MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu sơ đồ
Lời mở đầu 1
Phần 1: Giới thiệu chung về công ty 2
1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển công ty 2
1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý trong công ty 5
1.3 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp 10
1.4 Kết quả sản xuất kinh doanh trong 5 năm (2003-2007) 13
Phần 2: Thực trạng công tác tính chi phí trong doanh nghiệp hiện nay 15
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tính CPKD trong doanh nghiệp 15
2.1.1 Qui định của nhà nước 15
2.1.2 Đặc điểm quản trị trong doanh nghiệp 16
2.1.3 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp 17
2.1.4 Trình độ đội ngũ kế toán 19
2.2 Thực trạng công tác tính chi phí hiện nay tại công ty 21
2.2.1 Thực trạng 21
2.2.1.1 Tính chi phí sử dụng nguyên vật liệu trực tiếp 22
2.2.1.2 Tính chi phí sử dụng nhân công trực tiếp 25
2.2.1.3 Tính chi phí sử dụng máy thi công 27
2.2.1.4 Tính chi phí sản xuất chung 32
2.2.2 Đánh giá thực trạng công tác tính chi phí hiện nay 36
2.2.3 Đề xuất mô hình tính CPKD theo điểm 38
2.2.3.1 Xây dựng các điểm chi phí 39
2.2.3.2 Tính, tập hợp, phân bổ và xây dựng bảng tính CPKD 40
2.2.3.3 Lợi ích từ mô hình 56
TĂNG THỊ HỒNG NHUNG CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Phần 3: Giải pháp triển khai mô hình tính CPKD mới 57
3.1 Định hướng phát triển của doanh nghiệp 57
3.2 Giải pháp triển khai mô hình tính CPKD trong doanh nghiệp 57
3.2.1 Nhóm giải pháp xây dựng mô hình 58
TSCĐ Tài sản cố định
iii
TĂNG THỊ HỒNG NHUNG CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỔ
Tên bảng và sơ đồ Trang
Bảng 1.1: Các kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong 5 năm (2003-2007)
12
Bảng 2.1: Trích bảng tổng hợp xuất kho vật tư
24
Bảng 2.2: Bảng thanh toán lương CT đường 84 tháng 9/2008
26
Bảng 2.3: Bảng thanh toán lương công nhân lái máy CT đường 84 tháng 9/2008
28
Bảng 2.4: Bảng tổng hợp chi phí thuê máy thi công CT đường 84
29
Bảng 2.5: Trích bảng phân bổ khấu hao TSCĐ theo CT đường 84
31
Bảng 2.6 Bảng thanh toán lương CT đường 84 (bộ phận chỉ huy)
33
Bảng 2.7: Tính giá thành CT đường 84
36
Bảng 2.8: Tổng hợp chi phí trong tháng 9/2008
36
Bảng 2.9: Tính toán CPKD sử dụng NVL chính tại CT đường 84
42
Bảng 2.10: Tính CPKD sử dụng TSCĐ tháng 9/2008
49
Bảng 2.11: Tính CPKD sử dụng vốn tháng 9/2008
52
Bảng 2.12: Bảng tính CPKD theo điểm cấp doanh nghiệp
thời gian thực tập ngắn nên báo cáo không tránh khỏi sai sót, rất mong sự đóng góp
ý kiến của thầy cô và các bạn để báo cáo được hoàn chỉnh hơn.
Kết cấu chuyên đề gồm 3 phần:
Phần 1: Giới thiệu chung về Công ty cổ phần quản lý và đầu tư xây dựng đường bộ
Hà Nội.
Phần 2:Thực trạng công tác tính chi phí trong doanh nghiệp hiện nay
Phần 3: Giải pháp triển khai mô hình tính CPKD mới trong doanh nghiệp
PHẦN 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY
1.1 SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN DOANH
NGHIỆP
Một số thông tin về doanh nghiệp
Tên doanh nghiệp: Công ty cổ phần quản lý và đầu tư xây dựng đường bộ
Hà Tây
Giám đốc công ty: ông Nguyễn Nghĩa Giang (Chủ tich hội đồng quản trị
kiêm giám đốc)
Địa chỉ: Km 0 + 300 quốc lộ 21 thuộc phường Quang Trung thành phố Sơn
Tây Hà Nội.
