. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
6.1. Giới hạn đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp QL xây dựng trường THPT đạt chuẩn
quốc gia của Hiệu trưởng trường THPT.
6.2. Phạm vi địa bàn nghiên cứu
Đề tài triển khai nghiên cứu trong các trường THPT công lập trên địa bàn 3 quận Ba
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ
XÂY DỰNG TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Việt Nam là dân tộc có truyền thống về GD. Thành tựu của nền GD Việt Nam trong
nửa thế kỷ qua là niềm tự hào của đất nước. Hơn 50 nǎm, đặc biệt là sau hơn 20 nǎm đổi
mới của đất nước, nền GD&ĐT Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng.
Bắt đầu từ Đại hội lần thứ IV (năm 1979), Đảng ta đã ra quyết định số 14-NQTƯ về
cải cách GD với tư tưởng: Xem GD là bộ phận quan trong của cuộc cách mạng tư tưởng;
thực thi nhiệm vụ chăm sóc và GD thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành; thực hiện tốt
nguyên lý GD học đi đôi với hành, GD kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn
liền với XH. Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với
yêu cầu thực tế qua các kỳ Đại hội VII, VIII, IX, X của Đảng cộng sản Việt Nam.
Đại hội Đảng lần thứ IX nêu rừ: "Tiếp tục nõng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo
dục; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa" [2, 35]. Nõng cao chất lượng, hiệu
quả GD. Tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng GD, trước hết nâng cao chất lượng đội
ngũ nhà giáo, thực hiện GD toàn diện, đặc biệt chú trọng GD tư tưởng - chính trị, nhân
cách, đạo đức, lối sống cho người học. Tăng cường phối hợp nhà trường và gia đình,
phát huy vai trò GD gia đình. Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp GD theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng cường GD tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tự tu
dưỡng, tự tạo việc làm. Tăng cường GD hướng nghiệp, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực
của đất nước và các địa phương, vùng, miền.
Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định: "Giáo dục và đào tạo cùng với khoa
học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp
hóa, hiện đại hoá đất nước; Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ
chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại
hóa, xã hội hóa, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam;” [3, 38]
Nhìn lại tình hình đất nước, trải qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhân
dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, cho đến nay,
nước ta vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển. Trong khi Việt Nam bước vào
giáo viên trường chuẩn quốc gia THPT Xuân Đỉnh - Hà Nội”.
Tác giả Đoàn Văn Ninh, năm 2006: “Biện pháp quản lý việc xây dựng trường chuẩn
quốc gia của Hiệu trưởng trường THPT tỉnh Tuyên Quang”.
Có thể thấy, QL xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia đang được nhiều người
quan tâm, có nhiều luận văn đã và đang tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này. Các luận văn
đó đều căn cứ vào thực trạng QL xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia của Hiệu
trưởng ở các địa phương để từ đó đưa ra các biện pháp tăng cường công tác QL xây dựng
trường chuẩn quốc gia nhằm nâng cao chất lượng GD nói chung và chất lượng GD toàn
diện trong trường THPT nói riêng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tuy
6
vậy, đối với công tác QL xây dựng trường THPT chuẩn quốc gia của Hiệu trưởng trường
THPT quận Ba Đình - Đống Đa - Tây Hồ thì tới nay chưa có tác giả nghiên cứu.
1.2. CÁC KHÁI NIỆM CÔNG CỤ CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Quản lý
1.2.1.1. Khái niệm quản lý
Trong lịch sử phát triển của XH loài người, hoạt động QL đã xuất hiện từ rất sớm.
Từ khi con người biết tập hợp nhau lại, tập trung sức lực để tự vệ hoặc lao động kiếm
sống thì bên cạnh lao động chung của mọi người đã xuất hiện những hoạt động tổ chức,
phối hợp, điều khiển đối với họ. Những hoạt động đó xuất hiện, tồn tại và phát triển như
một yếu tố khách quan, là cơ sở đảm bảo cho các hoạt động chung của con người đạt
được kết quả mong muốn. Đú chớnh là những dấu ấn đầu tiên của hoạt động QL.
