1
I. TÊN ĐỀ TÀI:
BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH
THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG MÔN VẬT LÍ
TRUNG HỌC CƠ SỞ.
II. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Tầm quan trọng và lí do chọn đề tài:
Nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất
nước, nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho ngành giáo dục là đổi mới sâu sắc và toàn
diện phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo
của học sinh, bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng
say mê học tập và ý chí không ngừng vươn lên trong mọi hoàn cảnh.
Một trong những mục tiêu quan trọng của đổi mới giáo dục phổ thông
hiện nay là rèn luyện cho học sinh kĩ năng vận dụng kiến thức học được vào
thực tiễn đời sống. Do đó, việc tăng cường rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh
trong dạy học vật lí ở trường trung học cơ sở là rất cần thiết.
Trong dạy học vật lí, việc cho học sinh tiếp cận với sách giáo khoa và giải
các bài tập là một trong những biện pháp hữu hiệu để rèn luyện cho học sinh
trong hoạt động nhận thức cũng như thực hiện các thao tác tư duy ngày một
chính xác hơn. Bên cạnh đó, đối với giáo viên, hoạt động chính trong các giờ
dạy học vật lí là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho học sinh thực hiện thành
công hoạt động nhận thức, để họ tái tạo được kiến thức, kinh nghiệm xã hội và
biến chúng thành vốn liếng của mình.
Thế nhưng, cho đến nay sự chuyển biến về phương pháp dạy học tích cực
ở trường trung học cơ sở chưa được là bao, phổ biến vẫn là cách dạy theo
phương pháp truyền thống, thông báo kiến thức định sẵn, dạy học theo một
chiều, học sinh thụ động, chưa có thói quen tự học. Mặc dù, trong những năm
gần đây, Phòng GD-ĐT Đại Lộc và trường tôi đã tổ chức nhiều hội thi giáo viên
dạy giỏi, đã xuất hiện nhiều tiết dạy tốt theo hướng dạy học tích cực, tổ chức cho
học sinh hoạt động tự chiếm lĩnh tri thức mới nhưng tình trạng chung hằng ngày
- Thời gian nghiên cứu:Từ năm học 2014-2015 đến năm học 2015- 2016
III. CƠ SỞ LÝ LUẬN
3
1. Quan niệm về tự học:
Lúc đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề tự học và
tự đào tạo. Người cho rằng: Tự học chính là sự nỗ lực, sự làm việc có kế hoạch
của người học trên tinh thần chủ động và cần có một môi trường để học tập.
Theo Nguyễn Cảnh Toàn - Quá trình dạy-tự học, NXB giáo dục 2001. Tự học là
tự mình dùng các giác quan để thu nhận thông tin rồi tự mình động não, suy
nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…)
cùng với các phẩm chất của bản thân ( trung thực, khách quan, kiên trì, nhẫn nại,
sự say mê khoa học) để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến lĩnh
vực đó thành sở hữu của mình”.
Với những cách diễn đạt khác nhau, các tác giả đều có sự thống nhất
trong quan niệm về tự học rằng: Tự học là quá trình tự giác, tự chủ trong hành
động, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo; trong đó
người học thực sự là chủ thể của quá trình nhận thức, nỗ lực huy động các chức
năng tâm lý, tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu đã định. Tự
học là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, đóng vai trò quan trọng trong
việc nâng cao tri thức và hiệu quả dạy học. Tự học là nội lực quyết định chất
lượng học tập, còn hoạt động dạy học là ngoại lực có tác dụng định hướng, kích
thích, điều khiển và chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình học. Quá trình dạy
học chỉ có kết quả tốt khi người học tự nỗ lực, tự học để nắm vững những tri
thức mà nhân loại đã tích lũy được. Trong học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa
là người học tự mình lao động trí óc để chiếm lĩnh kiến thức. Như vậy, có thể
hiểu tự học là một bộ phận của việc học tập, là sự nỗ lực của mỗi cá nhân nhằm
đạt đến một mục đích nào đó trên con đường chiếm lĩnh kho tàng tri thức của
thức.