Tài khoản: 431 101 – 010 028 mở tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Sơn Tây Hà Nội, mã số thuế 05-00267457-1.
Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần quản lý và đầu tư xây dựng Hà Nội
là một công ty cổ phần có 51% vốn nhà nước trong đó:
+ Vốn điều lệ là 6.100.000.000 Việt Nam đồng được chia thành 610.000 phần
bằng nhau được gọi là cổ phần với mệnh giá 10.000/1 cổ phần.
+ Nhà nước chỉếm giữ 51% vốn điều lệ của công ty, chiếm 311.100 cổ phần,
tương đương 3.111.000.000 đồng (ba tỷ một trăm mười một triệu đồng chẵn);
còn 49% vốn điều lệ chiếm 298.900 cổ phần bán cho các nhà đầu tư phổ
thông và cổ phần ưu đãi bán cho người lao động trong công ty tương đương
2.989.000.000 đồng (hai tỷ chín trăm tám mươi chín triệu đồng chẵn).
Cơ sở pháp lý của doanh nghiệp: công ty được thành lập theo quyết định
đều được đảm bảo hài hòa.
Ngày 1/3/2009 công ty đổi tên thành Công ty cổ phần quản lý và đầu tư xây
dựng đường bộ Hà Nội.
Chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước có 231 cán bộ công nhân viên sang công
ty cổ phần, doanh nghiệp đã giải quyết cho 131 lao động nghỉ dôi dư và được Tổng
công ty kinh doanh vốn nhà nước hỗ trợ 4,3 tỷ đồng trợ cấp cho lao động dôi dư. Kể
từ ngày 1/3/2009 tổng số lao động còn lại trong danh sách công ty là 110 lao động, kế
thừa kết quả và thương hiệu của công ty trên địa bàn Sơn Tây cũng như trong khu vực
và nghành giao thông vận tải nói chung công ty đang hoạt động ngày càng đi lên.
Kể từ khi thành lập đến nay, công ty cổ phần quản lý và đầu tư xây dựng đường
bộ Hà Nội đã qua nhiều lần đổi tên song vẫn với nhiệm vụ là quản lý xây dựng và sửa
chữa cầu đường bộ, công ty luôn được bình chọn là đơn vị xuất sắc trong khối quản lý
giao thông của tỉnh, đã nhận được nhiều bằng khen và giấy khen cho những kết quả và
thành tích đạt được trong các năm đã qua như: năm 2001 nhận bằng khem của công
đoàn giao thông vận tải Việt Nam, năm 2002 đoạt giải nhất con đường đẹp Việt Nam
và nhận bằng khen của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, năm 2003 nhận bằng khen
của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Chức năng, nhiệm vụ và ngành nghề kinh doanh
Nhiệm vụ chức năng chủ yếu của công ty là quản lý duy tu, sửa chữa thường
xuyên và xây dựng các công trình giao thông đường bộ, đảm bảo an toàn giao thông
đường bộ khi có thiên tai địch họa xảy ra ở các tuyến đường quản lý.
Với nhiệm vụ quản lý và sửa chữa thường xuyên cầu đường là cơ bản, hiện nay
công ty đựoc giao quản lý sửa chữa 198km đường bộ và 36 chiếc cầu các loại thuộc
phía Bắc tỉnh Hà Tây cũ trong đó
Đường quốc lộ bao gồm:
Tuyến đường 32 và 21A tổng số 58km đường nhựa, bê tông nhựa
Các loại cầu:14 chiếc
Đường địa phương gồm 14 tuyến đường dài 140 km và 22 chiếc cầu
Bên cạnh đó công ty còn được phép tham gia sửa chữa và xây dựng các công
trình giao thông theo hợp đồng hay đơn đặt hàng.
