SKKN Rèn luyện kĩ năng tự học cho HS trong dạy học Địa lí lớp 10 – THPT - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"RÈN LUYỆN KN TỰ HỌC CHO HS TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ
LỚP 10 – THPT"

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 BSL Bảng số liệu
2 CN Công nghiệp
3 CNTT Công nghệ thông tin
4 GV Giáo viên
5 HS Học sinh
6 KN Kỹ năng
7 PP Phương pháp
8 SĐTD Sơ đồ tư duy
9 THPT Trung học phổ thông
MỤC LỤC
Số
trang
MỞ ĐẦU 1
1.Đặt vấn đề 1
2.Mục đích, nhiệm vụ đề tài 3
3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4.Phương pháp nghiên cứu 3
NỘI DUNG 5
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA RÈN LUYỆN KĨ
NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ
LỚP 10 – THPT
5
1.1.Cơ sở lý luận 5
1.2.Cơ sở thực tiễn 6
II.RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG

Minh đã nói “Vì hạnh phúc mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng
người”. Đổi mới nền giáo dục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục mà quy
luật của chất lượng là phát huy tối đa nội lực. Trong các văn kiện Đại Hội VIII (12-
1995), Đảng đã xác định rõ “Đổi mới nội dung, chương trình, PP giáo dục theo hướng
chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng cường giáo dục tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tu
dưỡng đạo đức, tự tạo việc làm”. Nhằm thực hiện mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Để tạo ra “những con người lao động tự chủ, năng
động, sáng tạo” đáp ứng được yêu cầu của thời đại, có tri thức khoa học cao, có KN
hành động và tư duy thực tiễn, có PP tự học. Nghị quyết trung ương 2 của Ban chấp
hành Trung ương Đảng khóa VIII ghi đậm những câu sau “Đổi mới mạnh mẽ PP giáo
dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo
của người học…Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo”. Điểm 2, điều 4,
chương I của Luật giáo dục có ghi “PP giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học
tập và ý chí vươn lên”.
Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm tới phát huy “nội lực” của người học trong đó
lấy tự học làm cốt - đây là con đường cơ bản và đúng đắn, phục vụ đắc lực cho sự
nghiệp phát triển của đất nước. Ta cũng đã quan tâm đầu tư cho giáo dục, đào tạo tuy
nhiên, “bây giờ so với nhiều nước trong khu vực thì phải thừa nhận sự phát triển giáo
dục nước ta còn nhiều mặt thua kém, đang có nguy cơ tụt hậu. Kết quả thực hiện các
mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, chương trình, PP đào tạo còn có những hạn chế”
(2)
.
Thực tế trong dạy học nói chung, dạy và học Địa lí lớp 10 –THPT nói riêng chưa phát
huy tốt nội lực của người học. HS vẫn học theo lối ghi máy móc, học thuộc, học nhồi
nhét, học thụ động, khả năng “tự học”- một nội lực phi thường ở HS vẫn tồn tại dưới
dạng tiềm năng. Một trong những nguyên nhân quan trọng của thực trạng đó là nhiều
GV chưa chú ý hướng dẫn cho HS cách tự học, chưa chú trọng giáo dục rèn luyện KN
tự học cho HS.
Đặc trưng của môn Địa lí trong nhà trường phổ thông mang tính chất tổng hợp

