luận văn thạc sĩ đại học sư phạm Năng lực kĩ thuật và biện pháp nâng cao năng lực kĩ thuật cho học sinh trong dạy học môn Công nghệ 11 - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do nghiên cứu đề tài:
Bước sang thế kỉ XXI, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật
và công nghệ lượng tri thức khoa học tăng lên theo cấp số nhân, khoảng cách
giữa phát minh lí thuyết và ứng dụng chúng trong thực tế ngày càng rút ngắn
lại. Sự phát triển đó đã ảnh hưởng lên tất cả các mặt văn hoá- kinh tế- chính trị
trong đó có giáo dục. Giáo dục đóng một vai trò lớn trong việc phát huy tiềm
năng trí tuệ, năng lực sáng tạo của con người Việt Nam, là động lực quan
trọng để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đưa nước ta tiến
lên nhanh, vững vàng hội nhập kinh tế quốc tế và sánh vai cùng các cường
quốc trên thế giới.
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, nhu cầu của thực
tiễn xã hội đòi hỏi con người mới phải là con người có năng lực tri thức (năng
lực trí tuệ), năng lực giải quyết vấn đề trong môi trường sống luôn biến động.
Vì vậy giáo dục nước nhà cần phải có sự đổi mới cả về nội dung và phương
pháp giảng dạy, nhà trường phải tổ chức hoạt động dạy và học như thế nào để
sau khi ra trường học sinh có khả năng tự học, tự thích nghi với hoàn cảnh
mới muốn vậy phải đạt mục tiêu “ giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ, các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,
tính năng độn sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách, trách nhiệm công dân; chuẩn bị chho học sinh tiếp
tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động tham gia xây dựng và bảo vệ tổ
quốc” (Điều 27- Luật Giáo dục của quốc hội nước CHXHCN Việt Nam số
38/2005/ QH 10 ngày 14- 6- 05).
1
Để đạt mục tiêu đó, ngành giáo dục kết hợp với cấp uỷ, chính quyền tích
cực thực hiện các biện pháp phát triển giáo dục. Ngành luôn chú trọng thực
hiện các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục, thực hiện đổi mới chương
trình nội dung sách giáo khoa, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Tuy
nhiên thực tế cho thấy việc thực hiện mục tiêu trên là chưa hiệu quả, đặc biệt
là môn Công nghệ ở các trường phổ thông. Do nhiều nguyên nhân khác nhau

hình thành năng lực kĩ thuật
- Nghiên cứu thực trạng quá trình dạy và học môn Công nghệ ở trường
phổ thông
- Đặc điểm môn Công nghệ 11
- Thiết kế bài dạy theo hướng hình thành và phát triển năng lực kĩ thuật
thông qua một số bài học cụ thể thuộc chương trình Công nghệ 11
- Tiến hành thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi của đề tài
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Năng lực kĩ thuật, biện pháp phát triển năng lực kĩ thuật cho học sinh
thông qua dạy học môn Công nghệ 11 ở trường phổ thông.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Nghiên cứu thu thập thông tin khoa
học liên quan đến năng lực kĩ thuật, biện pháp hình thành và phát triển năng
lực kĩ thuật.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp thực nghiệm
sư phạm.
3
6. Cấu trúc của khoá luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. Nội dung
chính của khóa luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Đề xuất một số biện pháp và vận dụng để hình thành và phát
triển năng lực kĩ thuật trong dạy học Công nghệ 11
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

