luận văn đại học sư phạm hà nội Vai trò, tác dụng của mô hình chăm sóc giáo dục Trẻ em mồ côi ở Làng SOS Vinh- Nghệ An trong những năm gần đây - Pdf 26

LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian làm việc khẩn trương, khóa luận tốt nghiệp “Vai trò,
tác dụng của mô hình chăm sóc, giáo dục Trẻ em mồ côi ở Làng SOS Vinh-
Nghệ An trong những năm gần đây” đã được hoàn thành.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, bên cạnh sự cố gắng, nỗ lực, phấn
đấu của bản thân, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình
của các thầy giáo, cô giáo, Làng SOS Vinh.
Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến thầy giáo
Hoàng Hinh người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp cho em những
lời khuyên, lời chỉ bảo quý báu trong suốt thời gian nghiên cứu khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Công tác Xã hội,
Làng Trẻ em SOS Vinh đã tạo điều kiện giúp đỡ em có được một môi trường
lành mạnh để học tập và rèn luyện đó chính là hành trang để em vững tin hơn
trên con đường sự nghiệp của mình.
Do thời gian, trình độ còn nhiều hạn chế nên khóa luận không thể tránh
khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy
giáo, cô giáo cùng các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2008
Sinh viên thực hiện
1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI cùng với sự phát triển năng động,
thần tốc, vũ bão của nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin. Nhân loại đang
được hưởng những thành tựu diệu kỳ từ các lĩnh vực khoa học như công nghệ
thông tin, khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học…nhưng những thành tựu đó
không phải ai cũng được hưởng như nhau?
Ngày nay đất nước chúng ta đã bước qua thời kỳ chiến tranh kéo dài
triền miên, giờ đây đang ra sức xây dựng công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội
nhập nền kinh tế thế giới, sánh vai cùng các cường quốc năm châu, dưới sự

phải kiên trì, bền bỉ…Vì tương lai con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi
ngành phaỉ có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”(Hồ Chí
Minh toàn tập, Nxb, CTQG, HN, 2003, t12, tr467-468).
Phát huy truyền thống tốt đẹp biết bao đời nay của dân tộc ta, ngày càng
có nhiều tổ chức, nhiều cơ quan đoàn thể, nhiều người dân đã và đang ra sức
cống hiến sức mình bằng nhiều hoạt động, nhiều chương trình như “Một trái
tim, một thế giới”, “Nối vòng tay nhân ái”…Hàng loạt các mô hình hỗ trợ trẻ
em trong và ngoài nước đã hình thành với mong muốn giúp đỡ các em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Bằng các mô hình tổ chức, với các chương trình
hoạt động và biện pháp khác nhau tác động vào đối tượng, mỗi mô hình lại có
những nét đặc thù riêng.
Ở đề tài này em tập trung vào đối tượng trẻ em mồ côi, bởi đây là vấn đề
mang tính toàn cầu, nó biểu hiện ở những mức độ khác nhau trong tất cả các
quốc gia trên thế giới. Ở quốc gia chậm phát triển, chiến tranh kéo dài thì số
lượng trẻ mồ côi, không nơi nương tựa, ngày càng lớn. Dù chiến tranh đã đi
3
qua nhưng ở đâu đó vẫn còn những hệ lụy của chiến tranh, sự đói nghèo trong
nhiều thập kỷ trước để lại, cùng với mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường,
hiện tượng trẻ mồ côi, không nơi nương tựa, không người thân là điều làm
cho xã hội lo ngại.
Không còn xa lạ gì đối với mỗi chúng ta khi nhắc đến tổ chức UNICEF
của tổ chức Liên Hợp Quốc, hay Làng trẻ em SOS một đại gia đình đang phát
triển mạnh mẽ, nhân rộng khắp nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam chúng
ta. Các mô hình chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
nói chung, trẻ em mồ côi nói riêng nhằm mục đích, mang ý nghĩa nhân đạo,
tính nhân văn và nhân bản hết sức cao cả “Tất cả vì thế giới trẻ thơ”.
