luận văn đại học sư phạm Nguyễn Gia Trí bậc thầy của tranh sơn mài Việt Nam - Pdf 26

Đỗ Thị Yến Tiểu luận tốt
nghiệp
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong bối cảnh hiện nay với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá thì những
giá trị tình thần mang tính đặc trưng của địa phương, vùng miền luôn được
đề cao và coi trọng. Tranh sơn mài truyền thống cũng có thể coi là một trong
những sáng tạo đặc biệt của Việt Nam và chúng ta có thể tù hào về những gì
mà các hoạ sĩ đi trước đã dày công tìm tòi và nghiên cứu, biến chất liệu sơn
mài từ một chất liệu chuyên sử dụng trong mỹ nghệ trở thành một chất liệu
hội hoa độc nhất vô nhị ở Việt Nam. Nó Thể hiện sự trăn trở của biết bao
thế hệ hoạ sĩ vẽ và tìm ra bẳng mầu mới đáp ứng cho chất liệu tạo hình. Có
thể kể đến hàng loạt những cái tên mà cho đến bây giê những tác phẩm hội
hoạ đã trở thành những kiệt tác trong nền hội hoạ của Việt Nam nh Nguyễn
Gia Trí, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, TrÇn Văn Cẩn…Trong đó hoạ
sĩ Nguyễn Gia Trí là một cây đại thụ lớn không chỉ đóng có góp làm phát
triển chất liệu sơn mài nghệ thuật, đưa chất liệu này lên đến đỉnh cao của
một chất liệu hôI hoạ mà ông còn là một tấm gương đạo đức và nghề nghiệp
để cho nhiều thế hệ các họa sĩ trẻ sau này có thể học tập và noi theo
Cho đến nay sơn mài Việt Nam đã có một chỗ đứng quan trọng và vững
chắc trong nền hội hoạ nước nhà, và tạo nên một tiếng vang lớn cho hội hoạ
Việt Nam trong lòng của hội hoạ quốc tế. Chính sự yêu thích chất liệu và
lòng tự hào đó, là mét sinh viên cuối khoá khi chọn đề tài tốt nghiệp em đã
xác định cho mình đề tài cho tiểu luận tốt nghiệp của mình là “ Nguyễn Gia
Trí bậc thầy của tranh sơn mài Việt Nam.”. Để được tìm hiểu,được học,
được hiểu sâu hơn về chất liệu sơn mài và hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí người
được tôn vinh là ông vua của của chất liệu đó, tìm hiểu vè con người, sự
nghiệp của ông một người đợc bao nhiêu thế hệ hoạ sĩ xem như là tấm
Líp: K55A Mỹ thuật
Trường ĐHSP Hà Nội
1

Trường ĐHSP Hà Nội
2
Đỗ Thị Yến Tiểu luận tốt
nghiệp
được tôn làm “ ông vua sơn mài”. Để có thể thấy rõ hơn về đặc điểm của
chất liệu, phương thức thực hiện để vẽ một tranh sơn mài hoàn thiện. Và
những kĩ thuật đỉnh cáo của hoạ sĩ bậc thầy Nguyễn Gia Trí. Ông đã thể
hiện không những thành công mà còn sáng tạo và phát triển thêm những kĩ
thuật vẽ tranh sơn mài, đưa chất liệu này trở thành một chất liệu hội hoạ độc
đáo. Thông qua những quan điểm và những tác phẩm của ông thể hiện rõ
những nét đẹp độc đáo, tính thẩm mỹ dân téc kết hợp với tính thời đại và cả
những tâm huyết gắn bó với sơn mài trong suốt sự nghiệp vẻ vang của mình.
Nh vậy, với bài tiểu luận này tôi hi vọng sẽ góp một phần nào vào việc
tìm hiểu về chất liệu tranh sơn mài, và những giá trị của nã trong cuộc đời
,và tác phẩm của hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí.
6. BỐ CỤC CỦA TIỂU LUẬN.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì bài
thiểu luận gồm hai chương chính:
Chương 1: Vài nét về sơn mài Việt Nam
Chương 2: Nguyễn Gia Trí bậc thầy của tránh ơn mài Việt Nam
Líp: K55A Mỹ thuật
Trường ĐHSP Hà Nội
3
Đỗ Thị Yến Tiểu luận tốt
nghiệp
B.NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : VÀI NÉT VỀ SƠN MÀI VIỆT NAM
1 . Sơ lược về lịch sử sơn mài Việt Nam :
Trong lịch sử dân téc ta nghề sơn xuất hiện khá sớm, từ thời các vua
Hùng ( Việt cổ ) cách đây khoảng 2500 năm trớc đây ( tức là vào khoảng thế

