Một số biện pháp hướng dẫn học sinh nhận biết và cảm thụ biện pháp so sánh tu từ qua các bài văn, bài thơ trong sách tiếng việt lớp 3 - Pdf 31

LỜI CẢM ƠN!
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự tìm tòi, nghiên cứu của bản
thân, còn có sự hướng dẫn rất nhiệt tình của thầy giáo Lê Bá Miên. Tôi xin
gửi lời cám ơn chân thành đến thầy giáo cùng các em học sinh lớp 3A –
trường Tiểu học Cổ Loa – Đông Anh – Hà Nội.
Đề tài của tôi không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự
đóng góp của bạn đọc và thầy cô!

Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2012
Sinh viên

Phạm Thị Hương

1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan sự hướng dẫn của thầy giáo Lê Bá Miên, khóa luận
được hoàn thành không trùng với bất kì công trình khoa học nào khác.
Trong khi thực hiện khóa luận, tác giả đã sử dụng và tham khảo các
thành tựu của các nhà khoa học với lòng biết ơn trân trọng.
Hà Nội, tháng 4 năm 2012
Sinh viên
Phạm Thị Hương

2


MỤC LỤC
Trang


câu hỏi gợi ý. ....................................................................................... 19
2.3. Giúp học sinh cảm thụ được cái hay, cái đẹp của hình ảnh so sánh thông
qua phương pháp thảo luận nhóm, dùng câu hỏi gợi ý. ........................ 20
2.4. Giúp học sinh phát triển nhận thức, liên tưởng, vận dụng thực hành, tạo
lập câu có hình ảnh so sánh. ................................................................. 22
2.4.1. Điền từ ngữ còn thiếu để hoàn thành các câu văn, câu thơ, câu tục ngữ.
..................................................................................................................... 22
2.4.2. Nối 2 vế cho trước để hoàn thành các câu văn, câu thơ. ...................... 24
2.4.3. Thực hành viết câu văn có hình ảnh so sánh ...................................... 24
2.5. Phương pháp trò chơi học tập vào phần củng cố của tiết học ................ 26
2.5.1. Trò chơi “thử tài so sánh” .................................................................. 26
2.5.2. Những sai sót của học sinh và cách tổ chức cho học sinh thực hành
một27 số dạng bài tập về so sánh .......................................................... 28
KẾT LUẬN ................................................................................................ 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 36

4


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nằm trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học, phân môn Luyện từ và câu ở
lớp 3 gồm có hai phần chính :
Một là ôn lại những kiến thức đã học ở lớp 2 :
- Về từ loại (từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, từ chỉ đặc điểm),.
- Về các kiểu câu (Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào?)
- Về các thành phần trong câu (trả lời các câu hỏi “Ai”, “là gì?”, Làm
gì? Thế nào? Bao giờ? Bằng gì? Như thế nào? Để làm gì?).
Hai là trang bị những kiến thức đầu tiên về các biện pháp tu từ so sánh
và nhân hóa.

ngữ con người. Cách đây 2.500 năm, Aistote (384-322 TCN) trong cuốn “Tu
từ học” nổi tiếng đã đề cập đến nó. Hesgel (1770-1831), triết gia vĩ đại người
Đức, trong cuốn “Mỹ học” cũng đã bàn về so sánh. Cho đến nay, trong phong
cách hiện đại, gần như mọi nhiệm vụ miêu tả và phân loại phép so sánh đã kết
thúc. Tuy vậy, vẫn còn có những điều lí thú đáng nói về phép so sánh từ
những phương diện khác.
Chúng tôi quyết định đi vào nghiên cứu về phép so sánh tu từ trong một
phạm vi nhỏ hơn đó là: “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh nhận biết và
cảm thụ biện pháp so sánh tu từ qua các bài văn, bài thơ trong sách Tiếng
Việt lớp 3”.
3. Mục đích nghiên cứu
- Đưa ra các biện pháp giúp học sinh lớp 3 nhận biết và cảm thụ được
biện pháp so sánh tu từ thông qua các bài văn bài thơ trong sách Tiếng Việt
lớp 3.