Làng trẻ SOS du nhập vào nước ta từ năm 1967 và sau đó đã nhân rộng
đi khắp các tỉnh, thành trong cả nước. Làng trẻ em SOS Vinh là ngôi làng thứ
4 được xây dựng theo số QĐ 1525 QĐ-UB vào ngày 20/07/1989 của UBND
Nghệ Tĩnh.

Công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được những thành tựu trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội; trẻ em là thế
hệ tương lai của đất nước, trẻ em hôm nay thế giới ngày mai, ngày càng được
hưởng rất nhiều những điều kiện tốt đẹp và đầy đủ. Nhưng nhìn nhận một
cách thẳng thắn, khách quan thì chúng ta đang rất lo cho thế hệ trẻ hôm nay
và mai sau, chúng ta đang đặt câu hỏi: “rồi chúng sẽ như thế nào đây”? các
em đang phải gánh chịu nhiều áp lực từ cuộc sống hiện đại mà chủ yếu là về
mặt tinh thần, lối sống thưc dụng, gia đình truyền thống bị phá vỡ, lắm tệ nạn
rình rập…với trẻ em nói chung đã là một vấn đề nan giải, huống gì với các em
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Những văn bản, chính sách của Đảng và Nhà Nước ta đã tạo ra một môi
trường hành lang pháp lý, hành chính và chuẩn mực đạo đức xã hội phù hợp
đảm bảo cho các em được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, giúp các em vượt
qua được hoàn cảnh của bản thân, tránh xa cạm bẫy để vươn lên trở thành
5
những công dân có ích cho xã hội, cho đất nước.
Ưu tiên cho trẻ em và chăm sóc trẻ em một cách toàn diện đã trở thành tư
tưởng chỉ đạo của nhà nước ta dưới ánh sang tư tưởng Hồ Chí Minh và sự
lãnh đạo của Đảng trong hơn nửa thế kỷ qua. Dù còn là một nước nghèo
nhưng nước ta luôn được xếp trong danh sách là nước có nhiều thành tựu về
công tác chăm sóc giáo dục trẻ em. Thực hiện quyền trẻ em trong quá trình
chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta
đang tìm mọi biện pháp, nguồn lực để giảm thiểu những tác động của nền kinh
tế thị trường trong giai đoạn chuyển đổi, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân
tộc và tính ưu việt của xã hội chủ nghĩa, Việt Nam không chỉ hội nhập cộng
đồng quốc tế mà còn có những đóng góp kinh nghiệm quan trọng trong khu
vực và trên thế giới trong công tác bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Bước vào thế kỷ mới, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tư tưởng
Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo thành tựu và kinh nghiệm của thế giới hiện
đại về trẻ em và phát triển chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt

mồ côi giúp chúng ta hiểu hơn về đời sống, nguyện vọng của các em như:
Đề tài độc lập cấp Nhà Nước năm 2001 “nghiên cứu cơ sở lý luận và
thực tiễn để xây dựng và triển khai thực hiên chiến lược bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em đến năm 2010”của Tiến Sĩ: Trần Thị Thanh Thanh-Bộ trưởng
, chủ nhiệm UBDS-GĐ và trẻ em.
Đề tài nghiên cứu “Cơ chế nâng cao hiệu quả, giả quyết khiếu nại , tố
cáocủa UBDS-GĐ và trẻ em các cấp trong việc bảo vệ quyền trẻ em” của TS
Vũ Văn Cương.
Đề tài nghiên cứu trước đây và hiện nay đều tập trung chủ yếu ở các cơ
quan chức năng như: UBDS- GĐ và Trẻ em, hội lien hiệp phụ nữ, Đoàn
TNCS HCM.
Trong lĩnh vực báo chí cũng có nhiều bài viết về trẻ em mồ côi như:
“Những đứa trẻ trên chính quê nhà”, “Lớp học trên bãi rác”- báo phụ nữ
7
Thành phố Hồ Chí Minh. “Mái ấm gia đình”- báo Nghệ An.