Giáo viên là người hướng dẫn học sinh nghiên cứu tìm ra kiến thức và tự
thể hiện mình trong lớp học. Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn lớp hoạt
động, là trọng tài, cố vấn, kết luận trong các cuộc tranh luận đối thoại giữa học
sinh với học sinh, giữa giáo viên với học sinh để khẳng định kiến thức do học
sinh tự tìm ra và cũng là người kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của học sinh;
học sinh tự đánh giá, tự kiểm tra lại sản phẩm ban đầu sau khi đã trao đổi hợp
5
tác với bạn và dựa vào kết luận của giáo viên, tự sửa chữa, tự điều chỉnh, tự
hoàn thiện, tự rút ra kinh nghiệm về cách học, cách xử lý tình huống, cách giải
quyết vấn đề của mình.
Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, định hướng nhận thức và vận
dụng kiến thức vào giải quyết tình huống. Nói đến năng lực tự học là nói đến tri
thức của người học về phương pháp tự học, kinh nghiệm tự học và thái độ, ý chí,
tinh thần tự học. Năng lực tự học được coi là một nguồn nội lực quý giá tìm ẩn
trong bản thân mỗi con người, là năng lực hết sức quan trọng mà mỗi người cần
phải có vì có năng lực tự học mới có thể tự học suốt đời được.
Rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh là con đường mà giáo viên đưa học
sinh của mình đến với chân lý khoa học bằng chính hoạt động của họ. Do vậy,
phát triển năng lực tự học cho học sinh có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp họ
đào sâu, mở rộng kiến thức, hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp và
phát triển toàn diện, đảm bảo cho tất cả học sinh có cơ hội tham gia vào quá
trình học tập, xây dựng nội dung bài học, học sinh thực sự là chủ thể của hoạt
động dạy học, tất cả đều được nhận sự quan tâm từ giáo viên đặc biệt là học sinh
gặp khó khăn trong học tập.
3. Các kĩ năng đặc trưng, phù hợp với kĩ năng tự học vật lí:
3.1. Kĩ năng nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề: Đòi hỏi học sinh biết
giờ cũng là sự chiếm lĩnh tri thức, biến kiến thức chung của nhân loại thành kiến
thức riêng của mình. Người học sẽ không thể nhớ và cũng không thể vận dụng
được những kiến thức đó vào thực tiễn nếu như họ không hiểu. Vì vậy, tự học là
một hoạt động cốt lõi của việc học.
4.2. Tự học là con đường tự hoàn thiện cá nhân: Trong quá trình tự học,
các thao tác tư duy được lặp đi, lặp lại nhiều lần, góp phần hình thành các kĩ
năng, kĩ xảo cho người học. Trước một tình huống, một vấn đề thì khả năng tự lí
giải sự vật, hiện tượng của học sinh sẽ đạt được ở các mức độ khác nhau. Trong
hoạt động học, chất lượng, hiệu quả phụ thuộc vào mức độ tích cực tham gia và
khả năng xử lí của người học. Như vậy, tự học là cách để con người tự đúc kết,
rút kinh nghiệm, tri thức và dần dần hoàn thiện bản thân mình.
4.3. Tự học có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tư duy: Quá trình
lĩnh hội tri thức, người học phải sử dụng các thao tác tư duy như: Tư duy logic
( phân tích, tổng hợp, khái quát hóa…), tư duy sáng tạo để giải quyết vấn đề.
7
4.4. Tự học có vai trò to lớn trong sự phát triển của mỗi cá nhân. Ngày
nay, nguồn cung cấp thông tin rất đa dạng, phong phú, nếu người học có kĩ năng
tự học tốt, sẽ tận dụng được nguồn thông tin trong việc thu nhận kiến thức cho
bản thân.
IV. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm. Kiến thức vật lí rất gần gũi với
khoa học và đời sống nên nó được áp dụng rất nhiều. Đặc biệt, trong công cuộc
đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước hiện nay, đồng thời để đáp ứng cho nhu
cầu dạy học tích cực nói chung và dạy học môn Vật lí nói riêng.
