Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN
TRƯỜNG THPT TRẦN QUANG KHẢI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 10 – TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Lĩnh vực/Môn: Địa lí
Họ và tên: Vũ Thị Cúc
Giáo viên: Môn Địa lí
NĂM HỌC 2013 - 2014
Giáo viên: Vũ Thị Cúc – Trường THPT Trần Quang Khải
1
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
1
BSL
Bảng số liệu
7
PP
Phương pháp
8
SĐTD
Sơ đồ tư duy
9
THPT
Trung học phổ thông
Giáo viên: Vũ Thị Cúc – Trường THPT Trần Quang Khải
2
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
MỤC LỤC
Số
1.1.Cơ sở lý luận
5
1.2.Cơ sở thực tiễn
6
II.RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC ĐỊA LÝ LỚP 10 – THPT
9
2.1.Quy trình rèn luyện kĩ năng tự học
9
2.1.Tổ chức rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh qua môn Địa lí
10
2.2.1.Rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trên lớp
10
2.2.2.Rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh ngoài lớp
39
3
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
MỞ ĐẦU
1.Đặt vấn đề.
Chúng ta đang sống trong thời đại của hai cuộc cách mạng lớn: cách mạng
khoa học - công nghệ và cách mạng xã hội. Những cuộc cách mạng này đang
phát triển như vũ bão với tốc độ nhanh chưa từng có trong lịch sử loài người,
thúc đẩy nhiều lĩnh vực có những bước tiến mạnh mẽ và đang mở ra những triển
vọng lớn lao khi nhân loại bước sang thế kỷ XXI. Nhưng, song hành với đó là
nhiều thách thức mà loài người cần vượt qua. Thực tế đó đòi hỏi con người,
trong bất cứ môi trường nào cũng cần có đủ năng lực, sáng tạo, tinh thần tự chủ,
ý chí vươn lên, có KN vững chắc, ý thức nghề nghiệp để giải quyết “trúng,
nhanh, sáng tạo” các nhiệm vụ thực tiễn đặt ra.
Thời đại đã đặt ra yêu cầu phải đổi mới nền giáo dục “biến quá trình đào
tạo thành quá trình tự đào tạo, đây là quy luật cơ bản nhất để đạt được mục tiêu
đào tạo. Về triết học đó là sự biến tác động từ bên ngoài thành động lực tự thân
vận động trong nhân cách HS”(1)
Đảng ta đã ý thức sâu sắc về sức mạnh nội lực của con người và coi việc
giáo dục phát triển nguồn lực con người là “quốc sách hàng đầu” như chủ Tịch
Hồ Chí Minh đã nói “Vì hạnh phúc mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm
năm phải trồng người”. Đổi mới nền giáo dục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả giáo dục mà quy luật của chất lượng là phát huy tối đa nội lực. Trong các
văn kiện Đại Hội VIII (12-1995), Đảng đã xác định rõ “Đổi mới nội dung,
chương trình, PP giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăng cường
giáo dục tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tu dưỡng đạo đức, tự tạo việc làm”.
những nguyên nhân quan trọng của thực trạng đó là nhiều GV chưa chú ý hướng
dẫn cho HS cách tự học, chưa chú trọng giáo dục rèn luyện KN tự học cho HS.
Đặc trưng của môn Địa lí trong nhà trường phổ thông mang tính chất
tổng hợp và có tính liên ngành, kiến thức Địa lí rộng nhưng thời gian học trên
lớp chỉ có giới hạn. Vậy nên, việc rèn luyện cho HS KN tự học có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng giúp giải quyết nghịch lý trên, làm khơi dậy tiềm năng đang ẩn
trong từng con người “giống như cây về mùa đông, tuy trụi lá nhưng nhựa
sống vẫn còn đó, chỉ đợi hơi ấm mùa xuân là sẽ vận chuyển trong cây, làm cho
cây đâm trồi nảy lộc”(3).
Đối với HS lớp 10, việc rèn luyện cho các em KN tự học nhằm biến “quá
trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập
môn Địa lí, từ đó nâng cao “năng lực tự học”, phục vụ đắc lực không chỉ trong
quá trình học tập mà còn cho hoạt động lao động, sản xuất.
Như vậy, rèn luyện KN tự học cho HS trong dạy học Địa lí cũng như
những môn học khác có vai trò quan trọng, góp phần thực hiện hiệu quả chủ
trương của Đảng, Nhà nước. Vậy nên, tôi lựa chọn đề tài: “Rèn luyện KN tự
học cho HS trong dạy học Địa lí lớp 10 – THPT”. Với mong muốn góp sức
mình vào việc rèn luyện kĩ năng tự học của học sinh – cơ sở hình thành năng lực
tự học.