ở sân Thế Miếu (đại diện cho 9 châu tức). Trên mỗi đỉnh cho khắc hình 1
loài cây đại diện cho châu tức đó, ở đây cây sơn được khắc trên cửu đỉnh thứ
6. Không chỉ nổi danh ở trong nước. Sơn Việt Nam có uy tín trên thị trường
quốc tế, từ Việt Nam sơn xuất sang Nhật Bản, Pháp, Hồng Kông từ những
quốc gia đó toả đi nhiều nơi trên thế giới. Cây sơn của ta nay được đặt tên
khoa học là Rhus Succédanea, ở Nhật Bản cũng có cây sơn sơn nhưng về
chất và lượng đền không giống với cây sơn nước ta tên khoa học cảu nó là
Rhus Venicifera. Campuchia cũng có một loại cây có nhựa hơi giống sơn có
tên là Hélanorrha luccifera.
Ban đầu sơn được sử dụng trong nghệ thuật trang trí và mỹ nghệ. Do tỉ
trọng khác nhau cảu các thành phần sơn sẽ đọng thành nhiều líp, líp đầu tiên
là sơn mặt dầu tức là líp tốt nhất, sau đó đến sơn giọi gồm có sơn nhất và
sơn nhì, đưới nữa là líp sơn thịt, sơn hom. Cuối cùng là nước thép ( còn gọi
là nước thiếc ). Bấy nhiêu loại người thợ sẽ tuỳ vào chất liệu mà gia công.
Đã từ lâu sơn ta được ding để trang trí các cung điện, đền, đài, cung điện, rất
nhiều công trình kiến trúc cho đến nay vẫn giữ được những pho tượng,
những cỗ kiệu, những cánh cửa… được trang trí bằng sơn ta như đình Đình
Líp: K55A Mỹ thuật
Trường ĐHSP Hà Nội
5
Đỗ Thị Yến Tiểu luận tốt
nghiệp
Bảng, chùa Bót Tháp, Chùa Tây Phương…Ngoài ra sơn ta còn được ding
trong trong trí vật dụng hàng ngày như tráp, hộp, quả trầu, gối, bàn, ghế,
giường, hòm…Kĩ thuật sơn cổ truyền chia ra là hai lối sơn dầu và sơn mài.
Làm sơn dầu Ýt công hơn và sản phẩm cũng không bền đẹp bằng sơn mài.
Ngoài các kĩ thuật làm phằng, đánh bóng chất liệu và sử dụng mầu đen của
sơn then, mầu nâu cảu sơn cánh gián, mầu đỏ cảu son các nghệ nhân đã biết
sử dụng vàng bạc cho tác sản phẩm trang trí thêm phần lộng lẫy.
Ban đầu các tác phẩm sơn mài của các nghệ nhân xưa thường vẽ trực

