SKKN Một số biện pháp huy động học sinh ra lớp và duy trì sĩ số để đảm bảo chuyên cần - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP HUY ĐỘNG HỌC SINH RA LỚP VÀ DUY
TRÌ SĨ SỐ ĐỂ ĐẢM BẢO CHUYÊN CẦN"
1
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục ở miền núi hải đảo, vùng sâu, vùng xa gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là việc
duy trì sĩ số. Muốn công tác giáo dục đạt hiệu quả thì trước hết phải chú ý đến việc huy
động học sinh ra lớp và duy trì sĩ số để đảm bảo tỷ lệ chuyên cần của học sinh vì học sinh
có ra lớp đều thì việc tiếp thu bài mới tốt, mới hệ thống được kiến thức liền mạch. Vì vậy
đây là vấn đề được đặt lên hàng đầu ở các trường miền núi hải đảo, vùng sâu, vùng xa
vùng cao, vùng có điều kiện phát triển kinh tế khó khăn…
Do vậy, thực hiện cuộc vận động toàn dân đưa trẻ em đến trường và duy trì sĩ số học sinh
của nhà trường là công việc hết sức quan trọng trong công tác “ Nâng cao chất lượng
giáo dục” trong giai đoạn hiện nay.
Biện pháp huy động học sinh ra lớp là vấn đề vốn mang tính thời sự ở nhiều nơi. Tuy
nhiên hầu như chưa có những tài liệu đề cập riêng biệt về vấn đề này. Trái lại ở mỗi vùng
miền có những đặc điểm, đặc thù khác nhau; đòi hỏi phải có những biện pháp khác nhau
phù hợp với điều kiện ở từng địa phương.
Trong những năm qua, Trường Tiểu học Ba Cụm Nam đã nỗ lực thực hiện công tác
huy động học sinh ra học các lớp chính quy cũng như các lớp phổ cập, đồng thời áp dụng
nhiều biện pháp để duy trì sĩ số học sinh. Với mục tiêu sẽ xây dựng trường tiểu học Ba
Cụm Nam đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi năm 2013 và trường đạt
chuẩn Quốc gia giai đoạn 2015-2020.
Tuy nhiên, Ba Cụm Nam là một xã vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn, trình độ
dân trí thấp. Các điều kiện để phát triển giáo dục còn thấp kém và lạc hậu. Số học sinh
hay nghỉ học có nguy cơ bỏ học vẫn còn cao. Vậy nên việc nghiên cứu các biện pháp huy
động học sinh ra lớp và duy trì sĩ số để đảm bảo chuyên cần là một yêu cầu cấp bách.
Nhằm góp thêm ý kiến về vấn đề này, tôi mạnh dạn trình bày sáng kiến kinh
nghiệm: “Một số biện pháp huy động học sinh ra lớp và duy trì sĩ số để đảm bảo
chuyên cần” mà trong bốn năm học vừa qua tôi đã thực hiện tại trường tiểu học Ba Cụm

huy động học sinh ra lớp và duy trì sĩ số để đảm bảo chuyên cần của nhà trường để đem
lại hiệu quả giáo dục cao hơn.
III. HIỆN TRẠNG:
Trường tiểu học Ba Cụm Nam đóng trên địa bàn xã Ba Cụm Nam – Khánh Sơn. Trước
năm 1992 là một điểm trường thuộc trường cấp 1+2 Ba Cụm. Năm 1992 Trường Tiểu
học Ba Cụm Nam được thành lập. Điểm chính của trường nằm ở thôn Ka Tơ. Những năm
đầu thành lập trường chỉ có 5 lớp học, cơ sở hạ tầng thấp kém, thiếu thốn. Lực lượng giáo
viên chủ yếu là người sở tại (Người dân tộc Raclay). Năm 2001 theo quy hoạch phát triển
của địa phương trường chuyển về thôn Suối Me và được xây dựng lại với 10 phòng học
cấp 4, 01 phòng làm việc cho Ban giám hiệu. Nhìn chung cơ sở hạ tầng còn thấp kém,
trang thiết bị thiếu thốn cũ kỹ lạc hậu. Từ năm học 2003 – 2004 đội ngũ cán bộ giáo viên
của nhà trường được tăng cường và thay đổi nhiều. Tính đến năm học 2011 – 2012 có 12
3
giáo viên trẻ người kinh ở địa phương khác đạt trình độ cao đẳng sư phạm đào tạo hệ
chính quy về trường.
