luận văn thạc sĩ đại học sư phạm hà nội Tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua hoạt động vẽ - Pdf 26

Mở Đầu
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động sáng tạo gắn liền với lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội
loài người. Từ việc tìm ra lửa, chế tạo công cụ bằng đá thô sơ đến việc sử
dụng năng lượng nguyên tử chinh phục vũ trụ đều là kết quả hoạt động sáng
tạo của loài người. Hoạt động sáng tạo của loài người không ngừng được phát
triển cùng với sự phát triển của xã hội. Sáng tạo không thể tách rời khỏi tư
duy, tưởng tượng của con người. Chính quá trình tưởng tượng sáng tạo với
chủ thể là con người đã tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần, các thành tựu vĩ
đại về mọi mặt trong cuộc sống và tạo ra nền văn minh nhân loại. Ngày nay,
cùng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ, số lượng các bài toán phức tạp
mà loài người cần phải giải quyết tăng nhanh, trong khi yêu cầu thời gian giải
bài toán cần được rút ngắn. Người ta lại không thể nào tăng mãi phương tiện
và số lượng người tham gia giải bài toán. Vì vậy đòi hái con người phải
không ngừng sáng tạo. Muốn đạt hiệu quả cao trong sáng tạo đòi hỏi phải bồi
dưỡng khả năng tưởng tượng sáng tạo cho con người ngay từ khi còn rất nhỏ.
Mét trong những cách tối ưu là phát triển khả năng tưởng tượng sáng tạo cho
trẻ trước tuổi học (từ 5 - 6 tuổi).
Thực tiễn cho thấy con người có khả năng sáng tạo từ rất sớm: Moza 3
tuổi đã tự mình hoà âm trên đàn, 5 tuổi đã sáng tác nhạc, 8 tuổi đã viết những
bản xônát và giao hưởng đầu tiên. Newton lúc lên 8 tuổi đã biết làm trò chơi
cơ học khiến mọi người phải ngạc nhiên. Êđisơn khi 7 tuổi đã có phát minh
đầu tiên về bóng đèn diện… Nh vậy các nhà giáo dục hoàn toàn có thể tin
tưởng rằng, con người luôn tiềm tàng khả năng sáng tạo từ rất sớm. Điều quan
trọng là phải sớm phát hiện, động viên, khích lệ và có biện pháp giúp các em
phát huy và phát triển khả năng sáng tạo của mình.
1
Trường mầm non là môi trường rất thuận lợi tạo điều kiện cho sự nảy
nở và phát triển những ý tưởng sáng tạo đang còn Êp ủ trong trẻ em. Sự hình
thành và phát triển những khả năng tưởng tượng ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là
một tiền đề quan trọng đặt nền móng cho khả năng sáng tạo trong mọi hoạt

- Thử nghiệm một số biện pháp tác động tâm lý nhằm tạo điều kiện cho
khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi được béc lộ và phát
triển qua hoạt động vẽ.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu chính gồm 127 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở 2 trường
của Hà Nội là:
o Trường Mầm non Tuổi Hoa - Cầu Giấy
o Trưòng Mầm non Hoạ Mi - Gia Lâm
- Khách thể nghiên cứu phụ gồm 30 giáo viên của hai trường mầm non
trên.
4. Giả thuyết khoa học
- Tưởng tượng sáng tạo của trẻ được bộc lộ qua hoạt động vẽ, nhưng
mức độ tưởng tượng sáng tạo bộc lộ chưa cao, chủ yếu ở mức trung bình.
- Có sự khác biệt về mức độ tưởng tượng sáng tạo giữa trẻ mẫu giáo 5 -
6 tuổi ở nội thành và ngoại thành Hà Nội, giữa trẻ trai và trẻ gái.
- Khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi sẽ bộc lộ
và phát triển thuận lợi hơn khi có tác động tâm lý phù hợp của nhà giáo dục.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về tưởng tượng sáng tạo trong
hoạt động vẽ…
5.2. Khảo sát thực trạng mức độ tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo
5 – 6 tuổi qua hoạt động vẽ.
4
5.3. Đề xuất và thử nghiệm một biện pháp tác động nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho khả năng tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi qua
hoạt động vẽ được bộc lộ và phát triển.