Khi nghiên cứu về cơ sở QL, Cỏc Mỏc đó khẳng định: “Tất cả mọi lao động trực
tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần
đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và hiện thực những chức năng
chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận động của
những khí quan độc lập của nó” [46, 7]. Như vậy, đã xuất hiện một dạng lao động mang
tính đặc thù là tổ chức, điều khiển các hoạt động của con người theo những yêu cầu nhất
định - được gọi là hoạt động quản lý.
Do tính chất phong phú, đa dạng và phức tạp trong hoạt động của con người nên
cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về QL tuỳ theo cách tiếp cận của tác giả:
dung sau đây:
- QL là hoạt động thiết yếu của một tổ chức, một nhóm XH.
- QL là hoạt động đưa tổ chức tiến đến mục tiêu dự kiến thông qua sự nỗ lực cố
gắng của các cá nhân trong tổ chức.
- QL là những tác động có hướng đích, có mục tiêu cụ thể và phù hợp với quy luật
khách quan của chủ thể QL đến đối tượng QL.
- QL là các hoạt động lựa chọn, tổ chức, khai thác tối ưu các nguồn lực và các tác
động nhằm phát huy, phối hợp mọi nỗ lực của cá nhân trong việc đưa tổ chức tiến đến
mục tiêu chung.
Vậy, ta có thể định nghĩa một cách chung nhất về QL như sau:
Quản lý là các tác động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp với quy luật khách quan
của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực và phối
hợp mọi nỗ lực của cá nhân để đưa tổ chức tiến đến mục tiêu đã xác định.
Với cách hiểu như vậy thì QL là một hệ thống gồm 3 thành tố cơ bản:
Chủ thể quản lý: là nơi đưa ra những tác động có mục đích, phù hợp với quy luật
chung đến đối tượng QL nhằm phối hợp những nỗ lực của các cá nhân nhằm đưa tổ chức
tiến đến mục tiêu. Chủ thể QL có thể là cá nhân hoặc tập thể.
Đối tượng quản lý: là nơi chịu tác động và thay đổi dưới những tác động có mục
8
đích của chủ thể QL. Đối tượng QL bao gồm con người trong tổ chức và các nguồn lực
khác trong và ngoài tổ chức.
Mục tiêu quản lý: là hình ảnh mong muốn của tổ chức trong tương lai, trong một
giai đoạn và hoàn cảnh cụ thể, là trạng thái cần có của tổ chức để ổn định và phát triển.
Sơ đồ 1.1: Mô hình quản lý
Trong quan hệ QL, giữa chủ thể và khách thể thường xuyên tồn tại các mối quan hệ
qua lại, với những tác động có tính tương hỗ lẫn nhau. Chủ thể QL tạo ra các tác động
QL, còn khách thể QL thì tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng trực
tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục tiêu của QL. Ngày nay, QL được coi
là một trong năm nhân tố cho phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm: Vốn, nguồn lực lao
Tổ chức công việc là sắp xếp công việc hợp lý, phân công nhiệm vụ rõ ràng để mọi
người hướng vào mục tiêu chung.
c) Chức năng chỉ đạo: Chỉ đạo là sự tác động đến con người bằng các mệnh lệnh, giao
nhiệm vụ, khuyến khích động viên làm cho người được QL tự giác, tích cực làm việc
đúng kế hoạch và nhiệm vụ được phân công. Tạo động lực để con người tích cực hoạt
động bằng các biện pháp động viên, khen thưởng và trách phạt.
d) Chức năng kiểm tra: Là công việc thu thập thông tin ngược để kiểm soát hoạt động
của bộ máy nhằm điều chỉnh kịp thời những sai sót, lệch lạc đưa tổ chức tiến đến mục
tiêu.