Hiện nay, ngoài những phương pháp dạy học tích cực như: Phương pháp
đặt vấn đề, phương pháp thực nghiệm, phương pháp giải quyết vấn đề, phương
pháp bàn tay nặn bột… thì cách hướng dẫn học sinh học tập có hiệu quả đóng
thầy cô, nhiều em thì có hoàn cảnh gia đình, kinh tế rất khó khăn…Đặc biệt về ý
thức tự học của các em còn hạn chế, các em chưa nhận thức được tầm quan
trọng của việc tự học, đa số các em chưa thực hiện được các kĩ năng tự học,
chưa có hứng thú với học tập vật lí…Mặc dù, xung quanh các em có nhiều thuận
lợi. Chẳng hạn như:
- Sách giáo khoa Vật lí: đầy đủ, kênh hình, kênh chữ rõ ràng, chứa đựng
nhiều nội dung cần tìm hiểu.
- Sách bài tập, sách tham khảo Vật lí phong phú, đa dạng.
- Cơ sở vật chất ở trường tương đối đảm bảo, dụng cụ thí nghiệm vật lí
được bổ sung thường xuyên, các em được tiếp cận với phương tiện học tập hiện
đại…
- Ban giám hiệu thường xuyên quan tâm, tạo mọi điều kiện có thể để các
em học tập tốt.
- Thầy, cô giáo thân thiện, nhiệt tình, tận tụy, giúp đỡ để các em học tập
tiến bộ.
Đối với tôi, là một giáo viên dạy Vật lí THCS, ngoài sự nỗ lực để nâng
cao chuyên môn, nghiệp vụ cho bản thân thì tôi còn hướng dẫn học sinh cách sử
dụng sách giáo khoa và bài tập vật lí để rèn luyện kĩ năng tự học cho các em.
Kết hợp các biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh với các phương
pháp dạy học tích cực hiện nay sẽ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách có
hệ thống, các em sẽ hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng, từ đó sẽ áp dụng
9
kiến thức học được vào trong cuộc sống và đặc biệt là sẽ tự tin, tự giác, hứng thú
tiếp tục học ở các lớp trên.
Hơn nữa, học sinh trung học cơ sở có độ tuổi từ 11- 15, là thời kì quá độ
từ trẻ con sang người lớn và giai đoạn này tạo nên sự phát triển đặc thù về mọi
mặt: phát triển thể chất, trí lực, đạo đức, xã hội...Học sinh đã xác định động cơ
Ô trống
10
Kết quả khảo sát như sau:
* Về mức độ tự học
Lớp TSHS
91
92
81
82
Chưa tự học
Có tự học nhưng
Thường xuyên tự
chưa thường
học
xuyên
SL
TL%
SL
TL%
SL
thấy phần lớn học sinh chưa tự học hoặc có tự học nhưng chưa thường xuyên, số
ít thực hiện được ở mức thường xuyên.
*Về hứng thú học tập Vật lí
Lớp
TSHS
91
92
81
82
33
35
29
30
Chưa hứng thú học Vật lí
SL
TL%
17
51,5
16
45,7
15
51,7
17
56,7
Giỏi
SL TL%
2
6,1
Khá
Trung bình
Yếu
TB trở lên
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
10
30,3 11
33,3 10
30,3 23
69,7
11
92
81
82
35
29
30
4
3
28
23
22
80,0
79,3
73,3
Vậy, nguyên nhân nào làm cho mức độ tự học của học sinh còn thấp, số
học sinh chưa hứng thú học môn Vật lý còn khá cao và số học sinh có học lực
yếu còn nhiều? Có phải là do phần lớn các em chưa có kĩ năng tự học? Chưa
hứng thú học môn Vật lí? Để giải quyết vấn đề trên, tôi đã tìm và nghiên cứu các
biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học Vật lí ở trường
THCS.
V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Các biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh trong dạy học
Vật lí ở trường THCS:
1. Hướng dẫn HS tổ chức các hoạt động tự học:
1.1. Tự học ở trên lớp:
Để hoạt động tự học ở trên lớp có hiệu quả, thì việc đầu tiên giáo viên cần
làm là tạo niềm tin và hứng thú học tập cho học sinh.