6. Phương pháp nghiên cứu

tri giác nhưng còn hạn chế khi lý giải hoạt động tưởng tượng sáng tạo bằng
quy luật “bừng sáng” của cấu trúc tiền định trong não. Tính tích cực hoạt
động của con người bị đưa vào hàng thứ yếu trong khi tính sinh vật lại được
đưa lên giữ vai trò quyết định.
Từ những năm 40 – 50 các nhà giáo dục học và tâm lý học Xôviết cũng
quan tâm đến hoạt động vẽ của trẻ.
Những nghiên cứu của N.P.Xaculina đã chỉ ra vai trò của quan sát
trong tạo hình và tìm ra phương pháp hướng dẫn quan sát trong mối liên hệ
với hoạt động tạo hình. Theo tác giả này, việc làm giầu kinh nghiệm cho trẻ là
nguồn gốc quan trọng đối với sự phát triển tưởng tượng của trẻ. Tập thể các
tác giả N.P.Xaculina, N.A.Vetlugina, N.X.Kapunxkaia, V.A.Ezkeeva,
6
I.L.Bzergiexki, T.T.Kazakova đã vạch ra chương trình, phương pháp, nội
dung giáo dục nghệ thuật trong các giờ học.
Các tác giả nh A.N.Leonchiev, A.V.Giaporozet, B.M.Chevlov…đã
khẳng định vai trò chủ đạo của chương trình giáo dục, dạy học và ý nghĩa của
hoạt động sư phạm trong sự phát triển khả năng tưởng tượng của trẻ nhỏ.
Ngày nay không chỉ ở Liên Xô mà nhiều tác giả ở nhiều nước khác có các
công trình nghiên cứu đã quan tâm đến sự phát triển khả năng tưởng tượng
cũng như khả năng sáng tạo của trẻ như S.teintanova (Bungari), R.Muller,
G.Resel (Đức), Xuzuki Xezo và Xinxaku Tada (Nhật), R.soka (Pháp),
E.Kramer và B.Jefferson (Mỹ)… các tác giả trên đều có quan điểm chung là
coi trọng vai trò hoạt động tích cực của bản thân trẻ trong quá trình phát triển
nói chung cũng như vai trò của tác động sư phạm trong hoạt động tạo hình nói
riêng (44).
1.1.2. ở Việt Nam
Ở Việt Nam hầu nh chưa có công trình nghiên cứu cấp quy mô về hệ
thống phương pháp, biện pháp phát triển khả năng tưởng tượng sáng tạo cho
trẻ trong hoạt động tạo hình.
Năm 1990, tác giả Đỗ Thuật đã có đề tài nghiên cứu “Hình thành

mẫu giáo nói chung, trẻ mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi nói riêng.
1.2. Tưởng tượng sáng tạo
1.2.1. Khái niệm tưởng tượng sáng tạo
Khái niệm tưởng tượng sáng tạo xuất phát từ khái niệm tưởng tượng.
Các nhà TLH có quan điểm không giống nhau về tưởng tượng. Theo
P.A.Ruđich (nhà TLH Nga) đã khẳng định: “Tưởng tượng là hoạt động nhận
thức mà trong quá trình nhận thức Êy con người sáng tạo ra những biểu
tượng, những tình huống trong tư tưởng, ý nghĩa; đồng thời dựa vào những
8
hình tượng còn giữ lại trong ký ức từng kinh nghiệm của cảm giác trước kia
và có đổi mới, biến đổi các thứ Êy”. [38]
Đứng trên quan điểm của mình, A.V.Giaporozet nhìn nhận “Tưởng
tượng là sáng tạo ra những hình ảnh các sự vật và hiện tượng mới bằng cách
làm sống lại trong óc người những đường liên hệ thần kinh tạm thời đã thành
lập trước đây thành các tổ hợp mới” [9].