Trong QL, chủ thể QL phải thực hiện một dãy các chức năng QL kế tiếp nhau, từ
việc xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu phát triển cho đến kiểm tra các kết quả thực
hiện và tổng kết quá trình QL. Kết quả có thể đạt hoặc chưa đạt các mục tiêu mong
muốn. Trên cơ sở các thông tin thu được, nhà QL lại xây dựng mục tiêu phát triển mới
cho tổ chức và một chu trình QL mới lại tiếp tục. Tuy nhiên các chức năng QL trên thực
tiễn không chỉ được thực hiện một cách tuần tự mà nhiều khi đan xen lẫn nhau. Thông
tin là huyết mạch của QL, không có thông tin thì nhà QL không thể đưa ra những quyết
định kịp thời và đúng đắn. Chỉ có thông tin chính xác về đối tượng, nhà QL mới thực
hiện tốt 4 chức năng QL. Căn cứ 4 chức năng và vai trò thông tin trong QL, chúng ta có
thể biểu diễn một chu trình QL như sau:
Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ của các chức năng quản lý
10
KẾ HOẠCH
KIỂM TRA TỔ CHỨC
CHỈ ĐẠO
THÔNG
TIN
Trong QL người ta chia ra thành 3 cấp: cấp cao, cấp trung và cấp cơ sở. Nhà QL dù
ở cấp nào cũng đều phải thực hiện cả 4 chức năng QL nêu trên, song căn cứ vào tính chất
và nhiệm vụ của mỗi cấp QL mà tỷ lệ thời gian nhà QL phải dành cho các chức năng QL
không giống nhau: càng ở cấp cao thì tỷ lệ % thời gian và công sức dành cho hoạt động
11
đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt
Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục
đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất". [65, 12]
Theo tác giả Bùi Văn Quõn thỡ: "Quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội
trong đó diễn ra quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức, và
thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động để gây
ảnh hưởng đến đối tượng quản lý được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm thay đổi
hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự ổn định và phát triển của giáo dục trong việc đáp ứng
các yêu cầu mà xã hội đặt ra đối với giáo dục". [66, 14]
Trên cơ sở những định nghĩa quản lý giáo dục nói chung và phân tích các định
nghĩa trên, có thể hiểu rằng: Quản lý giáo dục là những tác động có mục đích, có kế
hoạch, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực và phối hợp những nỗ lực của cán bộ, giáo viên,
nhân viên và học sinh để phát triển sự nghiệp giáo dục theo mục tiêu, quan điểm giáo
dục của Đảng.
1.2.3. Quản lý nhà trường
1.2.3.1. Nhà trường
Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của XH, là nơi thực hiện các chức năng kiến
tạo các kinh nghiệm XH cho một nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạo này một
cách tối ưu theo quan niệm XH, thực hiện chức năng tạo nguồn cho các yêu cầu của XH,
đào tạo các công dân cho tương lai.
1.2.3.2. Quản lý nhà trường
Quản lý giáo dục có thể chia làm hai cấp độ là cấp vĩ mô và cấp vi mô. Quản lý giáo
dục cấp vĩ mô là QL cả hệ thống GD bao gốm tất cả các thành tố của hệ thống trong đó
QL nhà trường là trọng tâm. QL nhà trường là quản lý giáo dục cấp vi mô.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì "Quản lý nhà trường (Việt Nam) là thực hiện quan
điểm, đường lối giáo dục của Đảng (trong phạm vi trách nhiệm) trong việc thực hiện các
hoạt động khai thác, sử dụng, tổ chức thực hiện các nguồn lực và những tác động của chủ
thể quản lý đến các thành tố của quá trình giáo dục diễn ra trong nhà trường, đưa nhà
Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THPT được ghi tại Điều 3 - Điều lệ trường
trung học bao gồm:
- Tổ chức dạy học, học tập và các hoạt động GD khác theo chương trình GD trung
học do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành.
- Tiếp nhận HS, vận động HS bỏ học đến trường, thực hiện kế hoạch phổ cập GD
THCS trong phạm vi cộng đồng theo quy định của Nhà nước.
- QL giáo viên, nhân viên và HS.
- QL sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp
luật.
13
- Phối hợp với gia đình HS, tổ chức cá nhân trong cộng đồng thực hiện các hoạt
động GD.
- Tổ chức giáo viên, nhân viên và HS tham gia các hoạt động xã hội trong phạm vi
cộng đồng.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. [29, 2]
1.2.4.2. Hiệu trưởng trường trung học phổ thông
Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng trường THPT được ghi tại Điều 17 - Điều
lệ trường trung học, bao gồm:
- Tổ chức bộ máy nhà trường.