Giáo viên: Vũ Thị Cúc – Trường THPT Trần Quang Khải
(2) Nguyễn Cảnh Toàn, (2001), trang 197, Tuyển tập tác phẩm tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu - tập 1.
(3):Nguyễn Cảnh Toàn, (2001), trang 97, Truyển tập tác phẩm tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu – tập 2
5
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
Giáo viên: Vũ Thị Cúc – Trường THPT Trần Quang Khải
6
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
Địa điểm quan sát, điều tra: trường THPT Trần Quang Khải – tỉnh Hưng
Yên, trường THPT Lê Qúy Đôn – tỉnh Thái Bình.
Thời gian thực hiện: từ 8/2/2013-29/3/2013 tại trường THPT Lê Qúy Đôn –
tỉnh Thái Bình và từ ngày 12/1/2014 – 3/3/2014 tại trường THPT Trần Quang
Khải – tỉnh Hưng Yên.
5.3. Phương pháp toán học
Sử dụng các công thức toán thống kê để xử lí các kết quả thu được từ thực
nghiệm sư phạm, điều tra, nhằm làm tăng tính chính xác, khách quan, tính
thuyết phục cho kết quả nghiên cứu.
5.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
PP được sử dụng để đánh giá tính khả thi của đề tài. Tác giả thực nghiệm
tại trường THPT Lê Qúy Đôn – tỉnh Thái Bình từ ngày 8/2/2013 - 29/3/2013 và
trường THPT Trần Quang Khải – tỉnh Hưng Yên từ ngày12/1/2014 – 3/3/2014.
Sau đó phân tích cả định tính và định lượng kết quả thực nghiệm sư phạm và rút
ra kết luận của đề tài.
Kế hoạch thực hiện các phương pháp trên, đặc biệt là phương pháp
thực nghiệm tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu trong những năm tiếp theo.
Giáo viên: Vũ Thị Cúc – Trường THPT Trần Quang Khải
lực, độc lập trên cơ sở lựa chọn và vận dụng những tri thức kinh nghiệm đã có
để thực hiện có kết quả mục tiêu học tập đề ra và phù hợp với những điều kiện
cho phép.
Hệ thống KN tự học như: KN lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, đọc sách,
ghi chép, hệ thống hóa, KN làm các bài tập, tự kiểm tra đánh giá, KN ôn tập,
kiểm tra, KN vận dụng kiến thức vào thực tiễn…
Giáo viên: Vũ Thị Cúc – Trường THPT Trần Quang Khải
8
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
KN Địa lí: là hệ thống phương thức hành động mà HS hoàn thành một
cách có ý thức, trên cơ sở những kiến thức Địa lí đã có.
Trong học tập bộ môn Địa lý ở nhà trường phổ thông có nhiều KN như:
+
Kỹ năng sử dụng BĐ, biểu đồ, BSL, tranh ảnh.
+
Kỹ năng đọc – ghi chép sách, tài liệu tham khảo.
+
Kỹ năng làm việc với các tài liệu tham khảo (sách, báo, tạp chí…).
lớp 10 - THPT; đặc điểm tâm, sinh lý, nhận thức của học sinh lớp 10; tác giả
còn tiến hành dự giờ tiết học, phát phiếu hỏi cho HS tại trường THPT Trần
Quang Khải và trường THPT Lê Qúy Đôn – tỉnh Thái Bình để thăm dò ý kiến
và khảo sát kỹ năng tự học của các em, kết quả nhận thấy:
Quan sát thấy trong các giờ học, GV còn ít áp dụng các PP, kĩ thuật dạy
học hiện đại, chủ yếu sử dụng PP diễn giảng; PP đặt câu hỏi được sử dụng
nhưng với lượng thời gian không nhiều.