6


- Bồi dươngc lòng yêu thích môn Tiếng Việt, hình thành thói quen giữ
gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng :
+ Biện pháp so sánh tu từ ở lớp 3.
- Phạm vi nghiên cứu :
+ Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên, các tài liệu tham khảo,
vốn thực tế.
+ Điều tra khảo sát học sinh.
+ Lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu và tìm hiểu sách Tiếng Việt lớp 3 nói chung và dạy bài về

với biện pháp tu từ so sánh. Sau khi học xong phần này, học sinh cần :
- Bước đầu có biểu tượng về so sánh. Biết được hai kiểu so sánh là so
sánh ngang bằng và so sánh hơn kém. Trong mỗi kiểu so sánh lại được chia
thành các tiều loại sau :
1. So sánh sự vật - sự vật
2. So sánh sự vật - con người
3. So sánh âm thanh - âm thanh
4. So sánh hoạt động - hoạt động

8


- Nhận diện, tìm được những sự vật so sánh, những hình ảnh so sánh,
các vế so sánh, các từ so sánh, các đặc điểm so sánh…
- Nhận biết được tác dụng của so sánh.
- Biết vận dụng so sánh vào hoàn thành câu, đặt câu có hình ảnh so
sánh, bước đầu biết vận dụng so sánh vào viết đoạn văn.
1.1.3. Nội dung chương trình.
Đặc điểm về nội dung, cấu trúc phân môn Luyện từ và Câu lớp 3
Tuần

Lượng bài tập

Tên bài

về so sánh

1

Ôn về từ chỉ sự vật. So sánh


14

Ôn về từ chỉ đặc điểm. Ôn tập câu “Ai thế nào?”

1/3 bài tập

15

Mở rộng vốn từ: Các dân tộc. Luyện đặt câu có hình

1/2 bài tập

bài tập

ảnh so sánh.
18

Ôn tập cuối học kỳ I (tiết 2)

1/3 bài tập

Như vậy, lượng bài tập về so sánh chỉ chiếm khoảng một nửa thời
lượng của tiết học.
1.2. Cơ sở thực tiễn.
1.2.1. Thuận lợi
- Học sinh trong lớp chăm chỉ, các em có năng khiếu và yêu thích môn
Luyện từ và Câu lớp 3, tìm tòi, sáng tạo.
- Cơ sở vật chất đầy đủ.



10


CHƯƠNG 2: HƯỚNG DẪN HỌC SINH NHẬN BIẾT VÀ CẢM THỤ
BIỆN PHÁP SO SÁNH TU TỪ QUA CÁC BÀI THƠ, BÀI VĂN
TRONG SÁCH TIẾNG VIỆT LỚP 3

2.1. Giúp học sinh nhận biết được cấu trúc của phép so sánh với phương
pháp dùng câu hỏi gợi ý và giảng giải.
So sánh là mảng kiến thức khó đối với cả giáo viên và học sinh. Tự trau
dồi kiến thức và chuẩn bị chu đáo cho việc dạy các bài về so sánh là việc làm
rất quan trọng.
Để chuẩn bị tốt cho việc lên lớp dạy các bài về so sánh, giáo viên cần
có biểu tượng về so sánh, cần hiểu so sánh là gì? “So sánh” chính là biện pháp
tu từ trong đó người ta đối chiếu hai hay nhiều sự vật khác nhau nhưng giống
nhau ở một đặc điểm nào đó để hiểu rõ hơn về đối tượng được nói tới. Nhận
thức được rõ về biểu tượng so sánh, giáo viên mới có thể tìm hiểu những yếu
tố của so sánh, những kiến thức cơ bản liên quan đến so sánh. Giáo viên cần
nắm được cấu trúc cơ bản của so sánh. Cấu trúc cơ bản đầy đủ của so sánh
được thể hiện như sau:
Mặt

tươi

như

A

hoa

tượng thính giác phối hợp với ấn tượng thị giác các em dễ nhận ra hiện tượng
so sánh ẩn chứa trong các câu thơ, câu văn. Sau bước nhận biết sơ bộ đó, giáo
viên hướng dẫn học sinh đi vào phân tích từng trường hợp, tìm các sự vật
được so sánh theo yêu cầu của bài tập.
Với kiểu bài này, giáo viên tiến hành các bước sau:
- Bước 1: Yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: “Thế nào là từ chỉ sự vật?
(Nếu học sinh lúng túng chưa biết tìm từ chỉ sự vật).
- Bước 2: Yêu cầu học sinh gạch dưới các từ ngữ chỉ sự vật trong câu
văn, câu thơ.