Trong lĩnh vực xã hội học cũng có rất nhiều nghiên cứu về trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong đó có trẻ em mồ côi: “Đoàn thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh với việc chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn” của tác giả Đặng Cảnh Khanh; “Khả năng tái hòa nhập cộng
đồng xã hội và gia đình” của tác giả Nguyễn Văn Buồn.
Trên cơ sở vận dụng những kiến thức đã học và kế thừa những công trình
nghiên cứu của các tác giả. Đề tài: “Vai trò, tác dụng của mô hình chăm sóc,
giáo dục trẻ em mồ côi ở Làng SOS Vinh- Nghệ An trong những năm gần
đây” sẽ góp một tiếng nói chung vào lĩnh vực nghiên cứu trẻ em mồ côi trên
cơ sở tiếp cận từ ngành Công tác Xã hội.
3.Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
3.1. Ý nghĩa khoa học:
Đề tài nêu những quan điểm và cách tiếp cận mới về Công tác xã hội nói
chung và Công tác xã hội với trẻ em nói riêng.
Tác động về sự nhận thức của xã hội hóa công tác chăm sóc, giáo dục và

Vai trò, tác dụng của mô hình chăm sóc giáo dục trẻ em mồ côi ở Làng
SOS- Vinh- Nghệ An trong những năm gần đây.
5.2.Khách thể nghiên cứu.
Các mối quan hệ giữa Làng trẻ em SOS- Vinh với trẻ em mồ côi ở đây.
5.3.Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi không gian: Làng trẻ em SOS- Vinh đóng tại phường Hưng
Phúc- Thành phố Vinh- Nghệ An.
Phạm vi thời gian: Từ năm 2000- 2008.
6.Phương pháp nghiên cứu.
6.1.Phương pháp luận.
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và phương
9
pháp luận duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac- Lenin, khi nghiên cứu những
vấn đề xã hội phải nhìn nhận chúng một cách khách quan trong mối liên hệ và
sự vận động của chúng. Đồng thời phải có sự trừu tượng hóa, khái quát hóa
khi kết luận một vấn đề xã hội. Như vậy mới đảm bảo được tính khoa học,
tính khách quan của vấn đề nghiên cứu. Phếp biện chứng duy vật đòi hỏi nhìn
nhận các hiện tượng xã hội trong mối quan hẹ phụ thuộc lẫn nhau, tác động
qua lại với nhau, mội hiện tượng xã hội không tồn tại một cách độc lập. Do
vậy, khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội, các vấn đề xã hội cần đặt trong
môi trường xác định, trong sự tương tác giữa các hiện tượng hay vấn đề này
với các hiện tượng khác, các vấn đề khác.
Phép duy vật lịch sử yêu cầu nhìn nhận các sự vật, hiện tượng trong một
quá trình liên tục; các hiện tượng xã hội không tồn tại một cách bất biến mà
luôn luôn vận động, có sự ra đời, tồn tại, phát triển và tiêu vong, cací mới ra
đời ngày càng hoàn thiện hơn, phát triển cao hơn, nhưng ta không bài trừ, phủ
định nó đi mà dựa trên cơ sở đó ta phải có sự tiếp thu, chọn lọc, lĩnh hội. Do
đó khi nghiên cứu hiện tượng, các vấn đề xã hội cũng cần phải đặt trong một
quá trình, một giai đoạn lịch sử cụ thể nhất định.
Đồng thời đề tài còn dựa vào quan điểm và tư tưởng Hồ Chí Minh là đặt

côi và bối cảnh xã hội mà các em đang sống, đó là các em mồcôi thường có
tâm lý mặc cảm, tự ti, ngại tiếp xúc với những người xung quanh, hơn nữa
các em lại thiếu thốn về tình yêu thương của người cha, người mẹ, nên rất cần
được sự giúp đỡ của cộng đồng.