Theo quan sát thấy: mỗi lần GV đặt câu hỏi, HS vội nhìn SGK tìm đúng
chỗ GV hỏi, để khi được gọi đứng lên thì đọc nguyên văn và không có ý kiến cá
Giáo viên: Vũ Thị Cúc – Trường THPT Trần Quang Khải
9
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
nhân, không có sự sáng tạo. Tuy những câu hỏi mang tính chất tái hiện là không
thể thiếu nhưng không thể chỉ dừng lại ở đó. Tái hiện để làm gì? Đó mới là điều
cần phải có. Với hệ thống câu hỏi còn thiên về nêu, trình bày vấn đề, GV khó có
thể tạo cho HS tính tích cực, hứng thú học tập và khơi dậy óc sáng tạo, khó
khuyến khích HS tự làm việc với SGK, tự tìm hiểu qua những tư liệu liên quan
đến bài học để hôm sau cùng cô giáo, bạn bè tranh luận. Vì thế, GV càng khó
hình thành cho các em ý thức tự học, tự đọc, tự nghiên cứu bài học bằng khả
năng của mình một cách khoa học và hệ thống.
Cũng qua quan sát thấy: sự trao đổi thảo luận giữa HS – GV, HS – HS
còn hạn chế. Chính điều này khiến HS thờ ơ với giờ học, hình thành thói quen ỷ
lại, lười suy nghĩ. GV chỉ đưa ra một câu hỏi chệch SGK đòi hỏi tư duy là nhiều
HS lười học bài cũ, không chuẩn bị bài mới là trường hợp phổ biến. Có
HS cho biết chưa từng đọc trước bài. Nếu có học bài cũ thì cũng chỉ cần học
thuộc phần GV cho ghi…Một trong những nguyên nhân cũng xuất phát từ phía
GV: khi soạn giáo án chưa chú trọng tới “hoạt động nối tiếp” và cũng không
hướng dẫn HS cách ghi nhớ, ôn bài…
Cách dạy và học như vậy nên các KN tự học môn Địa lí của HS còn nhiều
hạn chế.
Bảng: Mức độ thực hiện các kỹ năng tự học
Đơn vị (%)
Các kỹ năng tự học
Mực 4
Mức 3
Mức 2
Mức 1
Kỹ năng lập kế hoạch tự học
0
10
30
60
Kỹ năng đọc sách, tài liệu
20
50
20
10
Kỹ năng ghi nhớ
0
20
50
30
Kỹ năng hoàn thiện các bài tập
20
40
20
20
Kỹ năng làm đề cương bài học
35
35
20
10
Kỹ năng sử dụng CNTT khi tự học
5
20
50
25
(Mức 4 là mức cao nhất)
Rất nhiều KN quan trọng nhưng các em vẫn chỉ dừng ở mức 1, mức 2 đặc
biệt là KN lập kế hoạch tự học, KN sử dụng SĐTD, làm đề cương bài học, thu
thập tài liệu học tập, sử dụng CNTT khi tự học…Nhiều em cho biết chúng em
chưa bao giờ lập kế hoạch tự học, cũng không biết SĐTD là sơ đồ như thế nào.
Giáo viên: Vũ Thị Cúc – Trường THPT Trần Quang Khải
11
Sáng kiến kinh nghiệm
trong đó sự nỗ lực của người học, gữa vai trò quyết định.
Giáo viên: Vũ Thị Cúc – Trường THPT Trần Quang Khải
12
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
Từng kỹ năng tự học rèn luyện cho HS cần được cụ thể hóa thành các
bước vì chỉ khi rèn luyện theo các bước mới có cở sở để hình thành, phát triển
và luyện tập kỹ năng.
2.2. Tổ chức rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh qua môn Địa lí 10.
2.2.1.Rèn luyện kỹ năng tự học ở trên lớp.
Người dạy tổ chức cho HS tự lĩnh hội nền văn hóa xã hội chứ không làm
thay HS trong việc lĩnh hội đó. Sự giúp đỡ của GV đối với HS trong dạy học là
giúp đỡ về PP học, GV giúp HS về cách thức tự học. Như vậy, bản chất của hoạt
động dạy học để HS tự học là dạy cách học, các kỹ năng tự học.
Người thầy phải biết cách tổ chức các hoạt động học tập nhằm tích cực
hóa tính tự lực, sáng tạo, chủ động phát hiện và tìm ra kiến thức của người học.
Muốn vậy người thầy phải “đổi mới phong cách dạy”, điều này chỉ thực hiện
được khi tích cực hóa các PP, kĩ thuật, cách đánh giá theo quan điểm đổi mới
của Đảng và Nhà nước.
2.2.1.1.Rèn luyện kỹ năng tự học theo cá nhân.