Kỹ năng tự học Địa lí cho HS lớp 10 – THPT.
3.2. Phạm vi.
- Đối tượng là HS lớp 10 – THPT.
- Chương trình Địa lí lớp 10 (chương trình cơ bản).
- Tập trung nghiên cứu tự học của HS trên lớp, ngoài lớp và ở nhà.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập, xử lý thông tin
Tài liệu được thu thập từ các nguồn khác nhau như: SGK, sách tham khảo, khóa
luận tốt nghiệp, các trang web có nội dung liên quan, các tạp chí giáo dục…sau đó tiến
hành phân tích, so sánh, chọn lọc nội dung phù hợp để giải quyết các nhiệm vụ. Thời
gian tiến hành: từ 8/2/2013 – 3/3/2014.
4.2. Phương pháp quan sát, điều tra thực tế
Tổ chức điều tra thực tế bằng phiếu hỏi (150 phiếu hỏi được phát cho 150 HS lớp
12) và quan sát thực tế trong các tiết dự giờ. Nhằm đưa ra những luận chứng quan
trọng, khách quan, chính xác về thực trạng tự học của HS lớp 10
Địa điểm quan sát, điều tra: trường THPT Trần Quang Khải – tỉnh Hưng Yên,
trường THPT Lê Qúy Đôn – tỉnh Thái Bình.
Thời gian thực hiện: từ 8/2/2013-29/3/2013 tại trường THPT Lê Qúy Đôn – tỉnh
Thái Bình và từ ngày 12/1/2014 – 3/3/2014 tại trường THPT Trần Quang Khải – tỉnh
Hưng Yên.
5.3. Phương pháp toán học
Sử dụng các công thức toán thống kê để xử lí các kết quả thu được từ thực
nghiệm sư phạm, điều tra, nhằm làm tăng tính chính xác, khách quan, tính thuyết phục
cho kết quả nghiên cứu.
5.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
PP được sử dụng để đánh giá tính khả thi của đề tài. Tác giả thực nghiệm tại
trường THPT Lê Qúy Đôn – tỉnh Thái Bình từ ngày 8/2/2013 - 29/3/2013 và trường
THPT Trần Quang Khải – tỉnh Hưng Yên từ ngày12/1/2014 – 3/3/2014. Sau đó phân
tích cả định tính và định lượng kết quả thực nghiệm sư phạm và rút ra kết luận của đề
tài.

KN Địa lí: là hệ thống phương thức hành động mà HS hoàn thành một cách có
ý thức, trên cơ sở những kiến thức Địa lí đã có.
Trong học tập bộ môn Địa lý ở nhà trường phổ thông có nhiều KN như:
+ Kỹ năng sử dụng BĐ, biểu đồ, BSL, tranh ảnh.
+ Kỹ năng đọc – ghi chép sách, tài liệu tham khảo.
+ Kỹ năng làm việc với các tài liệu tham khảo (sách, báo, tạp chí…).
+ Kỹ năng làm các bài tập Địa lý.
+ Kỹ năng lập kế hoạch.
+ Kỹ năng sử dụng CNTT.
+ Kỹ năng ôn tập – kiểm tra.
+ Kỹ năng trình bày thông tin Địa lí, xây dựng báo cáo Địa lí…
Rèn luyện kỹ năng tự học nhằm hướng tới cái đích cao hơn là hình thành năng
lực tự học, đáp ứng những đòi hỏi của xã hội, giúp HS có thể học mọi lúc, mọi nơi,
mọi hoàn cảnh và tự học suốt đời như lời khẳng định của Lê nin “học, học nữa, học
mãi”.
Tác giả còn dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước trong đổi mới phương
pháp dạy học ở nhà trường phổ thông nói chung; môn Địa lí nói riêng; mô hình “dạy –
tự học” của giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn…làm cơ sở lý luận.
1.2.Cơ sở thực tiễn.
Ngoài cơ sở thực tiễn là mục tiêu, cấu trúc, nội dung chương trình Địa lí lớp 10 -
THPT; đặc điểm tâm, sinh lý, nhận thức của học sinh lớp 10; tác giả còn tiến hành dự
giờ tiết học, phát phiếu hỏi cho HS tại trường THPT Trần Quang Khải và trường
THPT Lê Qúy Đôn – tỉnh Thái Bình để thăm dò ý kiến và khảo sát kỹ năng tự học của
các em, kết quả nhận thấy:
Quan sát thấy trong các giờ học, GV còn ít áp dụng các PP, kĩ thuật dạy học hiện
đại, chủ yếu sử dụng PP diễn giảng; PP đặt câu hỏi được sử dụng nhưng với lượng thời
gian không nhiều.
Theo quan sát thấy: mỗi lần GV đặt câu hỏi, HS vội nhìn SGK tìm đúng chỗ GV
hỏi, để khi được gọi đứng lên thì đọc nguyên văn và không có ý kiến cá nhân, không
có sự sáng tạo. Tuy những câu hỏi mang tính chất tái hiện là không thể thiếu nhưng