Là một trường đóng trên địa bàn là một xã vùng sâu vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế
đặc biệt khó khăn. Dân số của xã có trên 95% là người dân tộc thiểu số nên phần lớn học
sinh của trường là con em người dân tộc thiểu số. Điều kiện sản xuất canh tác của bà con
nhân dân phụ thuộc hoàn toàn vào nương rẫy, quanh năm thiếu ăn. Trình độ dân trí thấp.
Cha mẹ ít quan tâm đến việc học tập của con em mình, có nhiều em phải phụ giúp cha mẹ
việc nương rẫy, việc nhà. Vì thế nhà trường rất khó khăn trong công tác vận động học
sinh ra lớp và duy trì sĩ số để đảm bảo chuyên cần. Những năm học trước đây học sinh bỏ
học, học sinh hay nghỉ học chiếm tỷ lệ cao, cụ thể:
Stt Năm
học
Số HS
đầu
năm
Số HS
cuối

học sinh, chưa làm tốt công tác chủ nhiệm lớp. Một số giáo viên chưa gần gũi, giúp đỡ
học sinh thậm chí còn có thái độ thiếu thiện cảm với học sinh làm cho nhiều em có mặc
cảm, chán học.
7. Trong giảng dạy, một số giáo viên còn quá khắt khe với học sinh, giảng dạy theo lối
mòn, khó hiểu, hay gắt gỏng làm cho học sinh cảm thấy khó khăn trong học tập sinh ra
nản mà bỏ học.
V. GIẢI PHÁP:
Tìm hiểu được nguyên nhân tôi đề ra những nhóm biện pháp thực hiện như sau:
5.1. Thành lập Ban vận động học sinh ra lớp:
Đầu năm học nhà trường ra quyết định thành lập Ban vận động học sinh ra lớp. Hiệu
trưởng vừa là Trưởng ban chỉ đạo, vừa là người trực tiếp thực hiện ở tuyến cơ sở. Do đó
Hiệu trưởng có vai trò hết sức quan trọng, phải ý thức đầy đủ ý nghĩa của vấn đề huy
động học sinh ra lớp và duy trì sĩ số để đảm bảo chuyên cần là hai công việc phải tiến
hành song song có quan hệ nhân quả. Muốn làm được công tác này hiệu trưởng phải tập
trung vào các khâu sau:
Đẩy mạnh hiệu quả công tác quản lý chỉ đạo, tăng cường ý thức trách nhiệm của đội ngũ
cán bộ, giáo viên và nhân viên trong công tác vận động học sinh ra lớp. Ban giám hiệu
nhà trường, các thầy cô giáo và các tổ chức đoàn thể xác định việc huy động học sinh ra
lớp và đảm bảo sĩ số học sinh là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là công việc thường
xuyên, nó vừa ảnh hưởng trực tiếp và toàn diện đến các hoạt động của nhà trường, nó vừa
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giáo dục. Từ đó nhà trường đã đưa ra các biện pháp
quyết liệt, thiết thực, huy động toàn trường tích cực tham gia, cụ thể:
+ Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức cho cán bộ giáo viên,
xây dựng tập thể đoàn kết, tâm quyết với nghề nghiệp, thương yêu tôn trọng học sinh, đối
xử công bằng với học sinh để tránh đi những mặc cảm ngăn cách giữa thầy với trò; xây
dựng mối quan hệ thân thiện tốt đẹp tình thầy - trò. Bản thân thầy, cô giáo phải luôn luôn
tự rèn luyện để hoàn thiện mình; phải luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.
+ Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các cuộc vận động: Cuộc vận động “Hai không với 4
nội dung” ; “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; “Xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực”; “Mỗi thầy, cô giáo là tấm gương sáng về đạo đức tự

viên các em ngay từ đầu năm học mới. Mặt khác học sinh tới lớp giáo viên không để học
sinh ngồi chơi trong giờ học vì thiếu đồ dùng học tập như bút, bảng con, vở.v.v. Để khắc
phục tình trạng này nhà trường luôn dự trữ một số lượng nhất định các đồ dùng bảng con,
bút, vở.v.v. trong phòng thiết bị và giao cho giáo viên thiết bị quản lý để khi giáo viên
nào có học sinh lớp mình thiếu đồ dùng gì thì liên hệ với giáo viên thiết bị để được hỗ
trợ. Nguồn kinh phí này nhà trường lấy từ nguồn xã hội hóa giáo dục của các đơn vị tài
trợ.
5.2. Làm tốt công tác tham mưu, phối hợp:
6
Tham mưu, phối hợp là một công tác quan trọng trong hoạt động quản lí trường học.
Trong những năm học vừa qua nhà trường đã tham mưu kịp thời cho UBND xã về kế
hoạch phát triển giáo dục hàng năm và từng giai đoạn. Đây là một nhiệm vụ góp phần
đắc lực cho việc phát triển bền vững cả về số lượng và chất lượng, không chỉ nhằm phối
hợp huy động học sinh ra lớp mà quan trọng hơn là phải phối hợp để đảm bảo thực hiện
thắng lợi công tác phổ cập giáo dục và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn xã.
+ Hàng tháng báo cáo đầy đủ, kịp thời tình hình học sinh ra lớp của nhà trường để lãnh
đạo địa phương ó trách nhiệm quán triệt, triển khai cho cán bộ thôn, bản, các đoàn thể để
họ thấy rõ ý nghĩa, tác dụng, mục tiêu, yêu cầu của việc thực hiện cuộc vận động học sinh
đến trường và duy trì sĩ số học sinh là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Coi đây là công
việc chung, không chỉ là công việc của nhà trường mà còn là công việc của các lực lượng
địa phương; là trách nhiệm của chính quyền địa phương.
+ Ban giám hiệu nhà trường phối hợp chặt chẽ với các trưởng thôn để tham dự các cuộc
họp, các buổi triển khai các chương trình phát triển kinh tế-xã hội ở từng thôn để trực tiếp
báo cáo tình hình hoạt động của nhà trường; tình hình học tập ở trường, ở nhà của học
sinh; tình hình học sinh ra lớp.v.v, qua đây tuyên truyền và vận động bà con nhân dân
quan tâm đúng mực đến việc học của con em cũng như động viên con em đến trường.
Tham mưu, phối hợp tốt là một giải pháp quan trọng góp phần đảm bảo các điều kiện
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phổ cập của địa phương.