Rèn luyện kỹ năng tự học theo cá nhân GV cần giảm tối đa PP độc thoại
thuyết trình “lấy người dạy là trung tâm”, thay vào đó là sử dụng các PP, kĩ
thuật tăng cường hoạt động độc lập nhận thức của bản thân từng HS để các em
tích cực “động não”, tự lực suy nghĩ phát hiện và giả quyết vấn đề.
nghĩa là theo hướng phát triển trí thông minh, sáng tạo của HS thì GV nên
chú trọng tăng cường loại câu hỏi yêu cầu cao về mặt nhận thức (phải căn
cứ trình độ nhận thức của HS), song cũng không nên “coi thường” “câu
hỏi yêu cầu ở mức độ thấp”.
Câu hỏi phải hướng trí tuệ của HS vào mặt bản chất của sự vật, hiện
tượng phải nghiên cứu, phải hình thành tư duy biện chứng cho HS.
Câu hỏi phải đặt như thế nào để đòi hỏi HS xem xét những sự vật, hiện
tượng trong mối liên hệ với nhau, nhìn sự vật, hiện tượng theo chỉnh thể
toàn vẹn của chúng.
Đặt câu hỏi theo quy tắc logic.
Việc diễn đạt câu hỏi phải phù hợp với lứa tuổi, đặc điểm cá nhân, trình
độ hiểu biết và kinh nghiệm của HS.
Câu hỏi có nội dung chính xác, rõ ràng, dễ hiểu thống nhất, không thể có
hai câu trả lời đều đúng, về hình thức phải ngắn gọn, sáng sủa.
+ Yêu cầu đối với việc vận dụng PP đàm thoại.
GV phải đặt câu hỏi cho toàn lớp rồi mới chỉ định HS trả lời. Khi một HS
trả lời xong, cần yêu cầu những HS khác nhận xét, bổ sung, sửa chữa câu
trả lời nhằm thu hút sự chú ý lắng nghe câu trả lời của bạn với tinh thần phê
phán. Qua đó kích thích hoạt động chung của cả lớp.
GV cần lắng nghe khi HS trả lời, nếu cầu thiết đặt thêm câu hỏi phụ, câu
hỏi mở dẫn dắt HS để trả lời câu hỏi chính được tốt hơn.
Giáo viên: Vũ Thị Cúc – Trường THPT Trần Quang Khải
14
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
15
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
Câu 1: Đọc SGK em hãy nêu khái niệm thủy quyển (câu hỏi yêu cầu thấp,
dừng ở mức biết vấn đề).
Câu 2: Dựa vào kiến thức đã học và bản đồ tự nhiên Việt Nam, em hãy
cho biết vì sao mực nước lũ ở các sông ngòi miền Trung nước ta thường lên rất
nhanh? (câu hỏi yêu cầu cao về nhận thức –HS phải vận dụng phối hợp những
kiến thức đã có để giải đáp câu hỏi này, thuộc mức “vận dụng” theo thang
Bloom).
Phương pháp hướng dẫn HS khai thác tri thức từ BĐ.
Bản đồ là phương tiện trực quan, một nguồn tri thức địa lí quan trọng giúp cho
GV, HS có thể khai thác kiến thức phục vụ việc dạy và học địa lí có hiệu quả.
- Các biện pháp hình thành KN sử dụng BĐ.
+ Dạy HS hiểu BĐ:
Hiểu BĐ: nghĩa là có kiến thức về BĐ, biết BĐ là cái gì? đặc trưng, tính
chất của nó ra sao? nội dung, chức năng của nó, mỗi một kí hiệu quy ước trên
BĐ có nghĩa gì? cần phải sử dụng BĐ như thế nào và lợi ích nào được rút ra từ
việc này.
Dạy HS hiểu BĐ (về mặt kỹ năng) theo quy trình sau:
Xác định mục đích của việc làm.
Xác định kiến thức có liên quan cần dựa vào để tiến hành công việc
Cách tiến hành công việc.
Quy tắc về trình tự tiến hành công việc.
Kiểm tra kết quả khi thực hiện.
giới (hình 16.4 – Các dòng biển trên thế giới), SGK Địa lí 10 trang 61
GV yêu cầu HS tự làm việc rút ra các thông tin cần thiết theo hướng dẫn.
+ Mức độ 1: đọc BĐ dựa vào kí hiệu xác định được các dòng biển nóng và
dòng biển lạnh, vị trí phân bố của các dòng biển nóng và lạnh trên bản đồ.
+ Mức độ 2: rút ra một số nhận xét khái quát.
Các dòng biển nóng thường phát sinh ở hai bên xích đạo chảy về phía cực.