cho ghi…Một trong những nguyên nhân cũng xuất phát từ phía GV: khi soạn giáo án
chưa chú trọng tới “hoạt động nối tiếp” và cũng không hướng dẫn HS cách ghi nhớ, ôn
bài…
Cách dạy và học như vậy nên các KN tự học môn Địa lí của HS còn nhiều hạn
chế.
Bảng: Mức độ thực hiện các kỹ năng tự học
Đơn vị (%)
Các kỹ năng tự học Mực 4 Mức 3 Mức 2 Mức 1
Kỹ năng lập kế hoạch tự học 0 10 30 60
Kỹ năng đọc sách, tài liệu 0 30 50 20
Kỹ năng ghi chép bài 30 50 20 0
Kỹ năng sử dụng SĐTD 0 0 20 80
Kỹ năng ôn tập 20 50 20 10
Kỹ năng ghi nhớ 0 20 50 30
Kỹ năng hoàn thiện các bài tập 20 40 20 20
Kỹ năng làm đề cương bài học 10 40 20 20
Kỹ năng làm đề cương bài học 10 20 20 50
Kỹ năng thu thập tài liệu học tập 5 30 20 45
Kỹ năng sử dụng BĐ, biểu đồ, BSL 35 35 20 10
Kỹ năng sử dụng CNTT khi tự học 5 20 50 25
(Mức 4 là mức cao nhất)
Rất nhiều KN quan trọng nhưng các em vẫn chỉ dừng ở mức 1, mức 2 đặc biệt là
KN lập kế hoạch tự học, KN sử dụng SĐTD, làm đề cương bài học, thu thập tài liệu
học tập, sử dụng CNTT khi tự học…Nhiều em cho biết chúng em chưa bao giờ lập kế
hoạch tự học, cũng không biết SĐTD là sơ đồ như thế nào. Đối với môn Địa, khi kiểm
tra thì chỉ cần học thuộc trong vở cô cho ghi nên không phải lập đề cương ôn tập…Rất
ít HS có KN tự học môn Địa lí đạt ở mức 4.
Xét một cách tổng thể, dựa trên quan điểm dạy học hiện đại, dạy học tích cực lấy
HS làm trung tâm, từ khái niệm, tầm quan trọng của tự học trong việc phát huy nội lực
con người và thực trạng tự học của HS trong học tập môn Địa lý, kết hợp với nghiên