Tác giả A.A.liublinxkaia xem xét tưởng tượng là sự phản ánh hiện thực
của con người bằng cách phối hợp những hình ảnh của sự vật đã tri giác trước
đây. Tác giả cho rằng những sự phối hợp đó càng độc đáo, chúng càng có ý
nghĩa to lớn cho hoạt động về sau của con người và mức độ tưởng tượng sáng
tạo của người đó càng cao. Người lớn sử dụng rộng rãi trí tưởng tượng vào
cuộc sống hàng ngày. Để hoàn thành bất cứ công việc gì, điều cần thiết trước
tiên là phải tưởng tượng, tức là phải tưởng tượng ra cái mục đích, cái mà vì nó
con người quyết định hành động đó. Khi đọc sách hay nói chuyện với mọi
người thì người đó phải đặt mình (tức là phải tưởng tượng) vào tâm trạng của
người khác, phải đồng cảm với họ thì mới đảm bảo việc tiếp xúc tốt nhất và
thông cảm với nhau một cách đầy đủ.
Tác giả Đức Minh cho rằng: “Tưởng tượng là sự sáng tạo ra biểu
tượng mới dựa trên cơ sở của những biểu tượng đã có trước kia” [32].
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn: “Tưởng tượng là một quá trình tâm
lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng

ngợi sức mạnh của cái thiện. Bằng tưởng tượng của mình đứa trẻ đã sáng tạo ra
một hình ảnh mới độc đáo, không chỉ mới đối với đứa trẻ mà còn mới đối với
mọi người.
1.2.2. Đặc điểm tưởng tượng sáng tạo
10
Tưởng tượng sáng tạo là một hình thức hoạt động tâm lý đặc biệt giúp
con người hình dung trong óc những cái trước kia chưa từng tri giác, sáng tạo
ra những hiện tượng vât thể và hiện tượng trước kia con người chưa hề gặp,
sản sinh ra quan niệm về những cái sẽ sáng tạo. Tưởng tượng sáng tạo là sự
sáng tạo ra cái mới dưới hình thức biểu tượng.
Đặc điểm tiêu biểu nhất của tưởng tượng sáng tạo là tạo ra hình ảnh
mới (biểu tượng mới) một cách độc lập. TÝnh chất mới mẻ độc đáo, là đặc
điểm nổi bật của loại tưởng tượng này. Đây là mặt không thể thiếu được của
mọi hoạt động sáng tạo (trong nghiên cứu khoa học, hoạt động nghệ thuật…)
Tưởng tượng sáng tạo khác với tưởng tượng tái tạo ở chỗ tự mình tạo ra hình
ảnh của các sự vật mới không chỉ với cá nhân người tưởng tượng mà còn mới
với xã hội.
Thứ hai: Tưởng tượng sáng tạo là một loại hoạt động chuyên biệt của
con người, nó được nảy sinh và phát triển trong quá trình lao động, chúng
được hiện thực hoá trong các sản phẩm vật chất độ đáo và có giá trị.
Trước khi làm một việc gì, con người luôn nghĩ mình làm gì và làm
như thế nào? Bàn về vấn đề này, Mác đã viết: “Công việc của con nhện cũng
giống nh việc làm của người thợ dệt, xét kiến trúc của một tổ ong thì việc làm
của một con ong đã khiến cho nhiều người làm nghề kiến trúc phải hổ thẹn.
Nhưng một kiến trúc sư vụng về nhất vẫn hơn hẳn những con ong khéo nhất,
là vì đối với kiến trúc sư thì trước khi định xây tổ ong, tổ ong đã được cấu tạo
trong đầu óc ông ta rồi. Kết quả thu được khi kết thúc quá trình lao động đã
tồn tại trong quan niệm của người lao động ngay từ khi quá trình lao động
mới bắt đầu, nghĩa là kết quả đó tồn tại một cách lý tính”. [30,198]
Tưởng tượng sáng tạo ở con người được phát triển trong quá trình lao

Mối liên hệ không thể tách rời được giữa tưởng tượng sáng tạo với hiện
thực khách quan đã quyết định sự phụ thuộc của tưởng tượng vào những kích
12
thích về hiện thực. Kích thích dùng để sáng tạo những cái mới càng rộng bao
nhiêu, kinh nghiệm thực tiễn càng phong phó bao nhiêu khả năng sáng tạo ra
cái mới và ứng dụng những cái mới đó vào thực tiễn càng lớn bấy nhiêu. Do
vậy tưởng tượng sáng tạo liên hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính. Nó sử dụng
những biểu tượng của trí nhớ do nhận thức cảm tính thu lượm và cung cấp.