4
PHẦN NỘI DUNG
Chương I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lí luận của đề tài:

động, người ta chia năng lực thành ba mức độ khác nhau: năng lực, tài năng,
thiên tài.
- Năng lực: Là một mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị
khả năng hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó.
- Tài năng: Là mức độ năng lực cao hơn, biểu thị sự hoàn thành sáng tạo
một hoạt động nào đó.
- Thiên tài: Là mức độ cao nhất của năng lực, biểu thị ở mức kiệt xuất về
thực hiện hoạt động hoàn chỉnh nhất của những vĩ nhân trong lịch sử nhân loại.
1.1.3: Phân loại năng lực:
Dựa vào mục đích đáp ứng trong thực tiễn của các hoạt động mà năng
lực được chia làm hai loại: năng lực chung và năng lực riêng biệt.
- Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực khác nhau. Ví
dụ như: Năng lực giao tiếp, năng lực trí tuệ…là những điều kiện cần thiết để
giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có kết quả.
- Năng lực riêng biệt (còn gọi là năng lực chuyên biệt hay năng lực
chuyên môn) là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt có tính chuyên
môn, nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết
6
quả cao. Chẳng hạn như: năng lực toán học, năng lực thơ văn, năng lực kĩ
thuât, năng lực âm nhạc, năng lực sư phạm…
Hai loại năng lực chung và năng lực riêng luôn bổ sung và hỗ trợ cho
nhau.
1.1.4: Mối quan hệ giữa năng lực với tư chất, với thiên hướng và với
tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.
a. Mối quan hệ giữa năng lực với tư chất:
Tư chất là những đặc điểm riêng của cá nhân về giải phẫu sinh lí bẩm
sinh của bộ não, của hệ thần kinh, của cơ quan phân tích. Nó tạo nên sự khác
biệt giữa con người với nhau. Ngoài những yếu tố bẩm sinh, di truềyn, trong
tư chất còn chúa đựng những yếu tố tự tạo trong cuộc sống cá thể. Đặc điểm di
truyền có được bảo tồn và thể hiện ở thế hệ sau hay không, và thể hiện ở mức

của con người dưới sự tác động của rèn luyện, dạy học và giáo dục.
1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển năng lực:
Quá trình hình thành và phát triển năng lực là thành tố của quá trình
hình thành và phát triển nhân cách, tuân theo qui luật chung của sự phát triển
nhân cách. Năng lực, nhân cách không phải là cái bẩm sinh mà là được hình
thành bộc lộ và phát triển trong quá trình con người hoạt động và giao lưu,
giao tiếp. Như V.I. Lenin đã khẳng định: “ Cùng với dòng sữa mẹ, con người
hấp tụ tâm lí, đạo đức của xã hội mà nó là thành viên”. Nhà tâm lí học Xô Viết
nổi tiếng A.N.Lêonchiev cũng chỉ ra rằng: “ nhân cách cụ thể là nhân cách con
người sinh thành và phát triển theo con đường từ bên ngoài chuyển vào nội
tâm, từ các quan hệ với thề giới tự nhiên, thế giới đồ vật, nền văn hoá xã hội
8
do các thế hệ trước tạo ra,các quan hệ xã hội mà nó gắn bó”. Như vậy,năng
lực, nhân cách của con người được hình thành và phát triển dưới ảnh hưởng
của nhiều yếu tố như:
- Yếu tố tự nhiên- sinh học:
Yếu tố tự nhiên- sinh học đề cập ở đây là nói đến vai trò của di truyền
trong sự hình thành và phát triển năng lực. Di truyền là sự tái tạo ở trẻ em
những thuộc tinhsinh học đã có ở cha mẹ, là sự truyền lại của cha mẹ cho con
cái những đặc điểm và những phẩm chất nhất định đã được ghi lại trong hệ
thống gen. Di truyền tạo ra những điều kiện ban đầu để con người có thể hoạt
động có kết quả trong một lĩnh vực nhât định. Ví dụ như cha mẹ có năng
khiếu ca hát, hội hoạ những năng khiếu này di truyền ở con cái thì giúp cho
con cái thuận lợi hơn trong hoạt động ca hát, hội hoạ.
Tuy nhiên, di truyền chỉ tạo nên tiền đề vật chất cho sự hình thành và
phát triển năng lực. Sự thành công trong một lĩnh vực nào đó phần lớn phụ
thuộc vào hoàn cảnh thực tiễn, vào lao đông, rèn luyện cũng như việc tích
luỹu kinh nghiệm của cá nhân.
- Yếu tố môi trường- xã hội:
Mỗi con người đều hoạt động trong một môi trường xã hội nhất định,