Người thầy phải biết cách tổ chức các hoạt động học tập nhằm tích cực hóa tính
tự lực, sáng tạo, chủ động phát hiện và tìm ra kiến thức của người học. Muốn vậy
người thầy phải “đổi mới phong cách dạy”, điều này chỉ thực hiện được khi tích cực
hóa các PP, kĩ thuật, cách đánh giá theo quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước.
2.2.1.1.Rèn luyện kỹ năng tự học theo cá nhân.
Rèn luyện kỹ năng tự học theo cá nhân GV cần giảm tối đa PP độc thoại thuyết
trình “lấy người dạy là trung tâm”, thay vào đó là sử dụng các PP, kĩ thuật tăng cường
hoạt động độc lập nhận thức của bản thân từng HS để các em tích cực “động não”, tự
lực suy nghĩ phát hiện và giả quyết vấn đề.
 Phương pháp đàm thoại gợi mở.
Định nghĩa: “ PP đàm thoại gợi mở là PP GV
khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để HS trả lơi nhằm
gợi mở cho HS sáng tỏ những vấn đề mới bằng sự
tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những
kinh nghiệm đã tích lũy được trong cuộc sống, nhằm giúp HS củng cố, mở rộng, đào
sâu, tổng kết, hệ thống hóa tri thức đã tiếp thu được nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá
và giúp HS tự kiểm tra, đánh giá việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kĩ xảo trong quá trình
học.” (4).
- Những yêu cầu cơ bản trong việc sử dụng PP đàm thoại.
(4) Đặng Văn Đức, (1999), trang 101, Kĩ thuật dạy học Địa lí ở trường THPT.
+ GV cần sử dụng linh hoạt các hình thức đàm thoại phù hợp với thời gian, không
gian, mục đích, nội dung giáo dục. Khi kết thúc đàm thoại, HS “có vẻ” như tìm ra chân
lý và chính khía cạnh này đã tạo ra cho người học niềm vui sướng của nhận thức, một
tình cảm tốt đẹp cần phát triển ở người học.
+ Kĩ thuật đặt câu hỏi phải đảm bảo những yêu cầu sau:
 GV phải đạt câu hỏi như thế nào để đòi hỏi HS phải tích cực hóa tài liệu đã lĩnh
hội trước đây, vạch ra ý nghĩa cơ bản của tri thức đã học.
 Câu hỏi không đơn thuần đòi hỏi HS tái hiện tài liệu mà phải vận dụng những tri
thức đã nắm trước đây để giải quyết vấn đề mới. Điều này có nghĩa là theo
hướng phát triển trí thông minh, sáng tạo của HS thì GV nên chú trọng tăng

 Khuyến khích, động viên sự cố gắng của HS. Nếu GV tin ở sự cố gắng của HS thì
các em thêm nỗ lực phấn đấu, không nản chí.
 GV nên trân trọng mỗi tiến bộ dù chỉ rất nhỏ của HS song, không nên quá lạm
dụng lời khen.
- Các bước HS thường phải trải qua để trả lời câu hỏi yêu cầu cao về mặt nhận
thức.
Theo Gall, HS thường phải qua 5 bước để trả lời câu hỏi yêu cầu cao về mặt nhận
thức.
+ Bước 1: Chăm chú theo dõi câu hỏi.
+ Bước 2: Nắm vững nội dung yêu cầu của câu hỏi.
+ Bước 3: Trả lời thầm trong ý nghĩ (chưa thành lời).
+ Bước 4: Hình thành câu trả lời công khai.
+ Bước 5: Xem lại câu trả lời của chính mình khi nghe câu trả lời của bạn hoặc
nghe lời nhận xét của GV đối với câu trả lời của bạn.
Ví dụ: Trong bài 15 trang 56 SGK Địa lí 10: “Thủy quyển, một số nhân tố ảnh
hưởng tới chế độ nước sông, một số sông lớn trên Trái Đất” GV có thể đưa ra câu hỏi
ở các mức độ nhận thức khác nhau như:
Câu 1: Đọc SGK em hãy nêu khái niệm thủy quyển (câu hỏi yêu cầu thấp, dừng
ở mức biết vấn đề).
Câu 2: Dựa vào kiến thức đã học và bản đồ tự nhiên Việt Nam, em hãy cho biết
vì sao mực nước lũ ở các sông ngòi miền Trung nước ta thường lên rất nhanh? (câu
hỏi yêu cầu cao về nhận thức –HS phải vận dụng phối hợp những kiến thức đã có để
giải đáp câu hỏi này, thuộc mức “vận dụng” theo thang Bloom).
 Phương pháp hướng dẫn HS khai thác tri thức từ BĐ.
Bản đồ là phương tiện trực quan, một nguồn tri thức địa lí quan trọng giúp cho GV,
HS có thể khai thác kiến thức phục vụ việc dạy và học địa lí có hiệu quả.
- Các biện pháp hình thành KN sử dụng BĐ.
+ Dạy HS hiểu BĐ:
Hiểu BĐ: nghĩa là có kiến thức về BĐ, biết BĐ là cái gì? đặc trưng, tính chất của
nó ra sao? nội dung, chức năng của nó, mỗi một kí hiệu quy ước trên BĐ có nghĩa gì?