Phòng
quản lý
giao thông
Phòng kế
toán tài vụ
Phòng kế
hoạch kỹ
thuật
Đội 2 Đội 3 Đội 4Đội 1
Các bộ phận trong doanh nghiệp có chức năng nhiệm vụ như sau:
Hội đồng quản trị (đại hội đồng cổ đông): bao gồm toàn bộ các cổ đông theo
qui định trong điều lệ, là nơi có quyết định cao nhất trong công ty. Các quyết định của
hội đồng quản trị được ban hành thông qua các nghị quyết về các vấn đề bầu, miễn
nhiệm thay thế hội đồng quản trị, ban kiểm soát. Hội đồng quản trị có quyền quyết
định tổ chức công ty dưới hình thức chia tách, sáp nhập, giải thể; quyết định sửa đổi
điều lệ tổ chức hoạt động của công ty.
Giám đốc kiêm chủ tịch hội đồng quản trị: là người quản lý công ty được bầu
từ hội đồng quản trị, là người có quyền hành cao nhất thực hiện các nhiệm vụ do hội
đồng thành viên góp vốn giao cho, chỉ huy tổ chức mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty. Giám đốc là đại diện hợp pháp của công ty chịu trách nhiệm với nhà nước,
cấp trên và toàn thể cán bộ công nhân viên về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty, đồng thời cũng là người đại diện chính thức về đối ngoại, trực tiếp chịu
trách nhiệm quan hệ với các cơ quan ban ngành cấp trên và với khách hàng, phụ trách
về phát triển khách hàng, tổ chức hành chính, tài chính kế toán, kí kết toàn bộ hợp
đồng và báo cáo, các công văn thư từ ra bên ngoài trừ những phần đã ủy nhiệm cho cán
bộ cấp dưới theo qui định cụ thể. Giám đốc cũng là người đề cử các chức vụ trong
công ty và quyết định thi đua khen thưởng, kỷ luật và là chủ tịch hội đồng tuyển dụng
nhân viên.
Các phó giám đốc: là người giúp việc cho giám đốc, có thể thay thế giám đốc
điều hành sản xuất, tổ chức sản xuất theo định mức kinh tế kỹ thuật, nghiên cứu kỹ
+ Phòng quản lý giao thông: có trách nhiệm theo dõi khối lượng công việc của
các độ duy tu thực hiện hàng ngày, cung cấp số liệu vật tư cần dùng cho các đội, kiểm
tra việc duy tu sửa chữa thường xuyên cầu đường bộ và an toàn giao thông.
+ Phòng tài vụ: chịu sự chỉ đạo trực tiếp của phó giám đốc nội chính về công
tác tài chính kế toán và thông tin kinh tế nội bộ doanh nghiệp, có chức năng quản lý và
chi phí tài chính của công ty cho quá trình sản xuất, hạch toán lên giá thành công trình,
hướng dẫn nghiệp vụ kế toán cho các đơn vị trực thuộc, kết hợp với các phòng ban
nghiệp vụ hoàn thành nhiệm vụ chung của công ty, tổ chức thực hiện ghi chép, xử lý
cung cấp số liệu về tình hình kinh tế tài chính, phân phối và giám sát các nguồn vốn
bằng tiền, bảo toàn và nâng cao hiệu đồng vốn, tham mưu với ban giám đốc xây dựng
qui chế quản lý và chi tiêu trong sản xuất, các chi phí tiết kiệm đúng qui định, phân bổ
vốn đầu tư đúng thời điểm và đúng qui định.
+ Các đội sản xuất: gồm đội công ty là các đội 1, 3 và 4 phụ trách quản lý duy
tu thường xuyên trong địa bàn quản lý của công ty và các công trình xây dựng cơ bản
do công ty đấu thầu khai thác ngoài, đội 2 là đội may thi công phục vụ lái xe máy thi
công cho các công trình.
Ngoài bộ máy quản lý công ty còn có ban kiểm soát là bộ phận độc lập do hội
đồng quản trị bầu ra trong số các cổ đông của công ty. Ban kiểm soát là đại diện của
các cổ đông được kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong công tác ghi chép sổ sách báo
cáo kế toán hàng quí hàng năm; có quyền kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý của
hội đồng quản trị về việc chấp hành điều lệ của công ty, thực hiện các nghị quyết của
hội đồng quản trị.