Dòng biển lạnh xuất phát từ khoảng vĩ tuyến 30 – 40o chảy về xích đạo.
Dòng biển nóng và lạnh hợp với nhau tạo thành những vòng hoàn lưu.
Ở vĩ độ thấp hướng chảy của các vòng hoàn lưu ở bán cầu Bắc theo
chiều kim đồng hồ, ở bán cầu Nam theo chiều ngược lại.
Ở bán cầu Bắc còn có những dòng biển lạnh men theo bờ tây đại dương
chảy về xích đạo.
Các dòng biển nóng và lạnh đối xứng nhau qua bờ các đại dương.
+ Mức độ 3: rút ra những kết luận trên cơ sở phân tích các mối quan hệ.
Những kết luận này chỉ hoàn toàn có trong tư duy HS mà không có
trên BĐ.
Giáo viên: Vũ Thị Cúc – Trường THPT Trần Quang Khải
17
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
Ví dụ:Ở các vĩ độ thấp hướng chảy của các vòng hoàn lưu ở bán cầu Bắc
theo chiều kim đồng hồ, ở bán cầu Nam theo chiều ngược lại có mối quan hệ
chặt chẽ với lực Côriolit (lực làm lệch hướng chuyển động của các vật thể - hệ
quả của chuyển động quay quanh trục của Trái Đất)
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
Ví dụ: để HS dễ nhớ vị trí TP.Việt Trì, GV có thể nói: “Việt Trì là thành phố
ngã ba sông”, nơi giao nhau của ba con sông lớn, S.Hồng, S.Đà và S.Lô.
Cũng có trường hợp GV kết hợp với BĐ treo tường, vẽ lên bảng hình
vẽ biểu hiện riêng hình dáng vị trí của từng đối tượng để HS dễ nhận
hơn và nhớ kĩ hơn.
Đối với một số địa danh, GV có thể giải thích hoặc nói rõ nguồn gốc
của chúng để gây một ấn tượng dễ nhớ.
Ví dụ: S.Mêkông chảy qua miền nam nước ta rồi đổ ra biển bằng 9 cửa
lớn, giống như 9 con rồng nên Mêkông còn được gọi là Cửu Long.
Dạy học theo nguyên lý “học đi đôi với hành”. Vì vậy, muốn HS nhớ kỹ
các đối tượng Địa lí trên BĐ, GV phải cho HS thực hành nhiều trên BĐ.
+ Cách mô tả đối tượng địa lý trên BĐ.
Đặc điểm của đối tượng địa lí cần miêu tả bao gồm có: vị trí, sự phân bố,
các đặc điểm về hình dạng, kích thước như chiều dài, chiều rộng, các cực trị lớn
nhất, nhỏ nhất…Thực chất đây chính là một KN để hỗ trợ cho việc HS đọc BĐ
một cách đúng đắn và đầy đủ nhất.
Ví dụ:
Để mô tả “núi”, HS cần tiến hành theo quy trình sau:
Dựa vào kí hiệu và cách biểu hiện tìm vị trí của núi trên BĐ.
Xác định vị trí của nó trên lãnh thổ (ở phần nào của quốc gia hay khu vực…).
Xác định hình dạng, hướng của núi dựa vào lưới tọa độ Địa lý.
Trong trường hợp: núi nằm trong một dải núi thì chiều dài của dãy núi trên
BĐ và ngoài thực tế là bao nhiêu (căn cứ vào thước tỉ lệ của BĐ để tính).
Xác định độ cao trung bình của núi hoặc dãy núi, chủ yếu bằng thang phân
tầng màu về độ cao (ngoài ra có thể dựa vào đường bình độ).
Xác định trị số lớn nhất của dãy núi.
Ví dụ: Khi nghiên cứu sự phân bố sinh vật và đất trên trái đất trong bài 19,
các em sử dụng hình 19.1 – Các kiểu thảm thực vật chính trên thế giới và hình
19.2 – Các nhóm đất chính trên thế giới để hoàn thiện bảng sau:
Môi trường địa lí Kiểu
đới ôn hòa
chính
khí
hậu Kiểu thảm thực Nhóm đất chính
vật chính
+ Tổ chức các trò chơi có liên quan đến BĐ.
Thông qua việc tham gia các trò chơi có liên quan đến BĐ, HS sẽ cảm
thấy thích thú và hào hứng với môn Địa lí. Địa lý không còn là một môn học
đơn điệu và nghèo nàn, lớp học sẽ trở lên sinh động đồng thời đem lại hiệu quả
trong việc tiếp thu kiến thức và rèn luyện kỹ năng.