Tưởng tượng sáng tạo có liên hệ mật thiết với tưởng tượng tái tạo. Một
mặt mọi tưởng tượng sáng tạo đòi hỏi lặp lại hình ảnh của các sự vật và hiện
tượng nào đó đã biết trước đây. Mặt khác trong các quá trình tưởng tượng
sáng tạo thường có yếu tố sáng tạo. Chẳng hạn khi nghe kể chuyện cổ tích, trẻ
tạo lại hiện tượng những nhân vật trong truyện nhưng thường bổ sung những
điều đã nghe trước đây vào tưởng tượng của mình, ghép cho các nhân vật
những nét mới tạo ra các cảnh và sự kiện mới.
Ngoài ra tưởng tượng sáng tạo có một hình thức đặc biệt là ước mơ.
Khác với các loại tưởng tượng khác. Ước mơ bao giờ cũng vẽ ra hình ảnh về
một cái gì mà người ta mong muốn. ước mơ tưởng tượng hướng về tương lai
xa hay tương lai gần nhưng là một tương lai mong muốn.
Ước mơ có thể kích động con người hoạt động, giúp con người hình
dung một cách sinh động những kết quả mong muốn của hoạt động và do đó
thúc đẩy con người vươn tới những kết quả đó một cách mãnh liệt hơn.
Nhưng có những trường hợp mà ước mơ tách rời thực tế và ngăn cách con
người hoạt động. Có người lấy ước mơ thay cho hành động thực tế, tìm trong
ước mơ thực hiện nguyện vọng của mình. Ta gọi những người đó là “những
người mơ mộng hão huyền”.
1.2.3. Vai trò của tưởng tượng sáng tạo trong sự phát triển tâm của
lý trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
Tưởng tượng sáng tạo vô cùng cần thiết trong bất kỳ hoạt động nào của
con người nh: việc học tập, lao động, sáng tạo, trò chơi… chỉ có kết qủa nếu

giải quyết những bài toán, những hoàn cảnh có vấn đề xuất hiện trong quá
trình hoạt động.
Tưởng tượng sáng tạo làm cho nhận thức của trẻ trở nên phong phó,
sinh động. Nhìn một đám mây, nếu chỉ bằng nhận thức cảm tính trẻ chỉ biết,
đó là đám mây đen, trắng hoặc xanh. Nhưng khi có tưởng tượng, đặc biệt là
tưởng tượng sáng tạo, trẻ có thể hình dung đám mây là con ngựa, con trâu, là
máy bay, là tàu vũ trụ… Ngôn ngữ của trẻ cũng nhờ đó mà bay bổng và giàu
hình ảnh hơn. Trong khi chơi, trẻ không chỉ biết vào vai công chúa, hoàng tử
mà còn biết dùng ngôn ngữ phù hợp với vai mà trẻ đóng. Không có gì đáng
ngạc nhiên, khi ta thấy hai trẻ xưng hô với nhau là thần thiếp và bệ hạ, trẻ còn
có những cử chỉ cúi gập người hay quỳ gối xuống đất. Đơn giản vì trẻ đang
đóng vai là vua và hoàng hậu.
Tưởng tượng sáng tạo cũng chính là điều kiện để phát triển khả năng
sáng tạo của con người nói chung và của trẻ nói riêng. Chỉ khi có tưởng tượng
sáng tạo, tư duy của trẻ mới trở nên linh hoạt, nhạy bén. Khi đó trẻ có thể giải
quyết tình huống có vấn đề trong hoàn cảnh không có đủ dữ kiện để tư duy.
Trẻ mẫu giáo đã lấy ghế để làm ngựa, trong tình huống khác chúng còn lấy
ghế để làm đoàn tàu.
Tất cả những điều trên chứng tỏ tưởng tượng nói chung, tưởng
tượng sáng tạo nói riêng có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con
người, đặc biệt là đối với trẻ mẫu giáo, nó góp phần phát triển nhân cách
toàn diện cho trẻ.
1.2.4. Sự phát triển tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Tưởng tượng sáng tạo hình thành trong quá trình sống, trong hoạt động
của trẻ dưới ảnh hưởng nhất định của điều kiện sống, giảng dạy và giáo dục.
Do vậy muốn phát triển tưởng tượng sáng tạo cần tích luỹ kinh nghiệm tương
ứng, mở rộng biểu tượng về thực tại xung quanh. Kinh nghiệm được tích luỹ
15
thông qua những quan sát cá nhân của trẻ trong quá trình hoạt động, bên cạnh
đó người lớn truyền đạt tri thức cho trẻ về sự vật và hiện tượng xung quanh.

