Vấn đề tạo hứng thú cho học sinh trong tiết học ngữ văn đi đôi với hiệu quả và có tính giáo dục cao - Pdf 26

Sáng kiến kinh nghiệm Hoàng Thị Thu
Bình
TẠO HỨNG THÓ HỌC TẬP CHO HỌC SINH
TRONG TIẾT DẠY NGỮ VĂN
1
Sáng kiến kinh nghiệm Hoàng Thị Thu
Bình
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy Ngữ văn hiện nay đã và đang
thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy. Phương pháp dạy học đổi mới
chú trọng đến việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học
sinh làm cho học sinh ham thích môn học. Điều 24, Luật giáo dục (do Quốc
hội khóa X thông qua) cũng đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với
đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Đây là định hướng cơ bản thiết thực đối
với mỗi giáo viên trong đó có giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn.
Từ nhiều năm nay, phương pháp dạy văn đổi mới đã chú trọng phát
triển hứng thú học văn của học sinh. Một trong những mục đích của giờ văn
là làm sao gây được rung động thẩm mĩ, giáo dục nhân cách cho học sinh. Ai
đó đã nói rằng: “Dự đó dắt ngựa đến bờ sông cũng không thể bắt nó uống
nước được”. Vấn đề học tập của trẻ cũng vậy. Dự cú bắt được chúng ngồi
ngay ngắn học tập nhưng nếu không thích thú, trẻ không thể học tốt được. Từ
thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn lớp 10 tôi nhận thấy, muốn giờ dạy đạt
hiệu quả cao, ngoài việc truyền đạt kiến thức, tôi nghĩ rằng mình cần phải
biết gây hứng thú học tập cho học sinh để tiết học thực sự nhẹ nhàng, sinh
động; học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên, không gượng ép. Từ đó
mới phát huy thực sự tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh.
Trong phạm vi của sáng kiến kinh nghiệm, tôi xin đề cập đến một số

tiễn giảng dạy.
5. Cuối cùng là tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm cho cả quá trình.
3
Sáng kiến kinh nghiệm Hoàng Thị Thu
Bình
PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận:
Nghiên cứu về hứng thú, các nhà tõm lớ học cho rằng, đây là thái độ
đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa đối với cuộc
sống vừa có khả năng mang lại khoái cảm cá nhân trong quá trình hoạt động.
Nó được biểu hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê hấp dẫn
bởi nội dung hoạt động. Mặt khác, hứng thú bao giờ cũng dẫn đến một đối
tượng cụ thể hấp dẫn, nó gắn liền với tình cảm con người. Trong bất cứ một
công việc gì nếu có hứng thú làm việc con người sẽ có cảm giác dễ chịu với
hoạt động, làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động có sáng tạo.
Ngược lại nếu hứng thú không được thỏa mãn sẽ dẫn đến cảm xúc tiêu cực.
Theo các nhà nghiên cứu giáo dục thì hiệu quả trong việc gây hứng
thú cho học sinh trong giờ dạy Ngữ văn nói lên trình độ giáo dục văn học của
nhà trường nói chung và của từng giáo viên. Văn học dễ làm say mê người
học nếu người dạy tạo được sự hứng thú tự thân nơi người học. Người học
văn cảm thụ được cái hay, cái đẹp trong từ ngữ, bố cục, vần điệu khi có
được sự hứng thú tìm hiểu và đưa đến cảm xúc. Cái khó của người dạy là làm
thế nào truyền được cảm xúc của tác giả đến với người học. Trong nhà
trường phổ thông đối tượng học sinh do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi thích
tìm hiểu và sáng tạo nhưng chưa có phương pháp đúng để cảm thụ văn học,
chưa hiểu rõ cái hay, cái đẹp ẩn chứa trong từng câu thơ, câu văn, chưa có
cảm xúc thực sự đồng điệu với cảm xúc của tỏc giả Chớnh những thiếu sót
trên, học sinh thường không thích học và đọc văn. Nhiệm vụ của giáo viên
dạy văn là phải tạo sự hứng thú, phải khiến cho những từ ngữ khô khan biết
nhảy múa, biết vẽ ra những khung cảnh lúc yên bình, lúc dữ dội; phải đi vào

