SKKN Từ ngữ trong truyện ngắn Thạch Lam - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“TỪ NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN THẠCH LAM”
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thạch Lam là một nhà văn có vị trí đáng kể trong văn học Việt Nam giai đoạn
1932-1945. Là một trong những cây bút chủ chốt của Tự lực văn đoàn, nhưng ông đã
chọn cho mình một hướng riêng, hướng đi ấy thể hiện bản lĩnh, cá tính của một cây bút
giàu chất nhân văn và đậm tính dân tộc, một tâm hồn nhạy cảm, một văn phong trong
sáng và tinh tế. Thạch Lam không ưa sự ồn ào, hào nhoáng, mà thiên về kín đáo, bình dị.
Ông mơ tới một xã hội có nhiều “công bằng và thương yêu” và muốn đạt tới điều đó
không phải bằng hành động của một nhà cải cách xã hội mà bằng thiên chức của một nhà
văn thuần tuý, luôn khát khao vươn tới sự hoàn thiện của cái đẹp Chân - Thiện - Mỹ.
Thạch Lam đã sống một đời văn quá ngắn ngủi, nhưng những tác phẩm văn chương của
ông chắc chắn sẽ có sức sống dài lâu, bởi ở đó, độc giả không chỉ nhìn thấy những vẻ đẹp
hình thức, mà còn tìm thấy bóng dáng đời sống tinh thần, đời sống nội tâm phong phú
của chính mình.
1.2. Tuy sáng tác ở nhiều thể loại khác nhau, nhưng nhắc đến Thạch Lam, người ta
nghĩ ngay đến hai thể loại đã in đậm dấu ấn riêng ông trong sáng tạo là truyện ngắn và
tùy bút. Cùng với Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Thạch Lam đã tạo nên một dòng truyện ngắn
mang phong cách riêng: dòng truyện ngắn trữ tình, làm phong phú thêm diện mạo của
văn xuôi hiện đại nước nhà. Người ta xem Thạch Lam là một trong những bậc thầy của
truyện ngắn Việt Nam hiện đại.
1.3. Có nhiều con đường tiếp cận giá trị truyện ngắn của Thạch Lam. Nhà văn học
sử nhìn thấy vị trí của truyện ngắn Thạch Lam trong sự nghiệp của ông nói riêng và bức
tranh văn học Việt Nam hiện đại nói chung. Nhà lý luận văn học đánh giá những đóng
góp của Thạch Lam cho thi pháp thể loại Bên cạnh những phương pháp nghiên cứu
quen thuộc ấy, lối tiếp cận truyện ngắn Thạch Lam từ góc nhìn ngôn ngữ cũng là một
hướng đầy triển vọng thì việc tìm hiểu, đánh giá mặt hình thức, trong đó có ngôn ngữ của
một cây bút như Thạch Lam là việc làm cần thiết.
Thành công về mặt ngôn ngữ của một cây bút truyện ngắn có thể biểu hiện ở mọi

người đọc.
Thạch Lam bước vào văn đàn từ những năm 30 của thế kỷ, nhưng xuất hiện với tư
cách truyện ngắn từ thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939). Phong trào
quần chúng rộng rãi này có tác động hoàn toàn giống nhau đối với các cây bút văn xuôi
của nhóm Tự lực văn đoàn. Nhưng Thạch Lam không khẳng định mình bằng những tiểu
thuyết dài, Ông xuất hiện với phong cách truyện ngắn đặc sắc và tiêu biểu trong Tự lực
văn đoàn cũng như trong nền văn học Việt Nam, tính đến thời đại ông. Trong văn học
nước ta, các nhà phê bình thường đồng ý là Thạch Lam - cây bút tự lực đã đưa thể loại
truyện ngắn đến độ nghệ thuật cao hơn cả. Trước hết xét về mặt khối lượng tác phẩm,
truyện ngắn là thể loại được ông viết nhiều nhất trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của
mình.
Truyện ngắn cũng là thể loại thể hiện được phong cách ngôn ngữ trong sáng tác của
Thạch Lam. Phong cách ấy - như nhiều nhà nghiên cứu phê bình nhận xét - giàu tính trữ
tình, đậm chất thơ, không cầu kì, rườm rà, ngược lại, hết sức giản dị. Đặc biệt, ngôn ngữ
truyện ngắn Thạch Lam rất hiện đại. Hơn nửa thế kỉ đọc lại vẫn thấy mới mẻ như ngôn từ
nghệ thuật của ngày hôm nay.
2. Từ ngữ trong truyện ngắn Thạch Lam
2.1 Khái niệm từ
Cho đến nay, trong ngôn ngữ học, các định nghĩa về từ đã được đưa ra không ít.
Các định nghĩa ấy, ở mặt này hay mặt khác đều đúng nhưng đều không đủ và không bao
gồm hết được tất cả các sự kiện được coi là từ trong ngôn ngữ và ngay cả trong ngôn ngữ
cũng vậy. Chẳng hạn: Từ là một tổ hợp âm có nghĩa chăng? Từ là một tổ hợp các âm
phản ánh khái niệm chăng? Tất cả là những câu hỏi đã từng được đặt ra nhưng chưa có
câu trả lời xác đáng.
"Từ là đơn vị cụ thể của ngôn ngữ. Khi nói đến một ngôn ngữ là phải nghĩ ngay
đến từ vì ngôn ngữ mà không có từ thì không tồn tại được. Với tư cách là một công cụ
giao tiếp, trước hết, ngôn ngữ phải là một công cụ bằng từ".
"Từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, có ý nghĩa độc lập trong lời nói, nghĩa của nó
được vận dụng một cách tự do theo qui luật kết hợp của ngữ pháp".
Mặc dù chưa đạt được sự đồng thuận hoàn toàn, nhưng những cách hiểu về bản