tượng sáng tạo của trẻ Ýt phụ thuộc vào cái đang tri giác trong thời điểm hiện
tại. Ví dụ: Khi chơi trò chơi đường sắt, trẻ mẫu giáo tưởng tượng ra cái ghế là
toa xe nhưng trong trò chơi cưỡi ngựa thì cái ghế lại trở thành con ngựa.
Tưởng tượng của trẻ mẫu giáo phần nào có tính mục đích, có chủ định
rõ rệt. Nhờ kinh nghiệm của trẻ được mở rộng, hứng thú phát triển, hoạt động
phức tạp hơn nên tưởng tượng của trẻ có tính chất sáng tạo hơn. Chủ đề trò
chơi của trẻ, các bức tranh, các câu chuyện tự kể trở nên phong phú và đa
dạng hơn. Trong quá trình tưởng tượng, trẻ có tính độc lập cao và có sáng
kiến. Trẻ không lặp lại đơn thuần một số đề tài bắt chước ở người lớn hay các
em lớn tuổi bằng một số hình thức. Trẻ biến đổi các đề tài đó một cách sáng
tạo, bổ sung những cái mới, tự tìm ra những phương thức thực hiện những ý
định sáng tạo của mình. Nhưng khi đã phát triển đến mức độ khá cao, tưởng
tượng sáng tạo của trẻ em ở lứa tuổi này chỉ có thể diễn biến có kết quả khi nó
trực tiếp có liên quan đến hoạt động bên ngoài của trẻ. Tưởng tượng sáng tạo
gắn liền với hoạt động bên ngoài của trẻ và trong quá trình phát triển đã
chuyển hoá thành hoạt động tâm lý bên trong tương đối độc lập. Trẻ đã biết
hình dung những tình huống chơi trong óc mà không cần gắn với đồ chơi và
hành động chơi, đã biết xây dựng tình huống mới trong tưởng tượng của
mình. Chẳng hạn khi chơi trò chơi tàu thuỷ, một em đóng vai thuyền trưởng,
tuy chỉ đứng trên ghế mà vẫn tưởng tượng được mình đang vượt đại dương,
chống chọi với sóng gió…
Tưởng tượng sáng tạo của trẻ mẫu giáo gắn chặt với xúc cảm. Quan hệ
giữa tưởng tượng và xúc cảm là quan hệ hai chiều, tưởng tượng sáng tạo phụ
thuộc vào sự phát triển của cảm xúc. Cảm xúc càng sâu sắc thì tưởng tượng
17
sáng tạo càng phù hợp với tình cảm Êy. Tưởng tượng sáng tạo giữ vai trò rất
quan trọng trong việc làm giàu kinh nghiệm xúc cảm của trẻ. Thường các
cháu mẫu giáo rất thích vào vai mẹ trong trò chơi đóng vai theo chủ đề. Trẻ
cũng làm các “công việc” của một người mẹ là cho con ăn, mặc quần áo cho
con, đưa con đi học, chăm sóc khi con ốm…

tưởng tượng sáng tạo. Chỉ khi trẻ ham thích, có nhu cầu tưởng tượng về
một đối tượng nào đó thì yếu tố sáng tạo trong tưởng tượng mới được bộc
lộ. Mọi sự gò Ðp, bắt buộc đều hạn chế khả năng tưởng tượng sáng tạo của
trẻ. N h vậy, việc tạo hứng thú cho trẻ trong hoạt động vẽ cũng là một biện
pháp quan trọng phát triển khả năng tưởng tượng sáng tạo cho trẻ mẫu giáo
nói chung và trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi nói riêng.
Sự phát triển tưởng tượng sáng tạo của trẻ lứa tuổi mẫu giáo có ý nghĩa
quan trọng đối với việc chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông. Tưởng tượng
sáng tạo không tự phát triển mà đòi hỏi phải có những điều kiện nhất định,
trước hết là đòi hỏi có tổ chức, giáo dục đúng đắn. Bồi dưỡng tưởng tượng
sáng tạo cho trẻ cần phải làm cho tưởng tượng gắn với đời sống của trẻ. Giáo
viên tạo điều kiện cho trẻ tham gia nhiều vào hoạt động, tiếp xúc nhiều với
thiên nhiên để làm giầu vốn sống thì trí tưởng tượng của trẻ mới phong phó.