12


- Bước 3: Yêu cầu học sinh tìm những sự vật có điểm giống nhau. Đó
chính là các sự vật được so sánh với nhau. Tìm từ so sánh.
- Bước 4: Giáo viên chốt lại bài tập trên thuộc kiểu so sánh nào.
- Bước 5: Giáo viên đưa ra mẹo tìm những sự vật được so sánh với
nhau trong các câu thơ, câu văn.
VD: Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ, câu
văn dưới đây:
“Hai bàn tay em
Như hoa đầu cành”
(Tiếng Việt 3, tập 1 trang 8)
Đây là bài tập đầu tiên học sinh được làm để làm quen với biện pháp so
sánh. Dựa vào các bước trên, học sinh trả lời câu hỏi: Thế nào là từ chỉ sự
vật? (là những từ chỉ con người, con vật, đồ vật, cây cối…). Các em gạch
dưới các từ ngữ chỉ sự vật trong câu thơ:
Hai bàn tay em
Như hoa đầu cành.
Từ đó các em tìm được những sự vật được so sánh với nhau trong câu

“Cây pơ – mu đầu dốc
Im như người lính canh
Ngựa tuần tra biên giới
Dừng đỉnh đèo hí vang.
(Tiếng Việt 3, tập 1 trang 58)
Dựa vào hai bước trên, học sinh xác định được câu có sử dụng so sánh
là :
“Cây pơ – mu đầu dốc
Im như người lính canh”

14


Các sự vật được so sánh với nhau trong câu là: “cây pơ-mu”, “ người
lính canh”; hình ảnh so sánh là “người lính canh”.
Với cách làm như trên, học sinh không còn khó khăn để tìm hình ảnh
so sánh trong câu văn, câu thơ. Qua đó, học sinh hiểu hình ảnh so sánh luôn là
những hình ảnh gần gũi, nó được dùng để miêu tả những sự vật xa lạ, người
đọc chưa biết đến hoặc biết đến vẫn chưa rõ ràng, làm cho sự vật được so
sánh trở nên gần gũi hơn, sinh động hơn, đẹp hơn.
VD: Tìm các hình ảnh so sánh trong những câu thơ dưới đây:
a) Trẻ em như búp trên cành.
Biết ăn biết ngủ học hành là ngoan.
b) Ngôi nhà như trẻ nhỏ
Lớn lên với trời xanh.
c) Bà như quả ngọt chìn rồi.
Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng.
(Tiếng Việt 3, tập 1, trang 58)
2.1.3. Giúp học sinh nhận diện được các từ biểu thị quan hệ so sánh
Trong câu, từ biểu thị quan hệ so sánh thường đứng giữa các vế so

Cà Mau mũi đất mỡ màng phù sa
Trường Sơn: Chí lớn ông cha
Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào.
(Luyện tập cảm thụ văn học ở Tiểu học, trang 27)
Từ so sánh được thay bằng dấu hai chấm.
Song giáo viên cũng giúp học sinh phân biệt cũng có những trường hợp
dấu gạch ngang hay dấu hai chấm nhưng lại không phải là câu có sử dụng
biện pháp tu từ so sánh.
Dấu gạch ngang trong câu văn dùng để ngăn cách hai bộ phận của câu.
Bộ phận câu đứng sau dấu gạch ngang có tác dụng giải thích cho bộ phận câu
đứng trước đó. Kiến thức này chúng ta sẽ được biết rõ hơn khi lên lớp 4.