Đồng thời khi sử dụng phương pháp này vào đề tài nghiên cứu em cũng
vận dụng một số kỹ năng cơ bản của phươngpháp này như: kỹ năng giao tiếp,
kỹ năng vãng gia, kỹ năng quan sát, kỹ năng tham vấn để có những thông tin
chi tiết cần thiết làm nổi bật hiệu quả của vai trò, tác dụng cuả mô hình chăm
sóc, giáo dục này.
11
6.2.2. Phương pháp Công tác xã hội với cộng đồng:
Cộng đồng mà đề tài đề cập đến là cọng đồng trẻ em mồ côi đang rất cần
được sự chăm sóc, giáo dục, hỗ trợ các em khắc phục những trở ngại trong sự
phát triển nhân cách và hòa nhập cộng đồng, phát huy tối đa tiềm năng của
chính các em để tạo ra sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn.
Nguồn lực được huy động từ nhân dân, của toàn xã hội, các tổ chức phi
chính phủ…thông qua các chính sách, chương trình, dịch vụ.
Vai trò của nhân viên Công tác xã hội lúc này là hỗ trợ trẻ em mồ côi tìm
ra những nguyên nhân cản trở, khó khăn ảnh hưởng tới mô hình chăm sóc,
giáo dục trẻ em mồ côi ở đây, để từ đó tạo ra mối liên kết các em mồ côi hòa
nhậpvới cộng đồng, hội nhập với xã hội.
Vận dụng phương pháp này trong nghiên cứu đề tài em đã tiến hành thu
thập thông tin từ bản thân các em mồ côi ở đây, từ các mẹ, các dì, các cán bộ
nhân viên chức của Làng SOS Vinh.
6.2.3. Phương pháp phân tích tài liệu:
Đây là phương pháp sưu tầm và phân tích thông tin có sẵn trong các tài liệu
để rút ra những thông tin cần thiết nhằm phục vụ cho mục tiêu của đề tài nghiên
cứu. Tài liệu là nguồn thông tin để trả lời câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu.
Khi thực hiện đề tài này, em dựa vào Công ước quốc tế về quyền trẻ em,
những quy định về Luật bảo vệ chăm sóc, giáo dục, hòa nhập cộng đồng trẻ

đồng học hỏi từ người dân, bằng người dân, vì người dân. Nhằm thúc đẩy
người dân địa phương tự phân tích, tự lập kế hoạch và tự thực hiện kế hoạch.
Sử dung phương pháp PRA trong đề tài này em nhằm mục đích: dựa trên
kiến thức và năng lực cộng đồng Làng SOS- Vinh bởi kiến thức và kinh
nghiệm bản địa của Làng SOS- Vinh là nguồn lực cộng đồng, để hiểu tâm tư,
nguyện vọng, nhu cầu cũng như mô hình chăm sóc, giáo dục trẻ em mồ côi ở
Làng SOS- Vinh, để từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị phù hợp.
Bên cạnh đó em còn sử dụng một số kỹ năng của Công tác xã hội như:
13
6.2.7. Kỹ năng lắng nghe:
Đây là kỹ năng cơ bản và quan trọng của ngành công tác xã hội, giúp cho
mỗi nhân viên công tác xã hội hiểu hơn về thân chủ thong qua lời nói, cảm
nghĩ.
Kỹ năng này không chỉ nghe bằng thính giác mà còn nghe bằn cả khối
óc, con tim, nghe bằng tâm, khi nghe nhân viên công tác xã hội phải chú ý
đến những gì nói ra và những gì không nói ra, những gì đề xuất, nghe một
cách có chọn lọc.
Khi dung kỹ năng này có một vài trở ngại đối với việc lắng nghe tích cực
như: sự xao nhãng, tiếng ồn…nên cần sự am hiểu để thu thập thông tin có
hiệu quả.
6.2.8. Kỹ năng vấn đàm:
Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu em đã chủ động đi gặp các em ở Làng
SOS, các mẹ, các dì, cũng như các cán bộ nhân viên chức ở đây.
Nhằm thu thập thông tin từ chính các em, chia sẻ thông tin hoàn cảnh
cùng các em, khảo cứu và đánh giá vấn đề và tình huống liên quan, đưa ra sự
giúp đỡ cho các em.