- Xõy dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học.
- QL giáo viên, nhân viên và HS; QL chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra,
đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, nhân viên.
- QL và tổ chức giáo dục HS.
- QL hành chính, tài chính, tài sản của nhà trường.
- Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, và
HS; tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường.
- Được học các lớp chuyên môn nghiệp vụ và hưởng các chế độ hiện hành. [29, 8]
1.2.4.3. Quản lý trường trung học phổ thông
Trường THPT là một cơ sở GD, nên QL trường THPT được hiểu là QL theo nghĩa
hẹp. Vì thế vấn đề đặt ra chính là người Hiệu trưởng tác động như thế nào vào các thành
Ban chỉ đạo xây dựng trường chuẩn quốc gia của nhà trường báo cáo quá trình thực
hiện theo các nội dung:
Phần 1: Đặc điểm tình hình địa phương, nhà trường.
Phần 2: Quá trình tổ chức thực hiện xây dựng trường THPT đạt chuẩn quốc gia.
Phần 3: Phương hướng nhiệm vụ sau khi được công nhận trường chuẩn quốc gia.
Ban chỉ đạo xây dựng trường chuẩn quốc gia làm văn bản đề nghị xét công nhận
trường chuẩn quốc gia.
Sở GD&ĐT chịu trách nhiệm tiếp nhận, thẩm định hồ sơ đề nghị xét công nhận đạt
chuẩn quốc gia, thống nhất bằng văn bản với UBND cấp huyện và chuyển đến Hội đồng
xét đề nghị cấp tỉnh.
• Hội đồng xét đề nghị công nhận và đoàn kiểm tra
Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập một Hội đồng xét đề nghị công
nhận trường trung học đạt chuẩn quốc gia (gọi tắt là Hội đồng xét đề nghị). Hội đồng xét
đề nghị và đoàn kiểm tra cấp tỉnh được thành lập hàng năm; thành phần, nhiệm vụ của
các Hội đồng xét công nhận và đoàn kiểm tra được quy định như sau:
* Hội đồng xét đề nghị
a. Thành phần:
15
- Chủ tịch: Phó chủ tịch UBND tỉnh.
- 2 Phó Chủ tịch: + Giám đốc Sở GD&ĐT làm Phó chủ tịch thường trực.
+ Chủ tịch công đoàn GD&ĐT cấp tỉnh/thành phố.
- Các ủy viên và thư ký của Hội đồng gồm: đại diện các cơ quan chức năng có liên
quan do Chủ tịch UBND tỉnh/thành phố chỉ định.
b. Thẩm quyền thành lập:
Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập Hội đồng xét và công nhận.
c. Nhiệm vụ:
- Chỉ đạo công tác kiểm tra phục vụ cho việc xét công nhận trường THPT đạt chuẩn
quốc gia.
- Xét chọn trường THPT đạt chuẩn quốc gia.
- Lập hồ sơ đề nghị công nhận trường đạt chuẩn quốc gia trình Chủ tịch UBND cấp
nào bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên.
d) Các Hội đồng và Ban đại diện Hội CMHS: Hoạt động có kế hoạch, nền nếp, đạt hiệu
quả thiết thực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, xây dựng nề nếp kỷ cương của
nhà trường.
e) Tổ chức Đảng và các đoàn thể: Đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh, tiên tiến trong
hoạt động ở địa phương được từ cấp huyện (thị) trở lên công nhận.
1.3.2. Tiêu chuẩn 2: Về cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên
a) Cán bộ quản lý
Hiệu trưởng và các Phó hiệu trưởng đạt tiêu chuẩn quy định theo Điều lệ trường
trung học, thực hiện tốt quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường, được cấp quản
lý giáo dục trực tiếp xếp loại từ khá trở lên về năng lực và hiệu quả quản lý.
Yêu cầu chủ yếu đối với Hiệu trưởng trường chuẩn quốc gia:
Về phẩm chất chính trị: Đạt trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên; có quan
điểm, lập trường và bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định; nắm được đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn; có khả năng tự hoàn
thiện, tự đánh giá kết quả công việc của bản thân, đánh giá con người mà mình quản lý
theo tiêu chuẩn chính trị; biết biến nhận thức chính trị của mình thành nhận thức của mọi
người, tạo được lòng tin và lôi cuốn mọi người tham gia.