1.3. Lý luận về hoạt động vẽ
1.3.1. Khái niệm hoạt động vẽ
Hoạt động tạo hình nói chung, hoạt động vẽ nói riêng là một trong
những hoạt động góp phần tích cực cho sự phát triển toàn diện của trẻ mẫu
giáo. Đây là một hoạt động nghệ thuật và là phương tiện quan trọng trong
việc giáo dục thẩm mỹ. Đặc biệt hình thành và phát triển ở trẻ nhiều mầm
mống đầu tiên của sự sáng tạo. Nó giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và thể hiện
một cách sinh động những gì chúng nhìn thấy trong thế giới xung quanh,
những gì làm cho trẻ rung động mạnh mẽ và gây cho chúng xúc cảm tình cảm
19
tích cực. Hoạt động vẽ có đầy đủ điều kiện đảm bảo sự tác động đồng bộ lên
mọi mặt phát triển của trẻ về đạo đức, trí thức, thẩm mỹ, thể chất và hình
thành các phẩm chất kỹ năng ban đầu của con người như một thành viên trong
xã hội. Qua hoạt động vẽ, trẻ biết lao động tích cực sáng tạo, đồng thời còn
rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, khả năng điều chỉnh hoạt động giữa mắt và tay.
Nh vậy hoạt động vẽ là một dạng hoạt động sáng tạo nghệ thuật.
Còng nh các dạng hoạt động khác, hoạt động vẽ là một hoạt động của

người hoạ sỹ nắm được các quy luật, các nguyên tắc nhận thức, từ đó tạo nên các
cơ sở cho những phát hiện mới trong nghệ thuật. Các thành tựu trong giải phẫu
học, kết quả phân tích các chất liệu, thành tựu quang học, các quy luật của sự
cảm nhận màu sắc, ánh sáng, hình dạng…là vốn kinh nghiệm quý báu không thể
thiếu đối với người hoạ sỹ trong việc phản ánh thế giới vừa chính xác, vừa nghệ
thuật. Ngược lại, nghệ thuật lại bổ sung cho các nghiên cứu khoa học những ý
tưởng về vẻ đẹp hài hoà trong sự vận động và phát triển của thế giới.
1.3.2. Bản chất và nguồn gốc hoạt động vẽ của trẻ
Từ lâu hoạt động vẽ của trẻ đã được nhiều nhà nghiên cứu về nghệ
thuật, về tâm lý học, về giáo dục học… quan tâm tới. Với mục đích riêng của
mình, các ngành khoa học nghiên cứu hoạt động vẽ của trẻ ở những khía cạnh
khác nhau, song các công trình nghiên cứu đều quan tâm đến bản chất hoạt
động vẽ của trẻ.
Ngày nay các công trình nghiên cứu TLH đã khẳng định rằng sự phát
triển hoạt động tạo hình là một khía cạnh của sự phát triển tâm lý diễn ra
thông qua sự lĩnh hội của đứa trẻ những phẩm chất năng lực tâm lý đặc trưng
cho con người đã được in dấu trong nền văn hoá vật chất và tinh thần của xã
hội. Có thể khẳng định rằng hoạt động vẽ nói riêng và hoạt động tạo hình nói
chung là một hoạt động có nguồn gốc xã hội. [44]
21
Nhà TLH trẻ em V.X.Mukhina (Nga) chuyên nghiên cứu tranh vẽ của
trẻ em đã xem hoạt động vẽ của trẻ nh một quá trình lĩnh hội các kinh nghiệm
xã hội. [85]
Hoạt động vẽ là một loại hình hoạt động của hoạt động tạo hình, là một
hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Trong quá trình hoạt động, trẻ lĩnh hội nhận
thức hiện thực xung quanh và phản ánh những suy nghĩ, tình cảm của trẻ
thông qua những hình tượng mang tính nghệ thuật. [13]
Bàn về vấn đề này, E.A.Florina viết: “Sáng tạo trong tranh vẽ của trẻ
được hiểu nh sự phản ánh có ý thức hiện thực xung quanh vào tranh vẽ”. Sự
phản ánh này được tạo nên nhờ tưởng tượng sáng tạo, nhờ quan sát, chọn lọc

cho sự xuất hiện, hình thành tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ.