Hoạt động quản trị của doanh nghiệp nhìn chung khá đơn giản các cấp hoạt
động theo đúng chức năng nhiệm vụ của mình, các phòng ban trong công ty hầu như
không theo kế hoạch chiến lược nào mặc dù hàng năm công ty vẫn xây dựng những kế
hoạch cho năm sau nhưng các kế hoạch này rất ngắn hạn và chung chung không đề cập
đến các mục tiêu và cách thức hoàn thành mục tiêu một cách cụ thể. Đây là đặc trưng
diển hình của các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam hiện nay hoạt động sản xuất
kinh doanh không theo chiến lược dài hạn hoặc có nhưng rất ngắn hạn không thể hiện
tầm nhìn trong tương lai, hoạt động của doanh nghiệp chủ yếu cho các đơn vị chủ quản
phức tạp về kỹ thuật của công trình.
Qui mô sản xuất của doanh nghiệp hiện nay có 3 đội duy tu sửa chữa thường
xuyên đường bộ nằm trên các tuyến đường công ty quản lý và thi công các công trình
khai thác ngoài do công ty đấu thầu.
Ví dụ về sơ đồ dây chuyền sản xuất làm đường láng nhựa của công ty
Phá dỡ mặt đường cũ Rải đá 4*6 làm nền San phẳng
Lu chặt Đổ đá dăm Lu chặt Tưới nhựa đường
nóng chảy Phủ lớp đá mạt lên trên
Theo sơ đồ qui trình làm ra một con đường láng nhựa trên đòi hỏi các bước công
việc rất rõ ràng bao gồm phải phá bỏ mặt đường cũ, dọn sạch vật liệu bỏ đi sau đó
dùng máy san gạt đá bằng bề mặt đường cần làm rồi đưa máy lu lên đảm bảo độ chặt
(có nghiệm thu của bộ phận tư vấn giám sát từng phần công việc), tiếp đến đổ đá dăm
lên để lấp kín các lỗ hổng của nền đường, tiếp tục cho máy lu lu đến khi đạt độ phẳng
và độ chặt thì đun nhựa đường nóng chảy và tưới đều mặt đường, cuối cùng là rải đá
mạt lên trên để tạo độ nhám cho mặt đường, kết thúc là mời bên giao việc và các ban
ngành có liên quan đến hiện trường để nghiệm thu bàn giao công trình đưa vào sử
dụng.
Đặc biệt trong quá trình sản xuất con đường không thể thiếu các yếu tố đầu vào
quan trọng là nguyên nhiên liệu, máy móc thiết bị và nhân công.
Về nguyên, nhiên liệu: đòi hỏi phải sử dụng số lượng lớn nguyên vật liệu,
phong phú và đa dạng về chủng loại, quy cách mang những đặc điểm khác nhau.
Những loại vật liệu là sản phẩm của ngành công nghiệp như xi măng, sắt, thép, gạch,
…; vật liệu là sản phẩm của ngành khai thác được đưa vào sử dụng ngay không qua
chế biến như đất, cát, sỏi, đá,…; vật liệu phải nhập khẩu như nhựa đường, bê tông
nhựa,…; nhiên liệu cung cấp năng lượng cho quá trình sản xuất như xăng, củi, dầu,…
Về máy móc thiết bị: bao gồm các phương tiện vận tải như xe tải, ô tô,… để
vận chuyển nguyên vật liệu, lao đông đến chân công trình và các loại xe máy, thiết bị
thi công như máy ủi, máy xúc bánh xích gầu nghịch, máy xúc bánh lốp gầu nghịch,
máy lu bánh thép, máy san gạt,…
Về nhân công: là những người lao động của công ty bao gồm cả lao động
3. Tổng chi phí sản xuất 17.182.433 23.933.200 27.292.139 30.306.031 35.251.115
4. Lợi nhuận trước thuế 262.039 124.702 823.665 619.788 300.017
5. Thuế TNDN 73.371 24.941 230.626 173.541 83.940
6. Lợi nhuận sau thuế 188.668 99.761 593.039 446.247 216.077
(Nguồn: Phòng kế toán tài vụ)