ta để vẽ phong cảnh. Lúc đó họ cũng chỉ mới biết dùng ba mầu cơ bản của
chất liệu này. Hoạ sĩ Trần Quang Trân cso sáng kiến rắc bột vàng bột bạc
vào sơn then, sơn cánh gián để tạo ra các mầu khác lạ, điều quan trọng của
sáng kiến này đó là nó tạo ra đậm nhạt. Nh vậy sơn mài đã toạ được không
gian với các sắc thái khác nhau của tự nhiên. Tiếp đó Nguyễn Tư Nghiêm sử
dụng sơn mài với một phong cánh nhẹ nhàng bay bướm không khác gì chất
liệu sơn dầu. Từ đây cho tớ năm 1945 nhiều hoạ sĩ chuyển dần sang sáng tác
tranh sơn mài. Có nhiều hoạ sĩ đã lấy chất liệu tranh sơn mài làm chất liệu
sáng tác tranh chủ yếu của mình. Trong vòng mười năm từ năm 1935 đến
năm 1945 quả là một giai đoạn mà sơn mài có những bước tiến đột xuất,
thay đổ cơ bản về chất. Mầu vàng mầu bạc nguyên chất đã hoá thành những
sắc tháI khác nhau cảu ánh sáng mặt trời, những mầu sơn son thết vàng, bạc
rồi phủ sơn ánh gián và mài đứt đã giúp cho các hoạ sĩ thể hiện được thiên
nhiên đa dạng, nhiều mầu sắc một cách sinh động. Hoặc vỏ trứng, một chất
liệu vốn rất vô cảm và cứng nh thế nay trở nên mề mại trong tranh cảu các
hoạ sĩ sơn mài, họ đã biến vỏ trứng thành những làn da mềm mại, tươi mát.
Tuy nhiên về mặt mội dung những tác phẩm vào giai đoạn này chỉ thành
công ở việc miêu tả những cảnh huyền ảo, mơ mông, những nhân vật thuộc
giới trung lưu hoặc thượng lưu, thành thị. Đó cũng là hạn chế chung của văn
nghệ sĩ tiêu tư sản nước ta giai đoạn cuối thời kì Pháp thuộc
Líp: K55A Mỹ thuật
Trường ĐHSP Hà Nội
7
Đỗ Thị Yến Tiểu luận tốt
nghiệp
1945 cách mạng thành công. Tại cuộc triển lãm Tháng Tám ở Hà Nội
năm 1946, nhân dịp kỉ niệm một năm sau ngày cánh mạng dành thắng lợi,
công chúng mới hoan nghênh những tác phẩm sơn mài lấy cảnh sinh hoạt
bình dị của con người làm đề tài cho sáng tác ( ví dụ bức lúa mới của Trần
Đình Thọ). Tiếp đó là cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1946-1954, việc

trong tác phẩm “Tát nước đồng chiêm” của TrÇn Văn Cẩn, “ Tổ đổi công”
của Hoàng Tích Chù, “Cảnh thuỷ nguyên” của Nguyễn Văn Tỵ, “Bình minh
trên nông trang” của Nguyễn Đức Nùng, “Qua bản cũ” của Lê Quốc Léc, “
Gặt lúa Tây Bắc” của Phan Kế An, “Qua cầu khỉ” của Nguyễn Hiên, “Hữu
nghị” của Nguyễn Khang, “Kéo pháo” của Dương Hướng Minh, “Chuyển
phân” của Trần Đình Thọ, “Đi chợ Bảo Hà” của Mai Văn Nam, cùng với
những bức tranh sơn mài khác của Thế Vị, Huy Hoà, Kim Đồng,…tất cả đã
chứng minh rằng sơn mài có khả năng diễn tả tốt bất cứ đề tài nào mà các
chất liệu khác diễn tả được.
Tại cuộc triển lãm nghệ thuật tạo hình của 12 nước XHCN năm 1958
được tổ chức tại Mát-xcơ-va, sơn mài được hoan nghênh nhiệt liệt coi như
nó giải quyết được vấn đề nội dung XHCN và hình thức dân téc.
Từ 50 năm trở lại đây sơn mài Việt Nam vẫn tiếp tục kế thừa và phát
triển những tinh hoa của thế hệ các hoạ sĩ líp trước, sơn mài đã trở thành
một chất liệu không thể thiếu trong nền hội hoạ Việt Nam nã mang vẻ đẹp
của truyền thống và sự kết hợp của tinh hoa mỹ thuật hiện đại.
Tầm quan trọng của nó đã được cụ thể hoá trong trường Cao đẳg Mỹ
thuật Đông Dương nay là trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội sơn mài trở
thành một khoa có tầm quan trọng không kém bất kỳ một khoa cơ bản nào
và được các thầy trò của trường Đông Dương yêu thích và say mê khám
phá chất liệu độc đáo này.
2. Màu sắc trong tranh sơn mài
Màu sắc trong tranh sơn mài Việt Nam còng được phát triển theo lịch
sử. Từ khi các hoạ sĩ đưa chất liệu sơn ta vào lĩnh vực hội hoạ đến lúc thành
Líp: K55A Mỹ thuật
Trường ĐHSP Hà Nội
9
Đỗ Thị Yến Tiểu luận tốt
nghiệp
công thì tranh sơn mài phát triển mạnh về số lượng và chất lượng. Màu sắc