Về kiến thức pháp luật: Hiểu và nắm được luật pháp, nhất là những ngành luật có
liên quan đến chuyên môn ngành nghề của mình sao cho trong quá trình làm việc không
vi phạm pháp luật.
Về trình độ chuyên môn: Đạt chuẩn đào tạo từ Đại học sư phạm trở lên; có trình độ
cao và am hiểu tường tận chuyên môn được đào tạo.
Về năng lực quản lý: Có bằng hoặc chứng chỉ về quản lý giáo dục do nhà trường
hoặc cấp tỉnh (thành phố) hoặc trường Cán bộ Quản lý Giáo dục và Đào tạo cấp Bộ cấp;
có bản lĩnh, có khả năng nhạy cảm, linh hoạt, biết sử dụng đúng tài năng từng người,
đánh giá đúng con người, biết xử lý tốt các mối quan hệ trong và ngoài; có khả năng
17
quan sát nắm được các nhiệm vụ từ tổng thể đến chi tiết để tổ chức nhà trường hoạt động
đồng bộ, có hiệu quả. Phải nắm chắc tình hình nhà trường, đánh giá đúng thực trạng vấn
(giai đoạn 2001 - 2010) ban hành kèm theo Quyết định số 27/2001/QĐ-BGDĐT ngày
05/07/2001 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT.
18
1.3.5. Tiêu chuẩn 5: Về xã hội hóa giáo dục
Tích cực tham mưu cho cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương về công tác giáo
dục. Có nhiều hình thức huy động các lực lượng xã hội vào việc xây dựng môi trường
giáo dục lành mạnh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đảm bảo mối
quan hệ chặt chẽ về giáo dục giữa nhà trường, cha mẹ học sinh và cộng đồng theo
chương VII của Điều lệ trường trung học; huy động các lực lượng xã hội tham gia đóng
góp xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường.
1.4. QUẢN LÝ XÂY DỰNG TRƯỜNG THPT CHUẨN QUỐC GIA
Để đạt được các tiêu chí theo 5 tiêu chuẩn của trường THPT chuẩn quốc gia qui định
tại Quy chế công nhận trường trung học đạt chuẩn quốc gia, người Hiệu trưởng cần tập
trung QL 7 nội dung chủ yếu, đó là:
- QL tổ chức nhà trường.
- QL hoạt động dạy của giáo viên.
- QL hoạt động học của HS.
- QL hoạt động giáo dục toàn diện.
- QL bồi dưỡng đội ngũ CBQL, giáo viên và nhân viên.
- QL cơ sở vật chất nhà trường.
- QL xã hội hóa giáo dục.
1.4.1. Quản lý tổ chức nhà trường theo chuẩn quốc gia
a) Thành lập các tổ chuyên môn, tổ hành chính và các Hội đồng theo qui định
trường chuẩn quốc gia: Căn cứ vào số lượng giáo viên và đặc thù môn học, Hiệu trưởng
quyết định sắp xếp giáo viên thành các tổ, nhóm chuyên môn; sắp xếp toàn bộ nhân viên
thành tổ hành chính.
b) Quyết định bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, tổ hành chính:
Trước tiên, Hiệu trưởng tổ chức xây dựng tiêu chuẩn tổ trưởng, tổ phó chuyên môn
là người có phẩm chất và năng lực chuyên môn tốt. Tiến hành lấy phiếu tín nhiệm tổ
trưởng, tổ phó theo đơn vị các tổ chuyên môn và theo các bước: Giới thiệu danh sách
Hiệu trưởng cần quy định nội dung và hướng dẫn yêu cầu cụ thể của từng loại hồ sơ,
đảm bảo có đầy đủ các loại hồ sơ của giáo viên theo quy định tại Điều lệ trường trung
học. Thường xuyên kiểm tra bằng nhiều hình thức để kịp thời điều chỉnh những sai lệch.