6.2.9. Kỹ năng vãng gia:
Kỹ năng này nhằm giúp đề tài của em chính xác hơn, em có thể quan sát
được môi trường gia đình của các em, thấy được những tương tác nảy sinh
giữa các thành viên trong gia đình nhờđó mà em có thể suy ra thái độ và quan

Thứ 2: Vai trò là phương diện động lực của vị thế gắn với địa vị (gắn với
địa vị).
Thứ 3: vai trò như là tổ hợp kỳ vọng hướng tới chủ nhân của địa vị xã
hội (gắn với cá nhân).
Theo từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện- Nxb Thếgiới 1994:
“vai trò là tập hợp những ứng xử của mỗi cá nhân mà người khác chờ đợi
ở nó”.
Trong thực hành công tác xã hội, người ta thường xem xét vai trò ở nhiều
khía cạnh sau:
Mong đợi vai trò (Expectation): đó là cách xã hội quy định, quy ước về
vai trò, về điều mong đợi mà vai trò đó thực hiện.
Thể hiện vai trò (Role perforrmence): đó là cách con người thể hiện vai
trò của mình như thế nào.
16
Ý thức vai trò (Role conception): đó là những suy nghĩ của bản thân về
những gì mà người khác mong đợi ở họ.
Sự linh động về vai trò (Fexibility): sự cởi mở để thay đổi vai trò.
Sự mơ hồ về vai trò (Role ambiguity): đối tượng có vấn đề vì họ mơ hồ
về vai trò và về những điều mà họ đảm nhận.
Sự mâu thuẫn về vai trò (Role conflict): đối tượng không thể hoàn thành
cùng một lúc nhiều vai trò được vì những mong đợi ở những người xung
quanh của họ là khác nhau.
Khi có mâu thuẫn về vai trò thì có các phương cách giải quyết như sau:
1.Lờ đi hay trốn tránh.
2. Dung hòa.
3. Tự bỏ vai trò của mình luôn.
Tính không liên tục của vai trò là sự gián đoạn trong việc thực hiện vai
trò, gây nên cảm giác đau khổ cho đối tượng.
Áp lực về vai trò (Role strain): khi cá nhân phải thực hiện vai trò của
mình và vai trò của người khác cùng một lúc thì cá nhân đó cần thích nghi

động không đúng chức năng sẽ phải thay đổi thậm chí bị teo đi, hay phá sản
và hình thành bộ phận thay thế, bộ phận nào hoạt động có hiệu quả sẽ tưởng
thành và lớn mạnh.
Qua lý thuyết này, cho ta thấy Làng trẻ SOS Vinh là cơ quan chuyên
môn giúp Sở Lao động thương binh và xã hội thực hiện chức năng quản lý
hành chính nhà nước và giúp văn phòng điều hành SOS Việt Nam thực hiện
chức năng quản lý chuyên môn: chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, hướng
nghiệp cho trẻ em mồ côi không nơi nương tựa của hai tỉnh Nghệ An và Hà
Tĩnh. Để thực hiện tốtchức năng được giao phó, Làng trẻ SOS Vinh phải có
một hệ thống hoàn chỉnh và hợp lý.
18
1.1.3. Lý thuyết nhu cầu:
Theo chủ nghĩa Mac- Lenin: “nhu cầu là đòi hỏi kết quả của mỗi con người
trong những điều kiện nhất định, đảm bảo sự sống và phát triển của mình”.
Nhu cầu thể hiện sự đòi hỏi của cơ thể sống đối với môi trường bên
ngoài, thể hiện thành những ứng xử tìm kiếm, nếu không thì cơ thể thiếu
nhiều điều kiện để tồn tại (Tâm lý học xã hội, những vấn đề tâm lý- Nxb
Khoa học xã hội, 1997).
Tâm lý học coi “nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu của môi trường bên trong
và bên ngoài cơ thể, đặc biệt cho con người sống và phát triển trong những
điều kiện nhất định”.