trường tự nhiên và xã hội một cách phù hợp trong từng tiết dạy. Qua việc tích
hợp và lồng ghép cộng với liên hệ thực tế để giáo dục học sinh đã đem lại
cho bộ môn Ngữ văn có những tín hiệu khởi sắc. Đó là phương pháp dạy –
học mới đang được tiếp cận một cách tích cực.
5
Sáng kiến kinh nghiệm Hoàng Thị Thu
Bình
Tài năng sư phạm của người thầy được dành nhiều hơn cho việc học
sinh tự tìm hiểu cảm thụ tác phẩm. Trong từng tiết dạy, giáo viên đã mạnh
dạn phối hợp cùng học sinh tiếp cận, phân tích, tổng hợp và hình thành những
tri thức cần nắm. Giáo viên nắm rõ được quan điểm tích hợp của sách giáo
khoa, có nhiều cố gắng rèn luyện kỹ năng nghe - đọc - nói - viết cho học sinh.
Học sinh không chỉ nắm kiến thức mà quan trọng hơn là biết vận dụng kiến
thức vào cuộc sống như: Nói, viết tiếng Việt thành thạo, biết tạo lập văn bản,
biết sáng tác thơ, sáng tác tác phẩm nghệ thuật ngắn. Chính những chuyển
biến này đó giỳp giáo viên nhanh chóng tiếp cận và thực hiện thành công
những đổi mới trong phương pháp dạy – học Ngữ văn.
Tuy nhiên có một số giáo viên vẫn còn làm việc quá nhiều, trong một
tiết dạy đưa ra khá nhiều thông tin. Điều này dễ đưa các em vào thế bị động
ghi nhớ, không tạo điều kiện cho các em độc lập suy nghĩ, sáng tạo. Từ đó
dẫn đến sau này đứng trước nhiều vấn đề mới các em bỡ ngỡ, bị động, lúng
túng và không có đủ khả năng, bản lĩnh để giải quyết những vấn đề phức tạp
trong cuộc sống.
Một số tiết dạy vẫn còn rập khuôn theo trình tự 5 bước lên lớp. Nó
biến giờ học thiếu sự phóng khoáng, trở nên nhạt nhẽo, làm tê liệt sự hào
hứng của học sinh. Rồi giáo viên chỉ dùng một phương pháp dạy chủ yếu là
thuyết trình, không có sự linh hoạt trong việc kết hợp các phương pháp. Bên
cạnh đó là việc sử dụng các giỏo án mẫu, thiết kế bài giảng một cách máy
móc làm mất đi sự cảm thụ sáng tạo riêng của cá nhân.
2. Về phía học sinh:

không hay, không say mê, nhiệt tình thỡ khú mà làm cho học trò thớch mụn
văn. Một số tiết dạy bình thường giáo viên lại quay về phương pháp cũ, tức là
cung cấp cho học sinh từng kiến thức, thậm chí đọc chép cho học sinh. Điều
này cũng do nguyên nhân giáo viên chưa tin vào năng lực thi công của mình,
nhất là đối với học sinh yếu kém. Giáo viên thường ghi câu chữ, hình ảnh,
biện pháp tu từ sau đó đánh mũi tên sang ngang ghi tác dụng, ý nghĩa … một
cách máy móc giản đơn. Điều đó vừa làm mất đi tính toàn vẹn của tác phẩm,
vừa gây khó khăn cho học sinh khi học bài ở nhà.
7
Sáng kiến kinh nghiệm Hoàng Thị Thu
Bình
Thao tác vào bài (giới thiệu bài) của giáo viên thường là nhắc lại tên
bài học trước, nêu tên bài học hôm nay. Kiểu dẫn dắt đơn điệu này không
kích thích được hứng thú học tập của học sinh.
Thao tác tìm hiểu bài còn hạn chế là: Câu hỏi quá dễ hoặc quỏ khú,
diễn giảng vụn vặt sau câu trả lời của học sinh, bỏ qua chỗ diễn giảng cao
trào để bổ sung, nâng cao, mở rộng cách hiểu cho học sinh.
2/ Đa số học sinh, cha mẹ học sinh đầu tư vào cỏc mụn khoa học tự
nhiên và ngoại ngữ, xem nhẹ môn Ngữ văn. Điều này dễ nhận thấy ở việc
học sinh ồ ạt đăng kí học bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn hoặc ở việc tìm
thầy phụ đạo thêm và ở việc học sinh học bài ở nhà.
3/ Cơ sở vật chất, tài liệu minh họa, đồ dùng dạy học để phục vụ giảng
dạy và bổ sung kiến thức học tập môn văn nghèo nàn, đơn điệu, chủ yếu là một
số tranh ảnh và sách tham khảo. Từ đó dẫn đến việc giáo viên dạy chay cũn
học sinh thì lúng túng không biết chọn lựa sách nào để đọc cho phù hợp.
Những hoạt động ngoại khóa để khắc sâu, mở rộng kiến thức, gây
hứng thú học tập môn Ngữ văn cho học sinh rất ít được tổ chức vì tốn kém,
mất nhiều thời gian và công sức.
III. GIẢI PHÁP:
1. Sự chuẩn bị của giáo viên:

khơi gợi hứng thú học tập. Thông qua giao tiếp học sinh chủ động tiếp nhận
kiến thức, giờ học trở nên sinh động hơn. Để đạt điều này, giáo viên phải tạo
những tình huống có vấn đề để gợi mở suy nghĩ của học sinh, học sinh sẽ cố
gắng khám phá tìm hiểu vấn đề. Từ đó học sinh tranh luận, thảo luận bảo vệ ý
kiến của mình khi có những ý kiến trái ngược nhau. Lưu ý là phải tạo điều
kiện để các em lựa chọn cách hiểu và hướng dẫn đến ý kiến đúng một cách
kịp thời, phù hợp. Hoạt động giao tiếp trong giờ học được thực hiện từ khâu
tìm hiểu bài, hình thành kiến thức mới và luyện tập thực hành. Phải có sự
phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động của thầy và trũ….
Tổ chức trò chơi cũng chính là hoạt động giao tiếp nhằm khơi gợi
hứng thú học tập của học sinh. Có thể tổ chức trong tiết dạy với hình thức thi
9
Sáng kiến kinh nghiệm Hoàng Thị Thu
Bình
giữa các nhóm nhỏ với nhau để làm bài tập củng cố kiến thức. Hoặc kết hợp
với những đề tài cụ thể để lôi cuốn học sinh vào trò chơi, có động viên khen
thưởng kịp thời.
+ Giáo viên thay đổi các ví dụ minh họa trong giờ học tạo cũng là
một biện pháp tạo ra được hứng thú học tập của học sinh. Trong những bài
mà ví dụ khô khan, xa lạ, khó hiểu giáo viên nên chủ động nờu cỏc ví dụ gần
gũi với cuộc sống, với tình hình thời sự và đặc điểm của lứa tuổi học sinh.
Chớnh cỏc ví dụ này làm cho tiết học bớt khô khan cứng nhắc, vui hơn, khơi
gợi hứng thú học tập của học sinh hơn.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:
Vấn đề tạo hứng thú cho học sinh trong tiết học ngữ văn đi đôi với hiệu
quả và có tính giáo dục cao. Học sinh có thể có hứng thú nhưng hiệu quả giáo
dục mới là mục đích mà người dạy cần đạt. Người viết xin trình bày một số
phương pháp đã áp dụng khi hướng dẫn học sinh tiếp xúc với văn bản như sau:
a) Phương pháp chia nhóm thảo luận:
Phương pháp này mang lại cho học sinh cơ hội thuận lợi để làm quen

* Dạy bài “Nội dung và hình thức của văn bản văn học”
Sau khi giáo viên truyền thụ kiến thức học sinh tìm hiểu khái niệm,
để hệ thống hóa cỏc kiến thức đã học về nội dung (đề tài, chủ đề, tư tưởng,
cảm hứng nghệ thuật) và hình thức (ngôn từ, kết cấu, thể loại) của văn bản
văn học, giáo viên dùng sơ đồ vẽ sẵn lên phim trong và cho các em điền vào
cỏc ụ trống.
Giáo viờn có thể chia lớp thành 2 nhóm. Nhóm nào điền nhanh đúng
đưa lên đèn chiếu sẽ thắng.
11
Sáng kiến kinh nghiệm Hoàng Thị Thu
Bình
b) Phương pháp dùng bản đồ tư duy:
Cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc,
với các mạng lưới liên tưởng (cỏc nhánh) - BĐTD là công cụ đồ hoạ nối các
hình ảnh có liên hệ với nhau, vì vậy có thể sử dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học
kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hoá kiến
thức sau mỗi chương…
Bản đồ tư duy giúp học sinh học được phương pháp học tập chủ
động, tích cực. Thực tế ở trường phổ thông cho thấy, một số học sinh có xu
hướng không thích hoặc ngại học môn Ngữ văn do đặc trưng môn học
thường phải ghi chép nhiều, khó nhớ. Một số em học tập chăm chỉ nhưng
thành tích học tập chưa cao. Các em thường học bài nào biết bài nấy, học
phần sau không biết liên hệ với phần trước, không biết hệ thống kiến thức.
Do đó, việc sử dụng thành thạo bản đồ tư duy trong dạy học sẽ giỳp cỏc em
có được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển
tư duy.
Bản đồ tư duy giúp học sinh ghi chép rất hiệu quả. Do đặc điểm của
bản đồ tư duy nên người thiết kế bản đồ tư duy phải chọn lọc thông tin, từ
ngữ, sắp xếp bố cục để ghi thông tin cần thiết nhất và lụgic, vì vậy, sử dụng
bản đồ tư duy sẽ giúp học sinh dần dần hình thành cách ghi chép hiệu quả.