 Các dòng biển nóng thường phát sinh ở hai bên xích đạo chảy về phía cực.
 Dòng biển lạnh xuất phát từ khoảng vĩ tuyến 30 – 40
o
chảy về xích đạo.
 Dòng biển nóng và lạnh hợp với nhau tạo thành những vòng hoàn lưu. Ở vĩ độ
thấp hướng chảy của các vòng hoàn lưu ở bán cầu Bắc theo chiều kim đồng
hồ, ở bán cầu Nam theo chiều ngược lại.
 Ở bán cầu Bắc còn có những dòng biển lạnh men theo bờ tây đại dương chảy
về xích đạo.
 Các dòng biển nóng và lạnh đối xứng nhau qua bờ các đại dương.
+ Mức độ 3: rút ra những kết luận trên cơ sở phân tích các mối quan hệ. Những
kết luận này chỉ hoàn toàn có trong tư duy HS mà không có trên BĐ.
Ví dụ:Ở các vĩ độ thấp hướng chảy của các vòng hoàn lưu ở bán cầu Bắc theo
chiều kim đồng hồ, ở bán cầu Nam theo chiều ngược lại có mối quan hệ chặt chẽ với
lực Côriolit (lực làm lệch hướng chuyển động của các vật thể - hệ quả của chuyển
động quay quanh trục của Trái Đất)
Các vùng vĩ độ thấp (xích đạo và gần xích đạo) nhận được lượng bức xạ Mặt
Trời lớn, nhiệt độ nước biển cao nên các dòng biển nóng xuất phát từ các vĩ độ này rồi
chảy về phía cực (nơi có nhiệt độ thấp) và ngược lại.
- Một số cách làm việc hiệu quả với rèn luyện kỹ năng BĐ cho HS.
+ Cách xác định vị trí và sự phân bố của các đối tượng địa lí trên BĐ.
Để thực hiện KN này HS phải dựa vào quy trình sau:
 Nắm được mục đích của việc làm.
 Đọc bản chú giải trên BĐ để biết được các kí hiệu quy ước.
 Tái hiện hiểu tượng địa lí dựa vào các kí hiệu quy ước.
 Tìm tên và đối tượng địa lý trên BĐ.
Như vậy khi nhìn trên BĐ, các em không chỉ biết được vị trí và đọc tên các đối
tượng địa lí mà còn xác định được sự phân bố của chúng.
Chẳng hạn nhìn vào BĐ “phân bố sản lượng điện năng thế giới thời kì 2000 –
2003” SGK trang 123, các em xác định được các nước có sản lượng điện cao