Bởi vì: Theo tâm lý học, các thành phần bên trong thái độ học tập của
người học là nền tảng quan trọng nhất cho việc hình thành và phát triển năng lực
tự học. Chỉ khi nào người học tự ý thức được tầm quan trọng của tự học, có
niềm tin vào bản thân thì việc tự học, tự nghiên cứu mới trở thành sở thích, đam
mê, tự giác mà không cần có sự thúc giục của yếu tố bên ngoài. Với học sinh
THCS, ý thức tự giác trong tự học mới hình thành nên giáo viên là người biết
nhen nhóm, thắp sáng niềm tin, tạo hứng thú và động cơ tự học cho học sinh.
Để tạo niềm tin và hứng thú cho học sinh khi tự học, giáo viên có thể tổ
chức hoạt động nhóm. Khi tham gia hoạt động nhóm, mỗi học sinh có một sở
tâm vượt khó trong tự học.
Hoạt động tự học vật lí ở nhà của học sinh rất phong phú và đa dạng, có
tác dụng rất lớn trong việc củng cố, hiểu sâu, hoàn thiện kiến thức, rèn các kĩ
năng, kĩ xảo học tập và giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Nếu tổ chức
tốt hoạt động tự học ở nhà cho học sinh sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
vật lí ở trường THCS. Để công việc này có hiệu quả cao, giáo viên cần chú ý:
giúp học sinh có thái độ đúng đắn và ý thức được mục đích, nhiệm vụ của việc
tự học ở nhà; nhiệm vụ giao về nhà phải tạo hứng thú đối với học sinh, vừa đảm
bảo trình độ chung của cả lớp, vừa phải chú ý đến những học sinh yếu kém, học
13
sinh khá giỏi; tạo điều kiện thuận lợi để học sinh tự học ở nhà; rèn luyện cho học
sinh thói quen, phương pháp tự học, đồng thời thường xuyên kiểm tra bài làm ở
nhà của học sinh để nâng cao ý thức, trách nhiệm của họ; khối lượng nhiệm vụ
mà giáo viên giao về nhà cho học sinh cần đảm bảo vừa đủ, vừa sức đối với họ.
Sau đây là gợi ý một kế hoạch tự học trong tuần:
Thứ Thứ
Thứ tư
Thứ
Thứ
Thứ
Chủ
trường
Văn
C/dân
Vật lí
Anh
Văn
Toán
Toán
theo
NGLL
M/thuật c/nghệ
Sinh
Văn
Địa
TKB)
Chiều
-Làm
bài tập Bài tập
-Làm
trường)
bài tập
Hóa,
Toán, Lí Anh,
Sinh
-Đọc lại -Học
Sinh.
-Học
-Làm
bài tập
Anh,
Toán.
-Đọc lại -Hoàn
-Chuẩn
-Học
Vật lí,
bị bài -Chuẩn
sáng
bị
bài bị bài
thứ ba
sáng
sáng
thứ tư
thứ năm thứ sáu
tập
bị bài Toán
bị bài
sáng
sáng
đạt hiệu quả cao hơn; chúng giúp học sinh thu thập, lưu trữ thông tin, trình diễn
thông tin…giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách sử dụng sách giáo khoa, tài
liệu tham khảo, các thiết bị thí nghiệm, sử dụng các phương tiện điện tử… để
khai thác, xử lý các thông tin. Chẳng hạn, để học sinh làm việc với tài liệu tham
khảo, giáo viên cần giới thiệu về tài liệu hoặc địa chỉ tin cậy để học sinh tiếp cận
với tài liệu; cần hướng dẫn học sinh cách đọc, ghi chép, trình bày kết quả tìm
đọc của mình. Hay trước khi học sinh học một chương nào đó trong môn Vật lí,
tôi thường tổ chức (ngoại khóa) cho các em làm quen với các dụng cụ thí
nghiệm của các bài học trong chương đó để khi tiến hành làm thí nghiệm trong
15
tiết học, các em không bị lúng túng và sẽ thực hiện nhanh hơn, tiết kiệm thời
gian và hạn chế việc làm hỏng dụng cụ thí nghiệm.
\
Cô giáo Trần Thị Thanh Nga đang hướng dẫn học sinh lớp 9 2 trường
THCS Kim Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam tìm hiểu các dụng cụ thí
nghiệm trong chương Điện học.