Môi trường hành vi của con người đều do sự thúc đẩy nhu cầu nhất định,
nhu cầu được thỏa mãn thì con người cảm thấy hài long còn không được thỏa
mãn con người cảm thấy hụt hẫng và có những hành vi chống lại những trở
ngại trong công việc tìm kiếm nhu cầu. Nhu cầu là động lực thúc đẩy cá nhân
và nhóm xã hội hoạt động, phát triển.
Theo “thuyết nhu cầu” của Maslow, đã chia làm 5 mức nhu cầu:
1. Nhu cầu về vật chất.
2. Nhu cầu an sinh.
3. Nhu cầu sở hữu tình yêu

đặc biệt, cách giải thích có lý về hoàn cảnh bởi 1 người thứ 2 không đủ để gạt
bỏ những cảm nghĩ ấy. Sự giải thích hợp lý nhấn mạnh vào sự không thể
tránh được những lợi ích, sự nhất thời hoặc sự thiếu mất ý nghĩa của hoàn
cảnh. Bất cứ sự giải thích nào cũng không phải là sự giúp đỡ trực tiếp.
Khi những trở ngại ngăn cản sự đáp ứng cảm xúc, con người trải qua
kinh nghiệm sẽ không được thỏa mãn với những giải thích về các trở ngại, tuy
nhiênvới cách giải thích hợp lý thì được.
20
Mệnh đề 4: hành vi có mụch đích và đáp lại những nhu cầu vật chất và
tình cảm của cá nhân. Nhiều hành vi con người ó thể giải thích được miễn là
những nhu cầu vật chất và tình cảm có thể quan sát được. Nhưnh những nhu
cầu về tình cảm không dễ dàng biết được và vì thế nó không dễ dàng lập nên
mối liên hệ giữa nhu cầu và hành vi.
Ngụ ý của mệnh đề này là khi những nguyên nhân về hành vi của con
người không rõ ràng thì những nhân tố xã hội vàtìnhcảm có liên quan đến
hành vi phải được tìm hiểu và nhận diện trước khi đưa ra quyết định.
Mệnh đề 5: hành vi của người khác có thể biết được bằng vào khả năng
thấu hiểu tình cảm và trí tuệ của người ấy.
Kiến thức hấp thụ từ những dự liệu có sẵn về hành vi là kỹ năng có ích
trong tiến trình tìm hiểu một khả năng am hiểu cao về hành vi của thân chủ,
của đối tượng có thể nhờ vào một tâm hồn thoáng mở.
Như vậy, thong qua lý thuyết này ta có thể tìm hiểu căn sâu của những
hành vi chăm sóc, giáo dục trẻ em mồ côi ở Làng SOS Vinh như thế nào?.
1.2.Các khái niệm công cụ.
1.2.1.Khái niệm vai trò:
Theo lịch sử nghiên cứu xã hội học, chia vai trò ra làm 3 phương diện sau:
Thứ 1: Vai trò như mẫu hành vi (gắn với hành vi).
Thứ 2: Vai trò là phương diện động lực của vị thế với địa vị (gắn với địa vị).
Thứ 3: Vai trò như là tổ hợp kỳ vọng hướng tới chủ nhân của địa vị xã
hội (gắn với cá nhân).

Chăm sóc trẻ em là các hoạt động nhằm nhận biết và đáp ứng nhu cầu về
mặt vật chất và tinh thần để đảm bảo sự phát triển hài hòa về nhân cáh của trẻ
(nhu cầu về ăn mặc, học hành, vui chơi, giải trí của trẻ em, nhu cầu được gia
đính yêu thương chăm sóc, nhu cầu được tôn trọng)
22
Các hoạt động chăm sóc trẻ em chủ yếu bao gồm: chăm sóc về sức khỏe,
dinh dưỡng, về giáo dục, về đời sống văn hóa, thể thao vui chơi, giải trí.