nghiệp
rừng rực, bóng chãi nh vàng, không cứng rắn và đanh nh màu sáng của bạc.
Nhưng nếu sử dụng vỏ trứng để sáng tác tranh mà không có thẩm mỹ tốt và
kỹ thuật già dặn thì rất dễ bị rơi vào trang trí mỹ nghệ. Kỹ thuật sử dụng vỏ
trứng trong hội hoạ sơn mài đã đạt tới một chất lượng tuyệt hảo trên một số
tác phẩm của Nguyễn Gia Trí đầu năm 1940. Với sơn dầu các líp màu chồng
lên nhau liên tiếp và bức tranh hoàn thành ở líp vẽ trên cùng. Nhng kỹ thuật
hội hoạ sơn mài quy trình Êy gần như bị đảo ngược sau khi các líp vẽ chồng
hoặc tráng lên nhau người ta thực hiện một líp sơn phủ trùm toàn bộ (sơn
quang) và chính líp sơn trên cùng này lại là líp đầu tiên chịu tác động của
quá trình mài xuống; bức tranh sẽ hoàn thành ở tầng sâu cho hiệu quả tốt
nhất. Tuy nhiên còn có sự dị biệt khá căn bản giữa hai phong cách kỹ thuật
Á Âu đó là sự đảo ngược về mặt nền.
Sơn mài Việt Nam là dấu nối gữa tinh thần tả thực của phương tây-với
các nguyên tắc khoa học của nó về ánh sáng, về luật xa gần – và cách gọi tả
phương Đông bằng những ước lệ không gian, bằng hoà sắc đậm nhạt.
Đa sè tranh sơn mài mang truyền thống hội hoạ dân téc nhưng lại không
hề gạt ra ngoài các phương pháp tạo hình mới, đã thế lại phong phú thêm
với bản sắc cảu từng tác giả. Từ khi có tên “sơn mài” trong hội hoạ các hoạ
sĩ đã sáng tác bằng nhiều cách diễn tả khác nhau, khi theo lối tả thực, khi
theo lối gợi tả, thường thì kết hợp cả hai trong một bức tranh.
Chỉ tả thực thôi thì khó đưa sơn mài đi xa hơn nữa. Nói chung thì hiện
thực - đối tượng miêu tả của nghệ thuật – không phảI bản sao chép, nô lệ
những gì đã cso sãn trong thiên nhiên, mà phảI là hiện thực đã được gạn lọc,
biến chuyển qua cảm quan thẩm mỹ để trở nên đơn giản, kháI quát, hay nnói
cách khác là đã được sáng tạo, có như vậy hình tượng hội hoạ mới
truyền cảm mạnh. Và chính bảng mầu đặc biệt của chất liệu đặc biệt
trong tranh sơn mài đã phản ánh một thế giới quan sinh động, lộng lẫy,
Líp: K55A Mỹ thuật
Trường ĐHSP Hà Nội

Líp: K55A Mỹ thuật
Trường ĐHSP Hà Nội
12
Đỗ Thị Yến Tiểu luận tốt
nghiệp
tột độ mà vẫn mở rộng được không gian, lộng lên ánh sáng. Trong thiên
nhiên mà chúng ta quen thuộc làm gì có những không gian đơn giản đến nh
vậy. Nhng chính vì đơn giản nh vậy mà không gian của “tát nước đồng
chiêm” hay “Thôn VÜnh Mốc” cang trở nên cô đọng mà càng cô đọng càng
nói lên được cái mênh mông của không gian…Bằng bảng mầu phong phú
như hiện nay tranh sơn mài có thể bắt chước lối diễn tả trời biển của sơn
dầu, nhưng trong hoàn cảnh vẽ sơn dầu một mầu đen quýet lên mặt toan chỉ
có thể xỉn lại, khong hề có khả năng gợi tả biển trời. Mầu đen sơn dầu thiếu
hẳn chất trong và độ sâu của sơn mài.
Không gian ước lệ, ánh sáng lại càng ước lệ. Cảnh vật trong tranh của
các chất liệu khác thường được nhìn thấy dưới ánh sáng được trải rộng khắp
nơi. Nhiều người vẽ sơn mài không sử dụng khối sáng, tối để diễn tả ánh
sáng mà dùng mảng sáng tối để gợi tả ánh sáng. Ví dô nh tranh “đêm giáo
thừa”, “ quay xa”, “ giã gạo” của Sỹ Ngọc…Đói với sưon mài cách tạo ánh
sáng nh vậy rất phù hợp để thể hiện ánh sáng một cách “tượng trưng”. bằng
những mảng mầu đậm nhạt đặt cạnh nhau, đến nay vẫn còn là yếu tố mới,
được nhiều người tiếp tục tmf tòi, mong khám phá và sáng tạo thêm
Với những cách diễn tả khác nhau các hoạ sĩ Việt Nam đãkhẳng định vị
trí vững chãI cảu sơn mài trong nền hội hoạ Việt Nam hiện đại. Bằng mầu
sắc khi rực rỡ khi sâu lắng của sơn mài các hoạ sĩ diến tả không gian, ánh
sáng một cách cô đọng cố gắng thể hiện thiên nhiên con người Việt Nam
không ngừng đổi mới.
3. Các hoạ sĩ tiêu biểu.
Nhiều hoạ sĩ Việt Nam đắm chìm trong không gian hư ảo của sơn mài,
một ma lực lôi cuốn mãi không thôi. Các tác phẩm đầu tay của các hoạ sĩ