2.1. Hướng dẫn học sinh tự học với sách giáo khoa Vật lí:
16
Sách giáo khoa là tài liệu học tập chủ yếu, nguồn tri thức quan trọng với
học sinh. Việc tự học với sách giáo khoa được tiến hành cả ở trên lớp cũng như
ở nhà. Để hình thành kĩ năng tự học vật lí với sách giáo khoa một cách hiệu quả,
học sinh cần thực hiện bền bỉ trong một quá trình, qua từng bài học cụ thể, có sự
biểu, sơ đồ tư duy...Yêu cầu của kĩ năng tóm tắt và hệ thống kiến thức là ngôn
ngữ ngắn gọn, cơ bản. Vì vậy, từ ngữ phải hết sức cô đọng, súc tích, có thể sử
dụng các từ khóa đã xác định khi đọc – hiểu, coi đó như những “điểm tựa” cho
tư duy và ghi nhớ.
2.1.5. Kĩ năng theo dõi sách giáo khoa kết hợp ghi chép trong giờ học: Kĩ
năng đọc- hiểu, tóm tắt và hệ thống hóa kiến thức là tiền đề để học sỉnh rèn kĩ
năng ghi chép nội dung bài học. Quá trình ghi chép của học sinh trong giờ học
không chỉ thể hiện mức độ hiểu nội dung kiến thức qua bài giảng mà còn là biểu
hiện của kĩ năng ghi chép. Học sinh theo dõi sách giáo khoa kết hợp nghe giảng
và diễn đạt lại theo ngôn ngữ của mình sẽ giúp học sinh nhớ lâu, khắc sâu nội
dung bài học, đồng thời phát huy khả năng tư duy độc lập khi kết hợp các kĩ
năng đọc sách giáo khoa- nghe giảng- viết bài.
2.1.6. Kĩ năng làm bài tập: Bài tập vật lí có trong sách giáo khoa hoặc
giáo viên giao, đều có tác dụng giúp học sinh dùng kiến thức và kĩ năng của
mình chiếm lĩnh kiến thức bài học và thể hiện thái độ trong học tập. Kĩ năng làm
bài tập vật lí phản ảnh mức độ nhận thức và khả năng vận dụng kiến thức, tư
duy của học sinh trước nhiệm vụ học tập cụ thể.
2.1.7. Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá: Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá được
thực hiện ở mức đơn giản là học sinh tự trả lời các câu hỏi hay bài tập có sau
mỗi mục, mỗi bài trong sách giáo khoa, sau đó đối chiếu với bài học để đánh giá
đúng /sai. Ở mức độ cao hơn, có thể kết hợp sách giáo khoa với phiếu bài tập
được giao hoặc căn cứ nội dung sách giáo khoa, học sinh tự đặt ra bài tập để
thực hiện.
Hoạt động tự kiểm tra, đánh giá kết quả tự học cần tổ chức dưới nhiều
hình thức khác nhau và cần phối hợp giữa các hình thức đó với nhau. Chẳng
hạn, trong dạy học môn Vật lí ở trường THCS, sau mỗi bài học, học sinh cần trả
lời hệ thống câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa hoặc do giáo viên giao thêm
ứng với phần kiến thức tự học tương ứng; hoặc yêu cầu học sinh tái hiện lại các
nội dung kiến thức đã biết bằng nhiều cách như tái hiện bằng sơ đồ tư duy, bằng
Bước 3: Tóm tắt ý chính và hệ thống kiến thức bài học,
Bước 4: Làm bài tập,
Bước 5: Tự kiểm tra, đánh giá với sách giáo khoa.
19
3.2. Hướng dẫn học sinh tự học với bài tập vật lí:
* Các dạng bài tập vật lí:
Để giờ dạy vật lí đạt hiệu quả, bản thân tôi phải vận dụng tốt các bước
theo tiến trình dạy học, một trong những bước quan trọng đó là việc đặt vấn đề
thông qua các sự kiện mở đầu. Nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp dạy học
Vật lí đều thống nhất cho rằng, sử dụng một cách thích hợp các bài tập làm sự
kiện mở đầu để đặt vấn đề là một hướng đi đúng và có thể đạt hiệu quả cao.