7 B Ạ C M Ệ N H
8 T H Ú Y V Â N
9 Đ Ạ M T I Ê N
H O A L I Ễ U 10
11 Đ Ạ P T H A N H
12 N G H I X U Â N
13 L Ầ U N G Ư N G B Í C H
14 V Ư Ơ N G Q U A N
15 T Ố N H Ư
16 M Ã G I Á M S I N H
1. Thúy Kiều đã khen người này là “khụn ngoan đến mực nói năng
phải lời”.
2. Người “thụng minh tài mạo tót vời”.
3. Người cưu mang giúp đỡ Thúy Kiều.
4. Người bị lừa chết đứng giữa trận tiền.
14
Sáng kiến kinh nghiệm Hoàng Thị Thu
Bình
5. Nguyễn Du đó dựng điệp ngữ này miêu tả tâm trạng Kiều ở lầu
Ngưng Bích.
6. Nơi Thúy Kiều hết kiếp đoạn trường.
7. Tên một bản nhạc mà Thúy Kiều đã chơi.
8. Người có vẻ đẹp “trang trọng khác vời”.
9. Người cùng kiếp hồng nhan bạc mệnh như Kiều.
10. Đối tượng ghen hờn trước vẻ đẹp của Kiều.
11. Một ngày hội trong truyện Kiều.
12. Địa danh quê hương của Nguyễn Du.
13. Nơi Tú Bà đưa Kiều đến giam lỏng.
14. Người bạn đồng môn với Kim Trọng.
15. Tên chữ của Nguyễn Du.

1. Nón trắng (dữ liệu): Màu trắng là màu trung tính và khách quan.
Nón trắng tập trung vào những con số và sự thực khách quan mang hình ảnh
của một tờ giấy trắng, thông tin, dữ liệu. Khi chúng ta tưởng tượng đang đội
chiếc nón trắng, chúng ta chỉ cần suy nghĩ về các thông tin, dữ kiện liên quan
đến vấn đề đang cần giải quyết.
- Tiểu sử tác giả?
- Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm?
- Lời bình về tác giả, tác phẩm?
2. Nón đỏ (cảm xúc): Màu đỏ tượng trưng cho sự đam mê và xúc
cảm. Nón đỏ chú trọng vào gúc nhỡn của cảm xúc mang hình ảnh của lửa
đang cháy, con tim, dòng máu nóng, sự ấm áp. Khi tưởng tượng đang đội
chiếc nón đỏ, chúng ta chỉ cần đưa ra các cảm giác, cảm xúc, trực giác của
mình về vấn đề đang giải quyết. Chỉ đưa ra các cảm giác, không cần giải
thích.
- Cảm xúc khi lần đầu đọc tác phẩm?
- Cảm xúc khi phân tích tác phẩm?
3. Nón vàng (hay, lợi, tích cực): Màu vàng tươi vui và gắn liền với
những ý nghĩa tích cực. Nón vàng hướng đến sự lạc quan, chứa đựng những
16
Sáng kiến kinh nghiệm Hoàng Thị Thu
Bình
hy vọng và suy nghĩ tích cực mang hình ảnh của ánh nắng mặt trời, sự lạc
quan, các giá trị, các lợi ích. Người đội nón vàng sẽ đưa ra các ý kiến lạc
quan, có logic, các mặt tích cực, các lợi ích của vấn đề, mức độ khả thi của
dự án.
- Hay về nghệ thuật của tác phẩm?
- Hay về nội dung của tác phẩm?
4. Nón đen (dở, hại, tiêu cực): Màu đen ảm đạm và trang nghiêm.
Nón đen là nón của sự cảnh giác và thận trọng. Nó chỉ ra những nhược điểm
của một ý tưởng, một giải pháp. Hãy liên tưởng đến các điểm yếu, các lỗi, sự