nhuộm vàng cả sườn núi. Trong tác phẩm “ Nhớ một chiều Tây Bắc” của
Phan Kế An gần nh chuyển được cái nắng đẹp nh vàng mười dó vào trong
tranh của mình , những đỉnh nói xa gần tiếp nhận ánh sáng êm đềm rồi tắt
hẳn. Còn tác phẩm “Ra đồng” của Trần Đình Thọ với bố cục dàn trải trên
nền son thắm, những lá chuối xanh ngọc, rặng tre óng ả vàng ngọc đung
đưa, cả bụi khoai nước bên bờ ao cảnh vật thật đến nao lòng.
Cảnh quê- Nguyễn Gia Trí
Rồi “Vịnh Hạ Long” của Phạm Văn Đôn cũng nằm trong dòng chảy mơ
màng đó của sơn mài mà vẫn ánh lên nét hiện thực trong trẻo. Tuyền neo
trong vịnh, đồi nói xa xa và hửng đông rực rỡ cảnh biển hiện ra như thực
trên một mầu sắc không thực (mầu đỏ son) diều này còn đúng cả trong nền
trời đỏ thẫm. Trên tranh “Tình quân dân” của Sĩ Ngọc, “Tre và chuối” của
Văn Bình, “Tát nước đồng chiêm” của Trần Văn Cẩn, “Nhà tranh va gốc
mít” của Nguyễn Văn Tỵ, “Con nghé” của Nguyễn Tư Nguyêm, “Gió mùa
Líp: K55A Mỹ thuật
Trường ĐHSP Hà Nội
15
Đỗ Thị Yến Tiểu luận tốt
nghiệp
hạ” của Phạm Hậu…Các tác phẩm của họ là sự tương giao về tâm tư chứ
không hề có sự phô diễn về lí trí. Ta có thể tìm thâý những mảng tường già
nua, nặng trĩu kỉ niệm và những tà áo dịu mềm mong manh cũng được dát
bằng vỏ trứng hay vàng kim trừu tượng.
Gió mùa hạ- Phạm Hậu
ở những đề tài cách mạng tranh sơn mài cũng đủ sưc thể hiện tinh thần
hùng tráng trong cuộc chiến đấu của dân téc ta nh “ Kết nạp đảng” của
Nguyễn Sáng, “Từ trong bóng tối” của Lê Quốc Léc, “Trái tim nòng súng
của” của Huúnh Văn Gấm, “Bác ở Việt Bắc” của Dương Bích Liên…
Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ- Nguyễn Sáng
Líp: K55A Mỹ thuật