Tuy nhiên đi kèm với tăng doanh thu thì tổng chi phí sản xuất trong doanh
nghiệp cũng tăng đáng kể, tăng 18.068.682.000 đồng tương đương 205,15% từ năm
2004 tới năm 2008. Biến động tăng tổng chi phí sản xuất chủ yếu là do sự tăng lên của
chi phí nguyên vật liệu chiếm tới 70% giá trị công trình và chi phí quản lý doanh
nghiệp trong giai đoạn 5 năm gần đây. Chính nguyên nhân này khiến cho lợi nhuận của
doanh nghiệp trong vòng 5 năm có tăng lên nhưng không đáng kể và lợi nhuận của
doanh nghiệp lên xuống biến động không ổn định, so với mức tỷ lệ lạm phát cao và
biến động nhiều về kinh tế như hiện nay thì mức lợi nhuận này chưa thực sự thuyết
phục. Lợi nhuận cao nhất đạt được vào năm 2006, đạt 593.039.000 đồng tăng
493.278.000 đồng tương đương 594,46% so với năm 2005, sự tăng lên đột biến này có
thể giải thích dựa trên giá trị sản lượng tăng cao đặc biệt là sản lượng khai thác ngoài
kết hợp với tổng chi phí sản xuất ở mức vừa phải. Tuy nhiên mức lợi nhuận này lại
giảm trong năm 2007 và xuống chỉ còn 216.007.000 đồng vào năm 2008 (giảm
36,42%), năm đầu tiên doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa, mức tăng không đáng kể
của doanh thu kết hợp với biến động mạnh về giá cả trên thị trường là 2 nguyên nhân
chính. Dự báo trong năm 2009 tình hình cũng không khả quan hơn do ảnh hưởng của
khủng hoảng tài chính toàn cầu, báo cáo tài chính quí đầu cho thấy doanh nghiệp đạt
doanh thu 3.101.434.853 đồng và mức lợi nhuận khá thấp, chỉ đạt 17.613.093 đồng.
PHẦN 2:THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TÍNH CHI PHÍ
TRONG DOANH NGHIỆP HIỆN NAY
2.1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC XÂY DỰNG MÔ
HÌNH TÍNH CHI PHÍ KINH DOANH (CPKD) THEO ĐIỂM TẠI CÔNG TY
2.1.1 Qui định của nhà nước
Khái niệm tính CPKD hay kế toán quản trị (KTQT) với các doanh nghiệp Việt
Nam nói chung và công ty cổ phần quản lý và đầu tư xây dựng đường bộ Hà Nội vẫn
khảo một số cơ sở pháp lý khác cũng phục vụ cho việc tổ chức tính CPKD như: quyết
định số 48/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài Chính ban hành ngày 14/9/1006 về việc ban
hành chế độ kế toán trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ; tài liệu tập huấn chế độ kế
toán doanh nghiệp vừa và nhỏ của vụ chế độ kế toán và kiểm toán năm 2006.
2.1.2 Đặc điểm quản trị trong doanh nghiệp
Với lịch sử thành lập khá lâu dài, trong vòng 30 năm qua tổ chức bộ máy quản
lý sản xuất của công ty đã có nhiều thay đổi đáng kể. Từ doanh nghiệp nhà nước
chuyển sang công ty cổ phần độc lập về vốn và có tài sản cố định cũng như mặt bằng
công ty hiện nay đã được định giá lại khi công ty chuyển sang hình thức cổ phần. Điều
hành hoạt động của công ty hiện nay là giám đốc kiêm chủ tich hội đồng quản trị do
hội đồng quản trị bầu ra; giám đốc cũng là người chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt
động của công ty, đại diện cho quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của công ty trước
đại hội đồng cổ đông và cơ quan quản lý luật pháp của Nhà nước.