của bản thân. Nếu cá nhân không trực tiếp tham gia hoạt động học tập, lao
động, hoạt động xã hội, hoạt động nghề nghiệp thì không thể hình thành và
phát triển năng lực.
Hoạt động có vai trò quyết định sự hình thành và phát triển năng lực nên
trong công tác giáo dục cần làm phong phú nội dung, hình thức, cách tổ chức
10
hoạt động sao cho thực sự lôi cuốn cá nhân tham gia tích cực, tự giác vào các
hoạt động đó.
- Yếu tố giáo dục, dạy học:
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là quá trình tác động có mục đích, có
kế hoạch, ảnh hưởng đến con người đưa đến sự hình thành và phát triển nhân
cách (trong đó có năng lực).
Giáo dục vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển năng
lực. Vì giáo dục là quá trình tác động có mục tiêu xác định, hình thành ở
người học những năng lực cần đạt được phù hợp với chuẩn mực của xã hội.
Giáo dục góp phần tạo cho thế hệ trẻ sự phát triển nhanh, mạnh hướng vào
tương lai.
Sự hình thành và phát triển năng lực của học sinh phải thông qua chính
hoạt động của học sinh trong mối quan hệ với cộng đồng. Bởi vậy, nhà trường
hiện đại phải là nhà trường hoạt động lấy hoạt động của học sinh là động lực
chính để đạt mục đích đào tạo. Chỉ có dạy học trong nhà trường mới có khả
năng tạo ra những hoạt động đa dạng, phong phú cần thiết, tạo điều kiện để
phát triển những năng lực khác nhau ở học sinh, phù hợp với năng khiếu bẩm
sinh của họ và phù hợp với yêu cầu của xã hội. Tuy nhiên cũng cần phải chú ý
tạo điều kiện cho mỗi cá nhân học sinh giao lưu với các thành viên khác trong
nhà trường, gia đình và xã hội.
Bằng những hoạt động trong nhà trường sẽ giúp học sinh sớm ý thức
được những yêu cầu của xã hội đối với hoạt động của mỗi người trong những
lĩnh vực khác nhau Hơn thế còn giúp cho việc định hướng học sinh phát huy
được khả năng, năng lực của mình.

thiết kế hoặc có sự nhận thức. Để thiết kế kĩ thuật thì cần phải có những hiểu
biết, phải có kiến thức về kĩ thuật, phải có sự nhận thức. Cũng chính từ sự
nhận thức kĩ thuật thì mới tiến hành vận dụng và sự vận dụng đó chính là vận
dụng những thiết kế kĩ thuật.
1.2.3 Đặc điểm của năng lực kĩ thuật:
NLKT thuộc phạm trù của năng lực nói chung, do đó NLKT cũng mang
những đặc điểm chung của năng lực. Đó là: Nó có sự kết hợp nhiều đặc điểm
tâm lí với đặc điểm sinh lí; có sự tụ hội nhiều yếu tố kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
kinh nghiệm và sẵn sàng hoạt động; có sự ảnh hưởng của yếu tố bẩm sinh
nhưng chỉ được hình thành thông qua hoạt động rèn luyện của chủ thể. Bên
cạnh đó NLKT còn có những đặc điểm riêng:
1.2.3.1. Năng lực kĩ thuật dùng yếu tố tư duy kĩ thuật là yếu tố hạt
nhân chủ đạo trong mọi khâu thành phần:
Tư duy kĩ thuật (TDKT) có vai trò quan trọng trong việc hình thành và
phát triển NLKT. Để hoàn thành tốt một hoạt động kĩ thuật thì con người cần
đọc được và hiểu được những bản vẽ, sơ đồ, mô hình kĩ thuật. Tuy nhiên để
làm những việc đó, con người phải có TDKT đó là tư duy khái niệm, tư duy
hình ảnh, tư duy thao tác. Cá nhân phải có TDKT thì mới đảm bảo có NLKT
thực sự.
Bên cạnh TDKT thì trí tưởng tượng kĩ thuật cũng giữ vai trò chủ đạo.
Trí tưởng tượng (gồm thành phần khái niệm và hình ảnh) có ý nghĩa lớn lao
trong việc đọc các bản vẽ kĩ thuật,các sơ đồ nguyên lí hoạt động của các cơ
cấu, hệ thống, máy móc.
13
1.2.3.2. Năng lực kĩ thuật dùng óc quan sát và trí nhớ trực quan là
yếu tố điểm tựa ở trong mọi hoạt động ở các khâu thành phần.
Óc quan sát tức là phải biết tập trung chú ý và có khẳ năng nhận thức rõ
ràng các sự kiện và ý nghĩa của chúng. Óc quan sát tốt dẫn đến hình thành
năng lực quan sát, khả năng xem xét nhìn nhận vấn đề, hiện tượng tốt hơn.
Trước một sự vật, hiện tượng nếu tập trung chú ý thì có thể tìm tòi ra những