hiểu của cá nhân em thông qua những tài liệu sưu tầm được và thông qua
những tác phẩm bất hủ của Nguyễn Gia Trí, người nghệ sĩ tài đức được tôn
vinh là bậc đạo sư của tranh sơn mài - mét chất liệu mà em thích nhẩt tong
quá trình học của mình.
Líp: K55A Mỹ thuật
Trường ĐHSP Hà Nội
18
Đỗ Thị Yến Tiểu luận tốt
nghiệp
CHƯƠNG 2 : NGUYỄN GIA TRÍ BẬC THẦY CỦA TRANH SƠN
MÀI VIỆT NAM
1. Tiểu sử hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí (1908-1993) :
Nguyễn Gia Trí ra đời trong mét làng quê vùng đá ong Bắc Bé (Làng
An Tràng, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông ). Giấy chứng minh nhân dân
của ông ghi ông sinh ngày 6 tháng 10 năm 1912 , nhưng ông Trí cùng mọi
người thân khẳng định ông sinh năm 1908 (kỷ dậu).
Không có tài liệu nói rõ thân thế của ông. Sinh thời ông Trí chỉ kể với
vợ con: Cụ tổ Nguyễn Gia Phóc là người chuyên thêu y phục triểu đình, đến
đời ông thân sinh là Nguyễn Gia Cư vẫ còn làm công vịêc Êy. Chỉ riêng một
việc ba anh em ruột: Anh trai Nguyễn Gia Tường là giáo sư nổi tiếng của
trường Collège Bưởi, em trai Nguyễn Gia Đức học Cao dẳng Mỹ thuật
ngành kiến trúc (và sau này trở thành một kiến trúc sư hàng đầu). bản thân
Nguyễn Gia Trí học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ngành hội hoạ
( theo hoạ sĩ Hoàng Tích Chù
(1)
thì hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí học trường
Collège Bưởi rồi thi ngay vào trường Cao đẳng Mỹ thuật, theo lời của vợ
Nguyễn Gia Trí thì bà có nghe chồng kể lại là đã theo học trường y một thời
gian rồi mới bỏ đi học vẽ ), còng khiến người ta hình dung được môi trường
văn hoá gia đình rất thuận lợi cho một người đi vào con đường nghệ thuật.

cách vẽ khoẻ khoắn, những mảng vỏ trứng, hình cây điển hình được viền
bằng những mảng mầu to rộng, nét chắc khoẻ gợi về sự gần gũi chốn
quê của vùng n«ng th«n

Bắ

c B



Việt Nam.
Líp: K55A Mỹ thuật
Trường ĐHSP Hà Nội
20
Đỗ Thị Yến Tiểu luận tốt
nghiệp
Nguyễn Gia TrÝ còng là một nhà biếm hoạ sắc sảo, bót danh Raitơ
(Right) với những tranh châm biếm chÝnh quyền thực dân Ph¸p và đám
quan lại phong kiến tay sai trên báophong hoá, báo Ng y nayà . ông là nhà đồ
hoạ nổi tiếng với những tranh khắ c g ỗ màu mang đậm màu sắc d©n gian:
• Ai mua rươi ra mua,
• Kẻ khã không lo ba ngày tết
và những minh hoạ sách báo phãng khoáng đầy chất hiện thực.
Họa sĩ Nguyễn Gia TrÝ thường làm tranh không hết hợp đồng, hầu hết
khách đặt tranh là những tỷ phó Nam Phi, Nam Mỹ. Họ đến xin ông vẽ
những tranh khổ lớn và không yêu cầu về hình thức nghệ thuật, tùy ông
muốn. Tranh ông bán đo bằng ca-rê. Ở Việt Nam các họa sĩ trong lịch sử
Hội họa hiện đại cã duy nhất danh họa Nguyễn Gia TrÝ bán tranh tÝnh
bằng ca-rê và luôn phải từ chối đơn đặt hàng của khách.
Họa sĩ lóc sinh thời đã cã nguyện vọng giữ lại ba bức tranh : "để cho thế