Một số nhà TLH quan niệm rằng cơ sở xuất phát của tưởng tượng sáng
tạo ở trẻ em là một hoạt động gắn liền với trò chơi. Rõ ràng là giữa hoạt động
tạo hình và trò chơi trẻ em có nhiều nét tương đồng: cả hai hoạt động đều
nhằm vào sự lĩnh hội tích cực các sự vật, hiện tượng xung quanh. Cả hoạt
động tạo hình và trò chơi đều bắt nguồn từ những nhu cầu cấp bách của bản
thân đứa trẻ và do sự bùng nổ nhanh chóng của những xúc cảm, tình cảm luôn
tràn ngập trong trẻ. Trong cả hai hoạt động trẻ đều tạo ra các mối quan hệ
giữa vật thay thế và vật được thay thế. Tuy nhiên, với tư cách là một hoạt
động mang tính nghệ thuật, hoạt động tạo hình có những nét khác biệt với trò
chơi. Trong trò chơi mối quan hệ thay thế được xác lập chủ yếu do chức năng
mà trẻ gán cho vật thay thế bằng tên gọi của vật được thay thế. Trong hoạt
động tạo hình, mối quan hệ này được tạo nên trước hết do sự giống nhau bên
ngoài giữa chúng. Hơn nữa, động cơ của trò chơi chủ yếu nằm ở quá trình
hoạt động, động cơ của hoạt động tạo hình nằm ở cả quá trình và kết quả của
hoạt động, ở cả việc đánh giá và thưởng thức kết quả sáng tạo.
23
Các công trình nghiên cứu của các tác giả Nga xem xét kết quả của
hoạt động tạo hình của trẻ trên quan điểm giáo dục đã công nhận sự cần thiết
của việc dạy trẻ học vẽ và cho rằng sự bắt chước chỉ là chỗ dựa ban đầu trong
quá trình học vẽ dưới ảnh hưởng của giáo dục. Theo N.Đ Lêvitov, sự bắt
chước có trí tuệ thể hiện sự độc đáo và tính cá nhân của trẻ. Khả năng bắt
chước của trẻ được các nhà giáo dục sử dụng làm cơ sở tâm lý của việc dạy
học ban đầu nhằm cung cấp cho trẻ những kỹ năng, kỹ xảo đầu tiên cần thiết
làm nền tảng cho hoạt động sáng tạo sau này.
Nh vậy hoạt động vẽ của trẻ vừa được coi nh một quá trình lĩnh hội các
kinh nghiệm xã hội, vừa được coi là một hoạt động mang tính sáng tạo nghệ
thuật.
1.3.3. Đặc điểm hoạt động vẽ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Hoạt động vẽ là một hoạt động quan trọng trong giai đoạn tuổi mẫu

Trong quá trình phát triển hoạt động vẽ ở trẻ em sẽ xuất hiện nhu cầu
sử dụng màu, bộc lộ hai xu hướng sử dụng màu.
Xu hướng thứ nhất: trẻ sử dụng màu một cách tuỳ tiện, tức là có thể
dùng bất kỳ màu nào để vẽ một đối tượng hay các bộ phận của nó mà thường
những màu này không phù hợp với màu của đối tượng. Ví dụ: trẻ vẽ mặt trời
màu xanh, mây màu đỏ; cá màu tím, vây cá màu vàng…
Xu hướng thứ hai: trẻ cố tô màu cho phù hợp với màu thực của đối
tượng. Vì vậy màu của đối tượng đơn điệu nên không thể hiện sắc thái của
màu. Trẻ vận dụng sự hiểu biết về màu qua lời nói của người lớn mà không
vận dụng tri giác riêng của mình.
Đặc điểm nổi bật ở các hình vẽ của trẻ là đã thể hiện thái độ của mình
một cách rõ ràng bằng cách tô các mầu rực rỡ những gì mình cho là đẹp.
Ngược lại có một số ý kiến của người lớn cho rằng: trẻ thể hiện thái độ của
mình với những nhân vật mình thích và không thích. Trẻ thường vẽ to, vẽ cẩn
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status