Ví dụ:
Giáo viên: Vũ Thị Cúc – Trường THPT Trần Quang Khải
20
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
GV chia lớp thành hai nhóm: nhóm A và nhóm B. Rồi yêu cầu các em
21
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
Ví dụ: khi dạy bài 22 “Dân số và sự gia tăng dân số”, GV nêu vấn đề: Hậu quả
của sự gia tăng dân số quá nhanh và sự phát triển dân số không hợp lí của các
nước đang phát triển đối với sự phát triển kinh tế - xã hội – môi trường là gì?
Các ý kiến đưa ra có thể là:
1. Hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế.
2. Tiêu dùng nhiều lên nhưng tích lũy giảm xuống.
3. Sức ép lớn lên các vấn đề việc làm, y tế, giáo dục.
4. Nhiều vấn đề xã hội nảy sinh, đặc biệt là các tệ nạn xã hội.
6. Khó khăn cho nâng cao chất lượng cuộc sống.
7. Cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường….
-
Những điều cần lưu ý khi sử dụng PP này.
+ PP động não có thể dùng để lý giải một vấn đề nào đó song đặc biệt phù
hợp với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong thực tế của người học.
+ Các ý kiến phát biểu cần ngắn gọn, nê bằng một từ hay một câu ngắn .
+ Hoan nghênh tất cả mọi ý kiến, không phê phán, nhận định đúng, sai.
+ Cuối giờ động não, nên nhấn mạnh kết luận nào là kết quả của sự tham
gia chung của mọi người.
+ Các giờ hoc động não có thể bị quá trớn, trở nên om sòm và căng thẳng,
không được việc nào trọn vẹn trừ việc tạo ra nhiễu loạn. Vì vậy, yêu
cầu GV phải nghiêm khắc khi định áp dụng quy trình này và thiết lập
từ” và “màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh. Màu sắc mang
đến cho SĐTD những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng
vô tận cho tư duy sáng tạo” (7)
Giáo viên: Vũ Thị Cúc – Trường THPT Trần Quang Khải
(7): Câu nói của Tony Buzan trích dấn từ trang 13,(2010), Một số phương pháp và kĩ thuật dạy hoc của dự án Việt – Bỉ
23
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2013-1014
Ưu điểm của cách ghi chép bằng SĐTD:
+ Logic, mạch lạc.
+ Trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ do nó được thể hiện bởi màu sắc.
+ Nhìn thấy “bức tranh” tổng thể mà lại chi tiết.
+ Dễ dạy, dễ học, dễ nhớ.
+ Kích thích hứng thú học tập của HS.
+ Kích thích sáng tạo của HS.
+ Giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức.
+ Giúp hệ thống kiến thức.
+ Giúp ôn tập kiến thức.
+ Giúp ghi nhớ nhanh, nhớ sâu, nhớ lâu kiến thức…
SĐTD có rất nhiều ưu điểm cho việc học, tự học. Tuy nhiên, chỉ khi nào
các em tự mình thiết lập SĐTD và sử dụng nó trong học tập thì mới phát huy
hiệu quả của nó. Đối với chức năng là một người thầy, GV cần rèn luyện cho
các em kỹ năng này ngay ở trên lớp, cho các em dần làm quen với kĩ thuật
SĐTD, kỹ thuật này sẽ rất tốt cho HS khi tóm tắt bài, chương, quyển sách, ghi
lý 10 (cơ bản).
Bắt đầu bằng cụm từ trung tâm “Phân bố
khí áp. Một số loại gió chính ”
Bước 2: Vẽ nhánh cấp 1.
Các nhánh cấp 1 là chính là các nội dung chính của bài học hay chủ đề
đó (hay tên các mục của SGK…)
Bài 12 có 2 mục là: Phân bố
khí áp và một số loại gió
chính. Như vậy thiết lập
SĐTD có 2 nhánh cấp 1
Bước 3: Vẽ nhánh cấp 2, 3, …
Các nhánh cấp 2, cấp 3,…chính là các nhanh con của nhánh con trước đó
(hay nói rõ hơn nhánh con cấp 2, 3,… là các ý triển khai của nhánh trước đó).
Ví dụ: nhánh cấp 2, 3,…của nhánh cấp 1 – Phân bố khí áp .
Giáo viên: Vũ Thị Cúc – Trường THPT Trần Quang Khải
25