mọi người phải đội mũ cùng màu”. Cuối cùng, tập hợp mọi ý kiến, tóm tắt,
kết luận và ra kế hoạch (Chúng ta đã đạt được gì qua buổi thảo luận? Chúng
ta có thể bắt đầu hành động chưa? Chúng ta có cần thêm thời gian và thông
tin để giải quyết vấn đề này?).
Chúng ta thấy rằng, với kỹ thuật 6 chiếc nón tư duy, mọi người sẽ
cùng tập trung giải quyết vấn đề từ cùng một gúc nhỡn do đó sẽ không xảy ra
xung đột do những quan điểm khác nhau. Ngoài ra, một vấn đề sẽ được xem
xét từ nhiều khía cạnh trước khi được quyết định, điều này sẽ giúp chúng ta
cú cỏc quyết định hiệu quả và đúng đắn.
3. Việc sử dụng đồ dùng dạy học
Đồ dùng dạy học có tác dụng tác động tới thính giác thị giác của học
sinh một cách tích cực nhất. Sự hỗ trợ của đồ dùng dạy học cho các hoạt
động học sẽ kích thích trí tò mò, lòng ham hiểu biết và hứng thú học tập môn
Ngữ văn của học sinh.
Có thể kể đến các phương tiện trong giờ học Ngữ văn như sau:
- Bảng viết: trình bày bảng là nghệ thuật giúp học sinh có thể quan
sát, ghi chép một cách có hệ thống đầy đủ các nội dung theo tiến trình bài
học. Phấn màu cần được sử dụng hài hòa, có tác dụng trực quan. Nội dung
trình bày ngắn gọn, đủ nội dung bài học, tránh dài dòng. Có thể để phần bảng
phụ tương ứng với lượng thời gian luyện tập để học sinh có đủ bảng trình bày
kết quả.
18
Sáng kiến kinh nghiệm Hoàng Thị Thu
Bình
- Tranh ảnh, sơ đồ: Được sử dụng phổ biến vì dễ làm, tiết kiệm nhiều
mặt. Khi sử dụng , nên dành thời gian cho học sinh quan sát suy nghĩ sẽ khắc
sâu được dự kiến tác dụng đồ dùng của giáo viên.
- Ứng dụng công nghệ thông tin: Những ứng dụng công nghệ thông
tin đã thực sự đem lại cho giáo viên và học sinh những giờ học hứng thú qua
các hoạt động thu nhập, lưu trữ, mô phỏng và trình chiếu lượng thông tin

tập, noi theo tấm gương của thầy. Những người thầy không chỉ hướng dẫn
kiến thức cho học sinh mà còn biết giao lưu cởi mở mối quan hệ thầy trò,
giúp học trò tìm thấy sự hứng thú trong học tập và tìm tòi sáng tạo. Từ đó giờ
Ngữ văn mới thực sự hấp dẫn với học sinh, và người thầy dạy sẽ trở thành
thần tượng của các em.
Qua thực hiện các biện pháp đó nờu trong bộ môn ngữ văn ở bậc
THCS người viết đã nhận thấy các em học sinh có nhiều tiến bộ rõ rệt khi tìm
hiểu những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, giúp học sinh
khắc sâu các kiến thức về Tiếng Việt cỏc em yêu thích học văn, hăng hái
phát biểu, không còn những giờ văn giáo viờn luụn thuyết giảng mà hiệu quả
không như ý muốn. Từ các bài làm của học sinh trong khi kiểm tra 1 tiết và
các bài thi định kỳ, giáo viên nhận thấy sự tiến bộ rõ nét trong việc các em
dùng từ, đặt câu nêu cảm nghĩ, phân tích đánh giá. Bước đầu các em đã thấy
hứng thú khi tìm hiểu di sản văn hóa Việt Nam và các nước trên thế giới, biết
rung động trước cảnh đẹp quê hương đất nước, lịch sử và con người. Học
sinh đã có ý kiến cá nhân, nêu những điều các em nghĩ chứ không bị áp đặt.
5. Minh họa trong một số tiết dạy cụ thể
20
Sáng kiến kinh nghiệm Hoàng Thị Thu
Bình
GIÁO ÁN 1:
Tiết: 1 - 2 PPCT
Đọc văn:
TỔNG QUAN VĂN HỌC VIỆT NAM
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC:
1. Kiến thức:
Giúp học sinh:
- Nắm được những kiến thức chung nhất, tổng quát nhất về hai bộ
phận của văn học Việt Nam (văn học dân gian và văn học viết) và quá trình
phát triển của văn học viết Việt Nam (văn học trung đại và văn học hiện đại).