c) Quản lý việc phân công giảng dạy và xếp thời khóa biểu: Việc phân công đúng
khả năng của mỗi giáo viên sẽ mang lại kết quả to lớn, ngược lại sẽ phát sinh tiêu cực
ảnh hưởng không tốt đến hoạt động chung của nhà trường. Căn cứ chủ yếu để phân công
giáo viên là trình độ tay nghề, xếp loại hàng năm. Ngoài ra, cần chú ý đến các yếu tố sức
khoẻ, số năm công tác, hoàn cảnh gia đình của giáo viên và yêu cầu đổi mới nội dung
chương trình giáo dục THPT, đặc biệt khi phân công giáo viên dạy phân ban, dạy tự
chọn và tổ chức các hoạt động GD.
20
QL việc xếp TKB đảm bảo xếp đủ tất cả các môn học và các hoạt động GD theo qui
định của Bộ GD&ĐT. Bố trí hợp lý, khoa học gọn giờ cho giáo viên lên lớp và đảm bảo
sức khoẻ, phù hợp với tâm sinh lý HS.
d) Quản lý giờ lên lớp của giáo viên: Giờ lên lớp là hình thức tổ chức cơ bản và chủ
yếu của quá trình dạy học. Giờ lên lớp giữ vai trò quan trọng đối với chất lượng dạy học
trong nhà trường, trong đó giáo viên là người quyết định trực tiếp. Để nâng cao chất
lượng giờ lên lớp của giáo viên, người Hiệu trưởng phải xây dựng được nền nếp giờ lên
lớp tập trung chủ yếu vào các vấn đề: duy trì ra vào lớp đúng giờ; bố trí dạy thay kịp thời
khi có giáo viên nghỉ; có kế hoạch thanh tra giờ dạy của giáo viên; kiểm tra định kỳ và
đột xuất sổ ghi đầu bài các lớp và vở ghi của HS để kịp thời chỉ đạo sửa chữa các khuyết
điểm.
e) Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh: Kiểm tra, đánh giá
là một bộ phận hợp thành, một khâu không thể thiếu được trong quá trình dạy học. QL
việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS nhằm tác động trực tiếp đến giáo viên để
họ thực hiện đầy đủ và khoa học quá trình kiểm tra, đánh giá trên cơ sở bảo đảm tính
công bằng, khách quan; nhằm thúc đẩy quá trình học tập của HS và quá trình dạy học
của giáo viên ngày càng tiến bộ, đáp ứng ngày càng đầy đủ và vững chắc các yêu cầu của
trường chuẩn quốc gia.
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS phải được thực hiện theo phương
sống và học để làm người.
Nhà trường xây dựng nội quy học tập, cụ thể hoỏ cỏc yêu cầu về nhiệm vụ học tập
của HS qui định tại Điều lệ trường trung học và rèn luyện HS tự giác thực hiện. Phải có
sự thống nhất yêu cầu và biện pháp GD tinh thần thái độ học tập của HS trong tất cả các
hoạt động học và ở tất cả các giờ lên lớp.
b) Quản lý việc đổi mới phương pháp học của học sinh đáp ứng yêu cầu đổi mới
giáo dục THPT
Đây là một trong các yêu cầu đặt ra đối với trường chuẩn trong bối cảnh thực hiện
đổi mới giáo dục THPT. Phát triển năng lực của mỗi cá nhân, thực hiện dạy học dựa vào
hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của HS với sự tổ chức và hướng dẫn đúng
mức của giáo viên, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, bồi dưỡng hứng
thú học tập, tạo niềm tin và niềm vui trong học tập. Vì vậy phải tổ chức học tập, nghiên
cứu, bồi dưỡng để giáo viên nắm vững các phương pháp dạy học, quán triệt trách nhiệm
của mỗi thành viên đối với việc hướng dẫn phương pháp học cho HS.
Có kế hoạch chỉ đạo thực hiện và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, điều chỉnh nhằm
thực hiện có hiệu quả việc GD phương pháp học cho HS.
c) Chỉ đạo việc xây dựng nền nếp học của học sinh:
Xõy dựng nền nếp học tập của HS đảm bảo hoạt động học diễn ra theo trình tự, có tổ
chức, có kế hoạch mang tích chất hành chính - sư phạm trong nhà trường. Cần mạnh dạn
xoá bỏ những nền nếp lạc hậu, xây dựng nền nếp mới cần thiết cho việc nâng cao chất
lượng giáo dục HS.