5.3. Tổ chức tốt các buổi họp phụ huynh:
Trong bốn năm học gần đây nhà trường đã tổ chức tốt các buổi họp phụ huynh học sinh

Ghi chú
01 2008-
2009
161 HS 159 HS 2HS
=1,24%
13
HS=16,1%
02 2009-
2010
149 HS 149 HS 0 HS=0% 4 HS=2,68%
03 2010-
2011
160 HS 158 HS 0 HS= 0% 4 HS=2,5% 01 HS
chuyển
trường
01 HS chết
đuối
04 2011-
2012
156 HS 155HS 1
HS=0,64%
3 HS =1,9% 01 HS lớp
1 theo cha
mẹ lên
nương rẫy
Như vậy tỷ lệ duy trì sĩ số học sinh của nhà trường trong ba năm học gần đây đạt từ 97%,
trở lên, tỷ lệ bỏ học sinh bỏ học luôn dưới 1%. Khi đã huy động được học sinh ra lớp và
đảm bảo chuyên cần thì đây là một điều kiện tốt nhất để nhà trường nâng cao chất lượng
giáo dục trong những năm gần đây, cụ thể:
* Xếp loại học lực cuối năm

49 HS
=32,9%
64 HS
=42,9%
26 HS
=17,5%
04 2010-
2011
11HS
=6,96%
55 HS
=34,81%
82 HS
=51,9%
10 HS
=6,33%
* Xếp loại hạnh kiểm cuối năm
Stt Năm học Tổng số
HS
Hạnh kiểm
Ghi chú
THĐĐ THCĐĐ
01 2007-2008 163 HS 158
HS=96,9%
5 HS =3,1%
02 2008-2009 159 HS 155HS
=97,5%
4HS =2,5 %
03 2009-2010 149 HS 149 HS
=100%

bảo chuyên cần. Đây là một điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng một cách bền
vững.
7.2. Những bài học kinh nghiệm:
1. Huy động học sinh ra lớp là hoạt động mang tính xã hội hóa rõ rệt, do đó phải có sự
chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt, sự phối hợp hài hòa giữa các cấp, các ngành, mà chủ
động là Hiệu trưởng trường học. Trong mỗi thời điểm, mỗi điều kiện, mỗi hoàn cảnh
khác nhau nhà trường phải luôn kiên định, chủ động và sáng tạo trong công tác vận động
học sinh ra lớp kết hợp với các biện pháp duy trì sĩ số để đảm bảo chuyên cần. Hai mặt
công tác trên phải luôn gắn bó và được tiến hành đồng thời. Có thế mới đủ điều kiện để
đảm bảo nâng cao chất lượng ở mỗi trường học.
2. Muốn khắc phục tình trạng học sinh bỏ học phải theo dõi và nắm vững sĩ số học sinh
hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng đồng thời có biện pháp hữu hiệu để khắc phục, phòng
ngừa. Phải tìm hiểu nguyên nhân đối tượng bỏ học, học sinh hay nghỉ học, tìm biện pháp
khắc phục nguyên nhân đó. Xử lý từng trường hợp cụ thể, không hò hét chung chung.
3. Giáo viên phải có tình yêu thương và tận tình giúp đỡ các em. Luôn phải kiên trì, tận
tâm tận lực và phải tâm niệm rằng: “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Một điều quan trọng
nhất là sự nhiệt tình giảng dạy của các thầy cô giáo. Những bài giảng của thầy cô cần
phải tạo cho các en tâm lí muốn học và thích đến lớp hơn. Các thầy cô giáo không những
chỉ dạy kiến thức mà còn phải dỗ học sinh học bài . Vì vậy với giáo viên không chỉ cần
10
có chuyên môn tốt mà còn phải rất kiên trì, hiểu tâm lí học sinh và tận tụy với nghề. Nếu
yêu cầu ở các em quá cao hay phương pháp không phù hợp có thể khiến các em có tâm lí
“sợ học” bởi vậy bài giảng phải luôn vừa sức với học sinh nhưng kiến thức vẫn đủ và
sinh động, lí thú, từ đó học sinh mới đi học đều.
4. Khi tổ chức đi vận động học sinh ra lớp phải đi tập thể có đông đủ ban giám hiệu, các
thầy cô giáo, các nhân viên đến gặp trực tiếp cha mẹ học sinh như một chiến dịch đi vận
động học sinh ra lớp. Tổ chức đi như vậy vừa tạo ra không khí, động lực cho tất cả cán bộ
giáo viên, nhân viên khi đi vận động học sinh, vừa làm cho cha mẹ, học sinh thấy sự quan
tâm đến việc học của học sinh không chỉ có thầy cô chủ nhiệm mà tất cả cán bộ giáo
viên, nhân viên trong nhà trường cũng đều quan tâm. Bên canh đó cần phải phát huy hết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status