- Tổ 2: Quá trình phát triển của văn
học viết Việt Nam.
- Tổ 3: Con người Việt Nam trong
quan hệ với thế giới tự nhiên và trong
quan hệ quốc gia, dân tộc.
- Tổ 4: Con người Việt Nam trong
quan hệ xã hội và ý thức về bản thân.
Yêu cầu: mỗi tổ thảo luận nêu được
những ý chính cơ bản, hệ thống ý
thành bảng tóm tắt qua bảng con để
trình bày trước lớp.
Thời gian thảo luận: 15 phút.
Hoạt động 2: Đại diện của các tổ trình
bày.
- Tổ 1 trình bày những nội dung cơ
bản về các bộ phận hợp thành của văn
học Việt Nam.
+ Các tổ 2, 3, 4 nêu những thắc mắc,
những điều cần lý giải, trao đổi với tổ
1.
+ Tổ 1 trả lời những câu hỏi của các
I. CÁC BỘ PHẬN HỢP THÀNH
CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM:
1. Văn học dân gian:
- Là sáng tác tập thể và truyền miệng
của nhân dân lao động.
- Có 12 thể loại chủ yếu.
- Đặc trưng tiêu biểu: tính truyền
miệng, tính tập thể.
2. Văn học viết:

Nêu được các ví dụ chứng minh.
+ Các tổ 1, 3, 4 nêu những thắc mắc,
những điều cần lý giải, trao đổi với tổ
2.
+ Tổ 2 trả lời những câu hỏi của các
tổ.
+ Các tổ nhận xét phần trình bày về
nội dung và hình thức của tổ 2.
+ Giáo viên nhận xét, nhấn mạnh
những ý cơ bản.
tháng Tám 1945.
- Sau Cách mạng tháng Tám 1945
đến hết XX.
 văn học hiện đại.
1. Văn học trung đại:
- Được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm.
- Văn học chữ Hán:
+ Hình thành từ thế k• X.
+ Chịu ảnh hưởng các học thuyết
Nho giáo, Phật giáo, tư tưởng Lão -
Trang.
+ Tiếp nhận hệ thống thể loại và thi
pháp văn học cổ - trung đại Trung
Quốc.
- Văn học chữ Nôm:
+ Bắt đầu phát triển mạnh vào thế k•
XV, đạt tới đỉnh cao vào cuối XVIII
- đầu XIX.
+ Thể hiện ý chí xây dựng nền văn
hiến độc lập.

sống nhanh hơn  sôi nổi, năng
động.
+ Về thể loại: thơ mới, tiểu thuyết,
kịch nói….
+ Về thi pháp: lối viết hiện thực, đề
cao cá tính sáng tạo, “cái tôi” cá
nhân được khẳng định.
- Phản ánh hiện thực xã hội và chân
dung con người trên tất cả các
phương diện phong phú, đa dạng
III. CON NGƯỜI VIỆT NAM:
1. Con người Việt Nam trong quan
hệ với thế giới tự nhiên:
-Văn học dân gian:
+ Quá trình nhận thức, cải tạo, chinh
phục thế giới tự nhiên.
+ Tình yêu thiên nhiên.
- Văn học viết:
+ Văn học trung đại  gắn với lý
tưởng đạo đức, thẩm mỹ.
+ Văn học hiện đại  tình yêu quê
hương, đất nước, yêu cuộc sống, tình
yêu đôi lứa.
2. Con người Việt Nam trong quan
24
Sáng kiến kinh nghiệm Hoàng Thị Thu
Bình
tổ.
+ Các tổ nhận xét phần trình bày về
nội dung và hình thức của tổ 3.

hệ xã hội:
- Thể hiện ước mơ về một xã hội
công bằng, tốt đẹp
- Tố cáo, phê phán các thế lực
chuyên quyền, xã hội đen tối, bày tỏ
cảm thông với những người bị áp
bức.
 Hình thành chủ nghĩa hiện thực và
chủ nghĩa nhân đạo trong văn học.
4. Con người Việt Nam và ý thức về
bản thân:
- Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt đề
cao ý thức cộng đồng  ý thức xã
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status