Ngoài ra, do bài tập vật lí có thể được sử dụng ở các khâu khác nhau trên tiến
trình dạy học nên thông qua đó giáo viên thường xuyên thu được những tín hiệu
ngược từ phía học sinh về mức độ lĩnh hội của học sinh đối với vấn đề nghiên
cứu, về sự phát triển tư duy, về năng lực sáng tạo…Sử dụng bài tập ở mức nào,
hình thức cho học sinh tiếp cận ra sao và sử dụng vào lúc nào là tùy theo mục
đích, nội dung của vấn đề cần nghiên cứu, tùy theo yêu cầu về mức độ lĩnh hội
tri thức của học sinh.
Trong quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh khi giải các bài
tập vật lí, mỗi hình thức có những tác dụng khác nhau trong việc hỗ trợ và gây
hứng thú học tập cho học sinh.
Nếu căn cứ vào hình thức thể hiện, tôi chia bài tập vật lí thành 6 dạng:
3.2.1. Bài tập vật lí thể hiện bằng lời:
Bài tập vật lí biểu thị câu hỏi bằng lời là loại bài tập mà thông tin dữ liệu
và yêu cầu được đặt ra một cách ngắn gọn, súc tích. Khi nghe hoặc đọc xong nội
dung của bài tập, Học sinh có thể hiểu và thu nhận chính xác những thông tin về
hiện tượng hay các nhu cầu của bài tập.
giúp các em ôn tập, củng cố kiến thức đã lĩnh hội trên lớp.
Ví dụ: Sau khi học xong bài: Sự nhiễm từ của sắt và thép- Nam châm điện
(Vật lý 9), để khắc sâu kiến thức cho học sinh, giáo viên có thể giao cho các em
về nhà mỗi nhóm làm một nam châm điện, dụng cụ gồm: một lõi sắt non, đoạn
dây dẫn dài 1 mét, hai viên pin, một số đinh ghim và củng cố lại các cách làm
tăng lực từ của nam châm điện.
Hay muốn học sinh nắm vững công thức tính điện trở R của dây dẫn,
giáo viên giao cho mỗi nhóm học sinh một đoạn dây dẫn bằng các vật liệu, chiều
dài, tiết diện khác nhau, yêu cầu mỗi nhóm về tính điện trở đoạn dây dẫn của
nhóm mình.
21
3.2.6. Sử dụng bài tập vật lí trong quá trình ôn tập, củng cố kiến thức: Sau
khi tổ chức cho học sinh lĩnh hội kiến thức, giáo viên giúp học sinh ôn tập, củng
cố những kiến thức đã học bằng sơ đồ
Ví dụ: Khi dạy xong bài: Kính lúp (Vật lí 9), giáo viên có thể hướng dẫn
học sinh tóm tắt nội dung bài học bằng sơ đồ tư duy:
VI. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ khi tôi áp dụng biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học, tự nghiên cứu cho
học sinh trong dạy học Vật lí ở trường THCS, đặc biệt hướng dẫn học sinh tự
học, tự nghiên cứu kĩ nội dung bài học ở sách giáo khoa và bài tập vật lí thì chất
lượng học tập của các em tăng lên rõ rệt cả về ý thức lẫn chất lượng học tập.
Phát huy được tính tích cực trong việc tiếp thu bài mới, trong việc tự học ở nhà,
trong việc tự kiểm tra đánh giá việc nắm kiến thức của mình, đáp ứng được yêu
cầu dạy học theo hướng tích cực hiện nay. Kết quả học tập của học sinh được cải
TL%
SL
TL%
33
3
9,1
10
54,5
20
36,4
35
4
11,4
12
60,0
19
28,6
29
3
10,3
11
37,9
15
51,7
30
4
13,3
12
40,0
14
31
88,6
29
3
10,3
26
89,7
30
2
6,7
28
93,3
Từ kết quả ở bảng trên, tôi thấy rằng số học sinh có hứng thú học tập môn
Vật lí đã tăng nhiều, số học sinh chưa hứng thú học môn Vật lí đã giảm. Cụ thể
như sau: ở đầu năm, số học sinh chưa hứng thú học Vật lí của 4 lớp là 65 em, ở
cuối năm chỉ còn 12 em. Số học sinh có hứng thú học Vật lí ở đầu năm của 4 lớp
là 62 em, cuối năm tăng đến 115 em.