Xác định hình dạng, hướng của núi dựa vào lưới tọa độ Địa lý.
 Trong trường hợp: núi nằm trong một dải núi thì chiều dài của dãy núi trên BĐ và
ngoài thực tế là bao nhiêu (căn cứ vào thước tỉ lệ của BĐ để tính).
 Xác định độ cao trung bình của núi hoặc dãy núi, chủ yếu bằng thang phân tầng
màu về độ cao (ngoài ra có thể dựa vào đường bình độ).
Xác định trị số lớn nhất của dãy núi.
Ví dụ: theo quy trình này, HS có thể mô tả được các đặc điểm của dải núi Hoàng
Liên Sơn một cách đầy đủ như sau: “Dãy núi Hoàng Liên Sơn nằm ở phía Tây Bắc của
Tổ quốc, kéo dài từ biên giới phía tây bắc theo hướng tây bắc – đông nam, với chiều
dài trung bình trên 200 km ngoài thực địa, độ cao trung bình là 1500 - 2500m, cao nhất
là đỉnh Phanxipăng với độ cao 3143m.
+ Một cách đọc BĐ tổng hợp khá hấp dẫn đối với HS là “du lịch trên BĐ”.
HS phải dựa trên những hiểu biết về BĐ để làm một cuộc “du lịch tưởng tượng
trên BĐ”, mô tả các miền đất đai, các thành phố, làng mạc sẽ đi qua theo những tuyến
vạch sẵn trên BĐ. Để thực hiện được những bài tập này, GV cần hướng dẫn các em
bằng cách đặt các câu hỏi gợi mở, dẫn dắt các em dựa vào đó để trả lời, theo dàn ý
nhất định.
Ví dụ: Em hãy tưởng tượng mình đã từng được đi du lịch ở môi trường địa lí đới
ôn hòa. Sau chuyến hành trình đó em hãy giới thiệu cho các bạn trong lớp biết về khí
hậu và sinh vật của môi trường địa lí mà em đã đi qua.
GV: hướng dẫn HS dựa vào bảng thông tin trong phần sự phân bố sinh vật và đất
theo vĩ độ; hình 19.1 – các kiểu thảm thực vật chính trên thế giới và các hình ảnh trong
SGK trang 71, 72 địa lí lớp 10.
+ Lập bảng nêu đặc trưng của các đối tượng được nghiên cứu trên cơ sở đọc bản
đồ. Biện pháp này tích cực hơn đòi hỏi HS phải tham gia nhiệt tình, phát huy tính độc
lập sáng tạo trong suy nghĩ và hành động. Đồng thời thông qua đó rèn luyện được kỹ
năng, kĩ xảo cho HS.
Ví dụ: Khi nghiên cứu sự phân bố sinh vật và đất trên trái đất trong bài 19, các
em sử dụng hình 19.1 – Các kiểu thảm thực vật chính trên thế giới và hình 19.2 – Các
nhóm đất chính trên thế giới để hoàn thiện bảng sau:

- Cách sử dụng.
+ Bước 1: GV lựa chọn và nêu vấn đề cần tìm hiểu cho HS.
+ Bước 2: Khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến.
+ Bước 3: Liệt kê tất cả mọi ý kiến của HS viết lên bảng hoặc giấy to,
không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp.
+ Bước 4: Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý.
+ Bước 5: Tổng hợp ý kiến từ mọi người xem có thắc mắc, bổ sung gì
không.
Ví dụ: khi dạy bài 22 “Dân số và sự gia tăng dân số”, GV nêu vấn đề: Hậu quả của sự
gia tăng dân số quá nhanh và sự phát triển dân số không hợp lí của các nước đang phát
triển đối với sự phát triển kinh tế - xã hội – môi trường là gì? Các ý kiến đưa ra có thể
là:
1. Hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế.
2. Tiêu dùng nhiều lên nhưng tích lũy giảm xuống.
(6) Đặng Văn Đức, (1999), trang 100, Kĩ thuật dạy học Địa lí ở nhà trường phổ thông.
3. Sức ép lớn lên các vấn đề việc làm, y tế, giáo dục.
4. Nhiều vấn đề xã hội nảy sinh, đặc biệt là các tệ nạn xã hội.
6. Khó khăn cho nâng cao chất lượng cuộc sống.
7. Cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường….

- Những điều cần lưu ý khi sử dụng PP này.
+ PP động não có thể dùng để lý giải một vấn đề nào đó song đặc biệt phù hợp
với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong thực tế của người học.
+ Các ý kiến phát biểu cần ngắn gọn, nê bằng một từ hay một câu ngắn .
+ Hoan nghênh tất cả mọi ý kiến, không phê phán, nhận định đúng, sai.
+ Cuối giờ động não, nên nhấn mạnh kết luận nào là kết quả của sự tham gia
chung của mọi người.
+ Các giờ hoc động não có thể bị quá trớn, trở nên om sòm và căng thẳng,
không được việc nào trọn vẹn trừ việc tạo ra nhiễu loạn. Vì vậy, yêu cầu GV
phải nghiêm khắc khi định áp dụng quy trình này và thiết lập các chuẩn ngay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status