lại là một người rất hóm hỉnh. Một người Pháp kể : Khi tiếp khách đến thăm
đến thăm xưởng, ông có kiểu “làm dáng” là tự làm người ta quên mình đI,
nếu có ai đề cập quá thẳng đến tài nghệ của ông ông chỉ nói “Sơn mài đẹp
quá” như thể mình chẳng có vai trò gì trong đó. Hoạ sĩ Hoàng Tích Chù kể
khi báo chí hỏi vì sao đi vào hội hoạ, Nguyễn Gia trí trả lời “ Nghịch mà
vẽ”.
Đời ông hầu như chỉ có một đam mê duy nhất là ở bên những tấm vóc
sơn mài. Nhà văn Kim Lân nhớ hình ảnh hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí ngồi xụp
xuống đất mài tranh trong xưởng vẽ.
Vợ hoạ sĩ cho biết lịch sinh hoạt hằng ngày của ông hầu như là bất di bất
dịch. 5 giê sáng ông dậy và sang xưởng vẽ sắp xếp công việc cho thợ, 7 giê
về ăn sáng rồi lại sang xưởng vẽ đến 11 giê 30 về ăn cơm, không ngủ trưa,
đến 1 giê lại sang xưởng, 6,7 giê tối lại về ăn cơm nghỉ một chút rồi lại sang
xưởng làm việc đến khuya, thường tới 1,2 giê sáng. Sau này ông nói với hoạ
Líp: K55A Mỹ thuật
Trường ĐHSP Hà Nội
22
Đỗ Thị Yến Tiểu luận tốt
nghiệp
sĩ Nguyễn Xuân Việt “sơn mài khác sơn dầu ở công hạnh”, “vẽ sơn mài có
lúc giống như thợ méc, nông dân đI cầy”. Mời Nguyễn Gia Trí đI chơI rất
khó bao giê ông cũng nói “ để tôi trông nhà cho”.
Cũng bởi thế Nguyễn Gia Trí sống giản dị. Tiền ông làm ra không Ýt,
nhưng ngoài việc đầu tư cho sơn mài, hầu như ông không có nhu cầu gì lớn.
Trong xưởng vẽ trước kia ở làng Thịnh Hào, đồ đạc của ông chỉ có một
chiếc giường cá nhân và một ngăn sách. Giới hoạ sĩ lúc đó thường đuà nhau
rằng “ Trí làm ra tiền cho Tứ tiêu”(nhà văn Đoàn Phú Tứ- bạn thân của
ông). Sau năm 1954 thì mọi việc tài chính đều d vợ ông quán xuyến, ông chỉ
chuyên tâm vẽ. Căn nhà của ông ở đường Ngô Đình KhôI (nay là Nguyễn
Văn Trỗi) chia làm hai một bên để ở một bên là xưởng. Nhà cũng như

Nghệ sĩ dùng quy luật nhỏ của mình để mò mẫm tìm ra quy luật lớn.
Với chất liệu sơn mài hay chất liệu khác cũng vậy, không được bắt nó
phảI theo mình. Mà phải tôn trọng chất liệu. Hiểu nó va nươngt heo nó mà
điều khiển.
Trên một tấm vóc, một tấm toan, hay là một tờ giấy nghệ sĩ được tự do
tuyệt đối. Không có quy tắc luật lệ nào cả. Mất tự do vì nghệ sĩ tự trãi mình
bằng những thành kiến quy tắc nào đấy.
Hội hoạ là nghệ thuật tạo hình. Cái gốc của nó là tạo hình. Hình rất đa
dạng, một chấm cũng là hình. Một nét, một phẩy cũng là hình. Mầu sắc và
hình không nhất thiết phải gắn với nhau.
Chữ Hán là một dạng tranh trừu tượng. Từ cái nhìn gần với thực tế nó
được tinh giản thành những tín hiệu .
Tôi đã đọ bản dịc thơ Tô Đông Pha, đại ý không muốn vẽ cỏ cây, hoa lá
hoặc người vì những cái cụ thể như thế trãi buộc cảm xúc của ông. Nhưng
tìm bản chữ Hán để đọc thì không thấy.
01/08/1980
Líp: K55A Mỹ thuật
Trường ĐHSP Hà Nội
24
Đỗ Thị Yến Tiểu luận tốt
nghiệp
Vì tôI làm việc bị lầm lỗi nhiều nên mới tiến bộ. Còn vẽ khéo quá thì
chậm phát triển. Hội hoạ hần với tôn giáo vì nó xuất phát từ tâm người ta.
Nó không phải làm bằng óc hay bằng tay.
19/11/1980
Làm nghệ thuật điều chính yếu nhất là thành thật. Cái hại nhất là giả với
chính mình. Phải làm việc nghiêm túc, có khi khắc nghiệt với chính mình.
Làm hằng trăm cái hang để lấy nửa cái được hoặc một cái được. Người nghệ
sĩ không bao giê thoả mãn với chính mình.
Chất liệu chiếm một nửa người nghệ sĩ. Phải yêu chất liệu, yêu như vợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status