Hứng thú có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống và trong hoạt động
của con người. Có hứng thú trong một công việc nào đó làm cho con người trở
nên say mê tích cực trong hoạt động và kết quả là công việc đạt hiệu quả cao.
Nếu như một người được giao một công việc mà người đó không hứng thú
không say mê thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao, chất lượng công việc
không tốt. Chính vì vậy để hình thành NLKT thì hứng thú kĩ thuật cũng có tác
động rất nhiều. Trong một hoạt động kĩ thuật, nếu cá nhân có ham muốn, say
mê, thích thú học tập thì chắc chắn rằng NLKT được hình thành.
Tuy nhiên bên cạnh sự hứng thú kĩ thuật, trong các hoạt động kĩ thuật
thì sự khéo tay của người lao động cũng rất quan trọng. Nhờ sự khéo léo thì
chất lượng sản phẩm cũng tốt hơn. Ví dụ như: Hai người cùng cùng được giao
gia công một cái đục băng phương pháp nguội. Giả thiết rằng cả hai đều có tư
duy tưởng tượng tốt và đều hứng thú với công việc. Nhưng khi làm xong sản
phẩm sẽ có xự khác biệt, một cái sẽ có độ chính xác cao, nhẵn bóng hơn, tiến
đọ hoàn thành sản phẩm nhanh hơn. Nguyên nhân có sự khác biệt đó là do sự
khéo tay của người làm kĩ thuật.
15
Như vậy, hứng thú và sự khéo tay của người lao động có tác động bổ trợ
cho sự hình thành và phát triển NLKT. Trong qua trình dạy học cần tạo sự say
mê, hứng thú tích cực của học sinh đối với hoạt động kĩ thuật và rèn luyện cho
học sinh tính cẩn thận, chính xác trong khi thiết kế, chế tạo sản phẩm kĩ thuật.
1.2.4. Cơ chế hình thành năng lực kĩ thuật:
Nhờ có những thuộc tính nhất định, con người đạt được những kết quả
tốt đẹp trong hoạt động kĩ thuật, trong lao động sản xuất. Điều đó có nghĩa là
năng lực kĩ thuật được thể hiện trong kết quả của hoạt động. Con người khi
đứng trước một hoạt động kĩ thuật, xác định được mục đích của hoạt động và
đi tới mục đích đó bằng chính hoạt động của mình thì người đó được coi là có
năng lực kĩ thuật. Muốn hình thành năng lực kĩ thuật cá nhân phải thể hiện rõ
ba yếu tố trong cấu trúc của năng lực kĩ thuật. Ba yếu tố đó là: năng lực nhận
thức kĩ thuật, năng lực thiết kế kĩ thuật, năng lực vận dụng kĩ thuật. Ba yếu tố

- Tiến hành công việc kiểm tra đánh giá kết quả học kĩ thuật thông qua
việc kiểm tra phải toàn diện với các nội dung kiểm tra phải có tính thiết thực,
hình thức phong phú đồng thời dạy cho học sinh biết cách tự kiểm tra để đánh
giá kết quả đã thực hiện của mình.
1.2.6 Cách kiểm tra đánh giá năng lực kĩ thuật:
Khi tiến hành một hoạt động kĩ thuật, bằng hoạt động của chính mình cá
nhân đạt được kết quả nhất định. Như vậy ở cá nhân đó đã hình thành năng lực
nhất định. Trong dạy học, để biết năng lực kĩ thuật đã được hình thành ở mức
độ nào đối với học sinh thì người giáo viên phải tiến hành kiểm tra đánh giá.
17
Kiểm tra đánh giá nhằm mục đích:
- Xác định mức độ đạt được và chưa đạt được về các mục tiêu dạy học,
tình trạng kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh đối với yêu cầu của môn học.
- Khẳng định năng lực và kết quả học tập của mỗi học sinh và của tập thể
lớp, tạo cho học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận thức rõ
những điểm mạnh và điểm yếu của mình để tiếp tục phấn đấu và khắc phục.
- Thông qua kiểm tra đánh giá, giáo viên căn cứ vào kết quả thực tế để
nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt
động dạy, phấn đấu nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
Những phương pháp kiểm tra thường sử dụng trong dạy học là:
- Kiểm tra bằng quan sát: bao gồm quan sát thường xuyên và quan sát
sự trình diễn của học sinh.
- Kiểm tra viết: bao gồm:
Trắc nghiệm tự luận: gồm có bài viết, tiểu luận, luận văn.
Trắc nghiệm khách quan: bao gồm các dạng câu hỏi như: nhiều lựa
chọn, đúng- sai, ghép đôi, điền khuyết.
- Kiểm tra vấn đáp: Gồm vấn đáp thuần túy, vấn đáp kết hợp.
Để đánh giá năng lực kĩ thuật của học sinh, có thể sử dụng các cách như
sau:
1. Sử dụng phối hợp các phương pháp kiểm tra đánh giá khác nhau như:

đúng đắnvà chính xác hơn. Cụ thể là phải tìm ra được cái bản chất và những
qui luật tác động của chúng. Quá trình nhận thức đó được gọi là tư duy. Vậy
tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối
19
liên hệ và quan hệ bên trong có tình qui luật của sự vvật hiện tượng trong hiện
thực khách quan, mà trước đó ta chưa biết.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về TDKT nhưng cho đến nay chưa đi
đến một định nghĩa thống nhất. Một cách tổng quát có thể hiểu: TDKT là sự
phản ánh khái quát các nguyên lí kĩ thuật, các quá trình kĩ thuật, các thiết bị kĩ
thuật dưới dạng các mô hình kết cấu kĩ thuật nhằm giải quyết những nhiệm vụ
đặt ra trong thực tế sản xuất. Do đó TDKT là loại tư duy xuất hiện trong lĩnh
vực lao động kĩ thuật nhằm giải quyết những bài toán (nhiệm vụ) có tính chất
kĩ thuật trong sản xuất.
1.3.2. Cấu trúc của tư duy kĩ thuật:
TDKT được cấu trúc bởi ba thành phần: thành phần khái niệm kĩ thuật,
thành phần hình ảnh kĩ thuật, thành phần thao tác kĩ thuật. ba thành phần này
có mối quan hệ tương hỗ, có thể biểu hiện qua sơ đồ sau:
Khái niệm (lí thuyết)
Hình ảnh (trực quan) Thao tác (thực hành)
- Thành phần khái niệm kĩ thuật thường được hình thành thông qua các
bài học về lí thuyết kĩ thuật.
- Thành phần hình ảnh kĩ thuật được hình thành trong tư duy thông qua
việc quan sát các phương tiện trực quan như các cơ cấu, thiết bị sản phẩm kĩ
thuật là vật thật hay thông qua hình ảnh ở tranh vẽ, ảnh chụp, mô hình, mô
phỏng…
- Thành phần thao tác kĩ thuật của tư duy có được phải thông qua thực
hành kĩ thuật, thông qua việc thực hiên thực hành các qui trình công nghệ,
thực hành tháo lắp, lắp ráp kiểm tra, bảo dưỡng.
20
Trong quá trình tư duy để giải quyết vấn đề đó là nhiệm vụ học tập nếu