*Bảng thống kê chất lượng TB môn Vật lí năm học 2014-2015
Lớp
TSHS
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
25,7 2
5,7
27,6 2
6,9
30,0 2
6,7
môn Vật lí năm học
SL TL%
32
97,0
33
94,3
27
93,1
28
93,3
2014-2015,
tôi thấy rằng, nhờ việc thực hiện thường xuyên các kĩ năng tự học, các em có
hứng thú học tập môn Vật lí nên kết quả trung bình môn của năm học 20142015 cũng tăng lên. Cụ thể như sau: ở đầu năm, số học sinh yếu của 4 lớp là 31
em, cuối năm đã giảm còn 7 em.
Sang năm học 2015-2016, tôi tiếp tục áp dụng đề tài này trong dạy học
Vật lí của mình với tất cả các lớp mà trường đã phân công và kết quả trung bình
môn HKI năm học 2015- 2016 như sau:
Bảng thống kê chất lượng TB môn Vật lí HKI năm học 2015-2016
Lớp
1
9
34,6
33,3
22,8
30,6
48,7
59,5
41,7
60,0
SL
12
10
15
12
6
11
8
8
Khá
TL%
41,4
33,3
42,8
33,3
15,4
29,7
22,2
22,8
7,7
0
0
3
8,3
1
2,9
TB trở lên
SL TL%
28
96,5
28
93,3
33
94,3
32
88,9
36
92,3
37
100
33
91,7
34
97,1
Không những chất lượng trung bình môn được nâng lên mà trong quá
trình bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi cũng đã sử dụng các biện pháp trên trong việc
bồi dưỡng kĩ năng tự học cho các em nên liên tục 2 năm học gần đây (20142015 và 2015- 2016) môn Vật lí 8 và 9 đều đoạt giải cấp huyện. Đặc biệt, có 2
phương tiện học tập, tự học với sách giáo khoa vật lí, tự học với bài tập vật lí…
Qua thực tế dạy học Vật lí THCS, tôi thấy rằng việc áp dụng kinh nghiệm
trên đã mang lại kết quả tốt hơn nhiều so với khi tôi chưa thực hiện, cụ thể như
mức độ thực hiện các kĩ năng tự học và sự hứng thú học tập vật lí đã nâng lên rõ
rệt, học sinh học tập tích cực, lớp học sôi nổi, các em nắm được bài chắc hơn,
các em có hứng thú tự học, tự kiểm tra và cuối cùng là chất lượng dạy học được
nâng cao và đã tích cực góp phần vào đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
tích cực trong môn Vật lí THCS hiện nay.
25
VIII. ĐỀ NGHỊ
Sử dụng bài tập vật lí trong việc bồi dưỡng, rèn luyện kĩ năng tự học cho
học sinh gặp khó khăn ở chỗ thời gian sửa bài tập cho các em còn hạn chế, vì
trong chương trình Vật lí THCS có rất ít tiết bài tập, mà bài tập thì lại rất nhiều.
Từ khó khăn trên nên đối với chương trình Vật lí THCS cần dành thêm các tiết
bài tập để giáo viên có thời gian củng cố, mở rộng kiến thức và rèn cho các em
phương pháp tự học đạt hiệu quả hơn.
Để hình thành các kĩ năng tự học vật lí cho học sinh THCS đòi hỏi giáo
viên phải hướng dẫn, giao nhiệm vụ học tập cụ thể; đổi mới phương pháp và
hình thức tổ chức dạy học môn Vật lí trên lớp; đổi mới nội dung và hình thức
kiểm tra, đánh giá để phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh, khuyến
khích học sinh sáng tạo và chủ động trong học tập.
Trước khi lên lớp, giáo viên không những chuẩn bị thật tốt đồ dùng dạy
học phục vụ tiết dạy mà còn phải chuẩn bị thật kĩ về hệ thống câu hỏi, bài tập,
yêu cầu nội dung rõ ràng, ngắn gọn nhưng phải chất lượng, phù hợp với nội
dung của từng bài, dễ hiểu và tiết kiệm được thời gian.
Kính thưa quý thầy giáo, cô giáo! Ý tưởng của đề tài trên xuất phát trong
quá trình dạy học. Do khả năng có hạn, nên không thể tránh được những thiếu