Để thực hiện việc chăm sóc cần thường xuyên quan tâm, tìm hiểu nhu
cầu của trẻ em, đưa trẻ vào những hoạt động xã hội phù hộp, có đủ điều kiện
về vật chất, về các mối quan hệ bình đẳng như bao đứa trẻ bình thường, đáp
úng được nhu cầu phát triển theo từng lứa tuổi để từ đó tạo điều kiện phát
triển hài hòa về nhân cách.
1.2.5.Khái niệm giáo dục:
Theo từ điển tiếng Việt “Giáo dục được hiểu là những hoạt động nhằm
tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng
nào đó làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất, năng lực cần
thiết theo yêu cầu đặt ra”.
Theo quan điểm Xã hội học: Giáo dục là một :thiết chế xã hội”, chúng ta
có thể thấy chức năng của giáo dục là xã hội hóa cá nhân, nhằm nâng cao dân
trí, bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồn lực cho đất nước, nhờ thực hiện chức năng
này xã hội mới tái sản xuất nhân cách, tái sản xuất sức mạnh mang bản chất
con người.
Khái niệm “giáo dục” được sử dụng trong nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa hẹp: Sự dạy dỗ được hiểu là một quá trình tác động có định
hướng đến con người từ phía chủ thể giáo dục nhất định nhằm mục đích
truyền đạt hệ thống xác định của khái niệm, chuẩn mực, kinh nghiệm xã hội
từ các chủ thể giáo dục như nhà trường.
Theo nghĩa rộng “giáo dục” được hiểu là sự tác động đến con người của
toàn bộ hệ thống các mối quan hệ xã hội với mục đích chuyển tải các kinh
nghiệm xã hội. Do đó các cá nhân có thể thu nhận được các kinh nghiệm này

Theo điều 1 công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em “Trẻ em có
nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó
24
quan điểm tuổi thành niên sớm hơn”.
Căn cứ vào điều kiện cụ thể của nước ta, Luật bảo vệ chăm sóc và giáo
dục trẻ em (2004) xác định trẻ em là công dân dưới 16 tuổi.
Các luật khác như luật phổ cập giáo dục trung học, Bộ luật hình sự, Bộ
luật lao động, Bộ luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình…của nước ta đều có
nói đến những quan điểm liên quan đến việc xác định đối tượng trẻ em, xuất
phát từ đặc thù của từng ngành luật và căn cứ vào quyền lợi, nghĩa vụ tốt nhất
đến trẻ em.
1.2.7.Khái niệm trẻ em mồ côi:
Hiện nay khái niệm về trẻ em mô côi vẫn còn là một vấn đề gây nhiều
tranh luận, đã có nhiều ngành, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đưa ra những
cách hiểu khác nhau về khái niệm này nhưng phổ biến nhất là mồ côi thực tế
và mồ côi xã hội:
Mồ côi thực tế:
Là khi đứa trẻ chia ly vĩnh viễn vớí một người thân Cha hoặc Mẹ, do Cha
hoặc Mẹ bị chết, hoặc cả Cha và Mẹ đều bị chết.
Đây là một khái niệm mang tính hiển nhiên, những đứa trẻ mà Cha hoặc
mẹ, Cha và Mẹ mất đi vĩnh viễn không còn tồn tại, không còn người nuôi
dưỡng thì đều là trẻ mồ côi. Khái niệm này nhấn mạnh về mặt vật chất cũng
như mặt tinh thần. Để có thể phát triển hài hòa về thể chất, nhân cách, ngoài
việc trẻ được nuôi dưỡng về dinh dưỡng, chăm sóc về thân thể không ai khác
Cha Mẹ là người chăm sóc cho trẻ. Nhưng những đứa trẻ mồ côi trên thực tế
là những đứa trẻ hoàn toàn mất đi sự chăm sóc này.
Mồ côi xã hội:
Là một đứa trẻ bị đột ngột chia ly vĩnh viễn hoặc tạm thời trong một
thời gian dài với Cha hoặc Mẹ trong khi họ vẫn sống. Tuy Bố Mẹ còn sống ở
đâu đó nhưng họ vẫn không đủ tư cách, không còn đủ khả năng vật chất hoặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status