Thứ nhất, TDKT có tính chất lí thuyết- thực hành: Nó biểu hiện ở sự
thống nhất chặt chẽ giữa thành phần lí thuyết và thành phần thực hành của
hoạt động trong sự tác động qua lại và kết hợp không ngừng giữa các hành
động trí óc (thao tác) với các hoạt động chân tay bên ngoài (động tác).
Thứ hai, TDKT có mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành phần khái niệm-
hình tượng (hình ảnh) của hoạt động, có nghĩa thành phần hình ảnh và khái
niệm là những thành phần cần thiết và có giá trị ngang nhau trong TDKT. Vì
thế người ta gọi TDKT chính là tư duy không gian.
Thứ ba, TDKT có tính chất thiết thực, linh hoạt cao. Thể hiện ở hai mặt:
- Quá trình tư duy để giải quyết một bài toán kĩ thuật hay một bài toán
công nghệ cần phải được hoàn thành trong khoản một thời gian hạn chế.
- Tính linh hoạt của TDKT không chỉ thể hiẹn ở sự sẵn sàng đáp ứng
với thời điểm cần thiết mà còn thể hiện ở kĩ năng của con người biết vận dụng
hợp lí và có hiệu quả các tri thức đã có vào những điều kiện khác nhau.
Thứ tư, TDKT mang tính nghề nghiệp. Nghĩa là những người làm công tác
kĩ thuật trong một nghề nào đó thường rất nhạy bén với những vấn đề của nghề đó.
Sự nhạy cảm nghề nghiệp này cho phép tiếp cận với những khái niệm kĩ thuật hay
đối tượng kĩ thuật mới nhanh hơn so với những người không làm nghề đó.
1.3.4. Mối quan hệ giữa tư duy kĩ thuật và năng lực kĩ thuật:
TDKT và NLKT có mối qun hệ mật thiết với nhau. TDKT tạo tiền đề
cho việc phát triển khả năng sang tạo kĩ thuật, yếu tố hạt nhân của NLKT.
22
TDKT với những đặc điểm của nó, bằng sự nhận thức về các hoạt động
kĩ thuật, giúp cho cá nhân có năng lực về hoạt động đó. TDKT có tính trừu
tượng khái quát, nó không chỉ giải quyết nhiệm vụ nhận thức hiện tại về các
hoạt động kĩ thuật mà còn tạo tiền đề cho sang tạo kĩ thuật. Với sự nhận thức
sâu sắc về đối tượng kĩ thuật thì cá nhân có thể tìm tòi phát hiện ra những cái
mới đối với đối tượng, chẳng hạn như tìm ra cách thể hiện mới, tìm ra phương
án chế tạo mới.
TDKT còn là yếu tố hạt nhân của NLKT. Để hoàn thành tôt một hoạt

Điều này làm mất tính chính xác, đặc tính kĩ thuật khó đạt được làm giảm đi
sự thu hút hứng thú của học sinh đối với môn học.
Ngoài những khó khăn về đội ngũ giáo viên, về sự quan tâm đến vị trí
môn học ở trường phổ thông. Phần lớn giáo viên môn Công nghệ còn chưa
tâm huyết với nghề nghiệp. Việc chuẩn bị bài lên lớp và việc tiến hành dạy
học đôi khi chỉ mang tính hình thức. Việc đổi mới phương pháp dạy học của
giáo viên cũng việc sử dụng các phương tiện hiện đại hầu như còn hạn chế.
Đối với dạy học các bài thực hành công nghệ, mặc dù đã được nhà nước quan
tâm về trang thiết bị phục vụ thực hành, nhưng do chưa đảm bảo đủ số lượng
và chất lượng để mỗi học sinh được thực hành. Vì vậy mà mục tiêu và nội
dung các giờ dạy học thực hành công nghệ cũng chưa được tiến hành đầy đủ,
nếu có được thực hành thì cũng chủ yếu là quan sát giáo viên thực hiện hoặc
tìm hiểu trong sách giáo khoa. Do đó năng lực và kĩ năng thực hành của học
sinh chưa được phát huy. Trong các giờ học lí thuyết việc giáo viên hướng dẫn
học sinh tìm hiểu kiến thức vẫn mang tính chất thuyết trình, giới thiệu, các
24
phương pháp dạy học tích cực vẫn chưa được áp dụng. Do vậy học sinh tiếp
thu kiến thức một cách thụ động. Vì học sinh chưa có hứng thú học tập thực
sự và như vậy giáo viên đã không phát huy được NLKT của học sinh.
2.1.2. Thực trạng việc học môn Công nghệ:
Môn Công nghệ là môn học trong chương trình chính khóa trong trường
trung học phổ thông, và là môn học gắn liền với thực tiễn lao động và sản
xuất. những kiến thức của bộ môn gắn liền với thực tiễn nên đã thu hút sự
quan tâm chú ý của học sinh. Tuy nhiên vì đây là môn học không thi tốt
nghiệp, không thi đại học do đó học sinh cũng chỉ hứng thú trong các giờ học
trên lớp. Ngoài các tiết học chính của môn Công nghệ thì thời gian đầu tư tìm
hiểu thêm kiến thức kĩ thuật công nghệ trong thực tế thông qua hoạt động
tham quan, ngoại khóa kĩ thuật ngoài giờ lên lớp cũng còn ít.
Trong các giờ học chính, do thực trạng đội ngũ giáo viên đã làm cho lớp
học không tập trung được sự chú ý của học sinh. Trong giờ học vẫn còn tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status