Dựa trên mô hình về tổ chức bộ máy quản lý của công ty tại sơ đồ 1.1 (trang 6)
có thể thấy rõ bộ máy quản trị hiện nay của công ty tuân theo mô hình trực tuyến, khá
đơn giản và gọn nhẹ. Giúp việc cho giám đốc là phó giám đốc kĩ thuật phụ trách và
phó giám đốc nội chính, hai phó giám đốc phụ trách 4 phòng trong công ty bao gồm:
phòng hành chính tổng hợp, phòng quản lý giao thông, phòng kế toán tài vụ và phòng
kế hoạch kỹ thuật; ngoài ra trong công ty có 4 đội sản xuất riêng biệt do giám đốc trực
tiếp chỉ đạo và quản lý. Cơ cấu tổ chức của bộ máy quản trị như trên đảm bảo các chức
năng sản xuất, kinh doanh của từng bộ phận được xác định rõ ràng rất thuận tiện cho
việc xây dựng các điểm tính CPKD cho doanh nghiệp làm cơ sở cho việc xác định rõ
ranh giới giữa các điểm chi phí (ĐCP). Với mô hình quản trị này khi hình thành các
ĐCP trong doanh nghiệp sẽ đảm bảo làm sáng tỏ mối quan hệ tỷ lệ giữa CPKD phát
sinh và kết quả tạo ra ở ĐCP. Đồng thời đây là mô hình trực tuyến nên có thể dễ dàng
gắn ĐCP với trách nhiệm của từng cá nhân phụ trách. Tuy nhiên có một hạn chế tại mô
hình này đó là chức năng nhiệm vụ của các bộ phận nên được phân định rõ ràng hơn để
tránh sự chồng chéo trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ví dụ như nên phân cho một
phòng ban riêng phụ trách nguyên vật liệu và nhiên liệu vì trong ngành giao thông vận
tải chi phí này chiếm tỷ lệ khá cao; tránh tình trạng như hiện nay phòng kế hoạch kỹ
công trình
- Lập đồ án thiết kế: công tác thiết kế bao gồm thiết kế mặt bằng, thiết kế công
trình kỹ thuật hoặc hạng mục công trình, lập tổng dự toán công trình
- Thẩm tra và phê duyệt thiết kế tổng dự toán
- Chuẩn bị xây dựng: các công trình xây dựng chỉ được khởi công xây lắp khi chủ
đầu tư, tổ chức thiết kế, tổ chức xây lắp,… đã làm xong các công việc chuẩn bị xây
dựng. công tác chuẩn bị xây dựng bao gồm những công việc chủ yếu:
Chuẩn bị khu vực xây dựng: mặt bằng thi công các hạng mục công trình
phục vụ thi công trình phục vụ thi công xây lắp
Tổ chức xây lắp: các hợp đồng thi công
Tổ chức cung ứng vật tư: đàm phán và ký kết các hợp đồng mua bán, cung
ứng vật tư
Tiến hành thi công xây lắp
Quyết toán vốn đầu tư, nghiệm thu, bàn giao và thực hiện bảo hành sản
phẩm
Nhìn chung quy trình này tương đối ổn định và thích hợp cho việc xây dựng
những con đường hoặc cầu khác nhau theo yêu cầu của chủ đầu tư. Hơn nữa qui trình
công nghệ này cũng đảm bảo cho việc tập hợp chi phí để tính giá thành theo từng khâu
đơn giản hơn. Tuy nhiên mô hình này cũng có hạn chế đó là chưa chỉ rõ chức năng
nhiệm vụ của từng bộ phận trong từng khâu của qui trình, như vậy khi xây dựng mô
hình tính CPKD sẽ phải phân tách lại trách nhiệm trong từng khâu để từ đó có thể tập
hợp được chi phí theo từng điểm.
2.1.4 Trình độ đội ngũ kế toán
Phòng sản xuất kinh doanh kế toán tài vụ của công ty được tổ chức theo bộ máy
sản xuất kinh doanh kế toán tập trung. Theo hình thức thì toàn bộ công tác kế toán của
doanh nghiệp được thực hiện tại phòng kế toán,ở các đội trực thuộc đội sản xuất không
tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh kế toán riêng mà chỉ bố trí nhân viên thống kê đội
làm nhiệm vụ tập hợp chi phí ban đầu, thu thập kiểm tra chứng từ, định kỳ hàng tháng
nộp chứng từ về công ty qua các phòng kiểm tra như phòng tổ chức hành chính kiểm
tra như phòng tổ chức hành chính kiểm tra đối chiếu rồi chuyển sang phòng tài vụ và