16


VD: Thuyền chúng tôi đang xuôi dòng Bến Hải - con sông in đậm dấu
ấn lịch sử một thời chống Mĩ cứu nước.
(Theo Thụy Chương)
Bộ phận câu “con sông in đậm dấu ấn lịch sử một thời chống Mĩ cứu
nước”, nó nói rõ cho người đọc biết hơn về lịch sử của con sông Bến Hải.
Dấu hai chấm trong câu còn để liệt kê cho các thành phần cùng loại
trong câu.
VD: Học sinh trường em đã làm được nhiều việc tốt để hưởng ứng tuần
lễ vì môi trường: làm vệ sinh ở trường lớp, trồng cây ở vườn trường, diệt bọ
gậy ở bể nước chung.
Dấu hai chấm trong câu trên để liệt kê cho các thành phần cùng loại
trong câu đó là những việc học sinh đã làm để hưởng ứng tuần lễ vì môi
trường.
Dấu hai chấm để mở đầu cho một câu nói:
VD: Cô-rét-ti cười, đáp: “Mình không cố ý đâu”.

a) Tiếng suối trong như tiếng hát xa.
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
b) Rồi đến chị rất thương
Rồi đến em rất thảo
Ông hiền như hạt gạo
Ông hiền như suối trong.
c) Cam xã Đoài mọng nước
Giọt vàng như mật ong
- Hoàn thành được yêu cầu của bài tập vào bảng sau:
Cặp sự vật
a) Tiếng suối – tiếng hát xa

Điểm giống nhau
- Đều rất trong trẻo, ngân nga, không bị
pha lẫn các âm thanh khác.

18


- Đều hiền, mộc mạc, giải dị (chỉ tính

b) Ông – hạt gạo.

tình).

c) Giọt nước cam – giọt mật ong

- Đều vàng óng (chỉ màu sắc).

Sau khi giúp học sinh hoàn thành các bài tập như trên. Giáo viên khắc

Mùa thu của em
Lá vàng hoa cúc
Như nghìn con mắt
Mở nhìn trời êm.
(Luyện tập cảm thụ văn học ở Tiểu học, trang 25).
- Giáo viên có thể đưa ra câu hỏi gợi ý.
+ “Hoa cúc” được so sánh với gì? (“Hoa cúc” được so sánh với “nghìn
con mắt”).
+ Hình ảnh hàng “nghìn con mắt” mở nhìn bầu trời êm ả góp phần diễn
tả được điều gì? (diễn tả được vẻ đẹp tươi sáng, dịu dàng của hoa cúc; gợi
cảm xúc yêu mến mùa thu).
2.3. Giúp học sinh cảm thụ được cái hay, cái đẹp của hình ảnh so sánh
thông qua phương pháp thảo luận nhóm, dùng câu hỏi gợi ý.
Cảm nhận cái hay, cái đẹp của hình ảnh so sánh là bài tập khó với học
sinh. Giáo viên có thể yêu cầu thảo luận nhóm (nhóm đôi, nhóm ba …) cùng
nhau trao đổi, tìm ra tác dụng của so sánh trong câu.
VD: Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:
Đã có ai lắng nghe
Tiếng mưa trong rừng cọ
Như tiếng thác dội về
Như ào ào trận gió.
a) Tiếng mưa trong rừng cọ được so sánh với những âm thanh nào?

20


b) Qua sự so sánh trên, em hình dung tiếng mưa trong rừng cọ ra sao?
(Tiếng Việt 3, tập 1, trang 79)
Sau khi học sinh trả lời được câu hỏi a). Giáo viên yêu cầu học sinh
thảo luận theo nhóm đôi để tìm đáp án của câu b). Qua trao đổi, thảo luận, học

ngữ…
Với các bài tập cho các đáp án gợi ý, giáo viên hướng dẫn học sinh dựa
vào các đáp án cho sẵn đó, dựa vào các từ ngữ cho trước, dùng phương pháp
thử chọn để hoàn thành bài.
VD: Điền từ so sánh ở trong ngoặc vào từng chỗ trống trong mỗi câu
sau cho phù hợp:
a) Đêm ấy, trời tối …… mực.
b) Trăm cô gái ………. tiên sa.
c) Mắt của trời đêm ……….. các vì sao.
(là, tựa, như)
(Luyện từ và Câu 3, trang 13)
Học sinh dùng phương pháp thử chọn. Ví dụ: Đêm ấy, trời tối “là” mực
(không có nghĩa) / Đêm ấy, trời tối “tựa” mực (không hợp lý). Đêm ấy, trời
tối “như” mực (hợp lý). Từ phương pháp thử chọn đó học sinh điền đúng theo
đáp án của bài:
a. như