22
Việc theo dõi, kiểm tra, nhận xét tình hình thực hiện nền nếp phải được tiến hành
thường xuyên, chặt chẽ. Cần phát huy vai trò tự quản của HS để ổn định nền nếp học tập
một cách thường xuyên, duy trì các hoạt động học tập có hiệu quả, đem lại bầu không
khí thuận lợi, nghiêm túc, người dạy và người học luôn làm việc một cách chuẩn mực.
d) Hướng dẫn giáo viên rèn luyện kỹ năng tự đánh giá cho học sinh trường chuẩn
quốc gia:
Đây là một trong nội dung thực hiện đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả
học tập của HS. Để phát huy vai trò tích cực chủ động của HS, giáo viên cần hướng dẫn
nhà trường nhằm huy động họ tổ chức chỉ đạo hoạt động GD ngoài giờ lên lớp theo
những quy luật khách quan nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nhân cách toàn diện đáp
ứng yêu cầu về chất lượng GD của trường chuẩn quốc gia.
c) Quản lý các hoạt động giáo dục thể chất, giáo dục môi trường đáp ứng yêu cầu
trường chuẩn quốc gia:
GD thể chất trong trường THPT là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu GD&ĐT, đồng
thời là một mặt GD toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm tạo ra một lớp người phát triển cao về
trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức. Chủ tịch
Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở, kêu gọi việc GD thể chất thường xuyên, liên tục
trong các nhà trường và trong toàn XH, bởi lẽ giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, xây
dựng đời sống mới, việc giữ gìn cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công. Mỗi một
người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mọi người dân khỏe mạnh, tức là cả nước khoẻ
mạnh.
GD môi trường theo hướng tích hợp trong chương trình dạy học. Chương trình và
nội dung của nó không chỉ được cấu trúc một cách cô đọng và có hệ thống ở một phần
nào đó trong toàn bộ hệ thống chương trình mà cũn cú một số môn trụ cột tích hợp được
nhiều nhất nội dung GD môi trường như: Sinh học, Địa lý, Giáo dục công dân. Nội dung
GD môi trường bao gồm các vấn đề về môi trường và tài nguyên, độ ô nhiễm của môi
trường, mối quan hệ giữa dân số - môi trường - tài nguyên, các biện pháp bảo vệ và phát
triển môi trường bền vững.
d) Quản lý hoạt động giáo dục lao động kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, dạy nghề
theo yêu cầu xây dựng trường chuẩn quốc gia:
Nhiệm vụ cơ bản của GD lao động ở trường trung học là GD ý thức lao động, hiểu
lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân; hình thành những phẩm chất cần thiết cho
lao động: tính kỷ luật, tính cẩn thận, tinh thần trách nhiệm, vượt khó, đoàn kết; rèn luyện
kỹ năng, kỹ xảo lao động, lao động có kỹ thuật nghề nghiệp tiến tới làm tốt một nghề.
Đây là một trong những nội dung quan trọng thực hiện đổi mới giáo dục THPT mà
trường chuẩn phải đi đầu thì mới thực hiện tốt phân luồng HS sau tốt nghiệp THPT. Tổ
chức thực hiện GD lao động có thể tiến hành thông qua các hình thức: lao động tu bổ,
sửa chữa, xây dựng môi trường, lao động mang tích chất XH, chính trị ở địa phương, lao
năng khiếu về một môn nghệ thuật nào đó, mà là GD văn hoá thẩm mỹ chung, giúp HS
có khả năng tiếp thu cái đẹp và biết thưởng thức cái thẩm mỹ trong cuộc sống hàng ngày.
Nhiệm vụ GD thẩm mỹ là: Phát triển tri giác thẩm mỹ, hình thành năng lực cảm thụ cái
đẹp trong tự nhiên, trong nghệ thuật và trong cuộc sống hàng ngày. Bồi dưỡng năng
khiếu thẩm mỹ, hình thành năng lực sáng tạo cái đẹp, biết phân biệt cái đẹp với những
25