b. tựa

c. là

Vậy với bài tập không cho các đáp án cho sẵn, giáo viên hướng dẫn học
sinh dựa vào yêu cầu của bài, cần liên tưởng trong thực tế những sự vật, âm
thanh, đặc điểm hay hoạt động gần giống với sự vật, âm thanh, đặc điểm hay
hoạt động cho trước. Dựa vào đó, ta có thể lựa chọn để điền vào chỗ trống từ
ngữ thích hợp vào chỗ trống. Nếu học sinh lúng túng, giáo viên có thể đưa ra
những câu hỏi gợi ý giúp các em làm bài.
VD: Tìm từ ngữ chỉ âm thanh thích hợp để điền vào chỗ trống ở mỗi
dòng sau:



23


Giáo viên cần nhắc nhở học sinh cần phải biết quan sát thực tế, quan sát
bằng nhiều giác quan: mắt nhìn, mũi ngửi, tai nghe… Đây là việc làm rất
quan trọng và phải thường xuyên, nó giúp chúng ta có vốn thực tế để có được
sự liên tưởng phong phú, giúp chúng ta làm tốt các bài tập điền bộ phận
khuyết của câu vào chỗ trống. Từ đó các em có thể viết những câu văn có sử
dụng biện pháp tu tù so sánh hay và đúng. Đây là tiền đề giúp chúng ta viết
được đoạn văn, bài văn miêu tả, kể chuyện hay.
2.4.2. Nối bai vế câu cho trước để hoàn thành các câu văn, câu thơ.
Ngoài dạng bài “Điền từ ngữ còn thiếu để hoàn thành các câu văn, câu
thơ, câu tục ngữ …, giáo viên cho các em làm thêm bài tập “Nối hai vế câu
cho trước để hoàn thành các câu văn, câu thơ”.
Để giúp học sinh làm tốt bài tập dạng này, giáo viên hướng dẫn học sinh
dựa vào ý nghĩa của các vế câu cho trước để nối tạo thành câu cho phù hợp.
VD: Nối 2 vế câu để tạo câu có hình ảnh so sánh thích hợp.
Vế A

Vế B

1. Mặt trời

a. là ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời con.

2. Tình thương yêu

b. như nụ cười rạng rỡ.


Học sinh quan sát tranh và đặt câu. Với những học sinh yếu, giáo viên
có thể gợi ý bằng những câu hỏi sau:
- Con thấy ngọn đèn điện như thế nào? (rất sáng).
- Ngọn đèn điện và trăng sao có gì giống nhau? (đều sáng lấp lánh).
Ngoài ra, để giúp học sinh vận dụng tốt so sánh khi viết văn, giáo viên
cho học sinh làm thêm bài tập viết câu văn có hình ảnh so sánh theo chủ đề
như: tả cảnh mùa hè, tả cảnh vật nông thôn, tả cảnh vật đô thị … Giáo viên
hướng dẫn học sinh quan sát, suy nghĩ, liên tưởng để tìm ra sự vật, hoạt động
có nét tương đồng, tạo ra câu văn so sánh. Giáo viên cũng có thể dùng từ chỉ
sự vật cho trước hoặc dùng câu hỏi gợi mở để giúp học sinh làm bài.
VD: Viết câu văn có hình ảnh so sánh tả cảnh mùa hè.
Giáo viên cho từ gợi ý: mặt trời, hoa phượng, tiếng ve để học sinh lựa
chọn sự vật miêu tả. Sau đó, nếu học sinh vẫn còn “bí”, giáo viên đưa ra câu
hỏi
Nếu học sinh chọn “tiếng ve” để miêu tả:
- Con thấy tiếng ve thế nào? (rộn ràng, ồn ào, sôi động, vui vẻ …)

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status