Những trang văn tả thiên nhiên trong truyện ngắn của Thạch lam cảnh vật đựơc
hiện lên thật thuần khiết và sinh động. Ông đã phát hiện ra thiên nhiên, tâm trạng, “nó
thay đổi cùng với tâm trạng con người trong cuộc”. Trong truyện ngắn Thạch Lam, ta bắt
gặp những từ ngữ miêu tả cảnh ánh sáng và bóng tối xuất hiện nhiều lần, sự đối lập của
hai thứ ánh sáng này cũng đã góp phần tạo nên cái đặc sắc trong các thiên truyện.
Xét một cách tổng thể, vốn từ không phải chỉ là nhân tố tạo nên sắc thái riêng cho
truyện ngắn mà còn là thành tố tạo nên sự mới mẻ, hiện đại cho ngôn ngữ truyện ngắn
của Thạch Lam.
Lớp từ được dùng với tần số cao trong truyện ngắn Thạch Lam là lớp từ chung
hoặc là từ vựng toàn dân. Lớp từ này được sử dụng phần lớn ở tập truyện mà người viết
đi sâu khảo sát. Điều này không có gì đặc biệt. Bất cứ nhà văn nào, sống và viết trong
một thời đại cụ thể, vốn từ của anh ta sẽ là sự phản ánh khá trung thực từ vựng của toàn
dân. Nói cách khác, vốn từ của một nhà văn luôn có nét thống nhất với từ ngữ trong ngôn
ngữ văn hóa của thời đại. Trong toàn bộ truyện ngắn của Thạch Lam, lớp từ chung là
khối từ ngữ lớn nhất, đóng vai trò nền tảng. Ta bắt gặp trong các truyện ngắn của nhà
văn, những từ ngữ sách vở, từ ngữ thi ca, từ ngữ thông tục, từ ngữ sinh hoạt… của mọi
lớp người được ông miêu tả.
Từ ngữ nghề nghiệp cũng là lớp từ được dùng với tần số cao trong truyện ngắn
Thạch Lam. Từ nghề nghiệp là lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ được sử dụng phổ
biến trong phạm vi những người cùng làm một nghề nào đó. Trong tập truyện ngắn được
khảo sát, hầu hết lớp từ này đều được sử dụng để miêu tả nghề nghiệp của các nhân vật.
Chẳng hạn, nghề bán hàng nước của Liên, An với điếu, đóm, thuốc lào, nước chè…
trong Hai đứa trẻ; Đối với người viết văn xuôi, sử dụng từ nghề nghiệp một cách thông
thuộc là đòi hỏi tất yếu. Các nhân vật văn học bao giờ cũng xuất thân từ một tầng lớp nào
đó, mưu sinh bằng một nghề cụ thể nào đó. Khi miêu tả đời sống, số phận của nhân vật,
nhà văn phải thật am hiểu đặc điểm nghề nghiệp, lời ăn tiếng nói của nhân vật thuộc lớp
người nào, đặc biệt các từ ngữ được dùng trong các nghề cụ thể. Đây cũng là chỗ thử
thách vốn sống, vốn từ ngữ của người cầm bút.
Các lớp từ được dùng với tần số cao trong các tập truyện ngắn Thạch Lam chủ yếu
vẫn là lớp từ biểu hiện cuộc sống của người nghèo, đây cũng là lớp từ thể hiện được tâm

sát các truyện Bộ răng vàng, Người có quyền,). Thật khó mà nhận ra những dấu hiệu
riêng đặc sắc trong lớp từ ngữ chỉ sự vận động của con người trong truyện ngắn của Vũ
Trọng Phụng vì đó chỉ là những từ ngữ rất quen thuộc, không có gì đặc biệt, ai cũng có
thể dùng như thế.
So với Vũ Trọng Phụng thì lớp từ ngữ chỉ sự vận động trong truyện ngắn của
Thạch Lam xuất hiện thường xuyên là: vội vàng quay lại, tất tả chạy qua đường, đi lên
đây, về nhà, rảo bước, đến chơi, chạy khuất, thong thả bước, theo anh đến nhà, đi
bộ, quay đi, quay ra, đưa về. Qua đây, chúng ta dễ nhận thấy trong lớp từ ngữ chỉ
trường “vận động” của Thạch Lam khác hẳn với của Vũ Trọng Phụng . Nếu như trong
tác phẩm của Vũ Trọng Phụng lớp từ ngữ ấy thể hiện sự vận động của con người một
cách thuần tuý và chính xác là của thế giới nhân vật với những tính cách mạnh mẽ, từ
ngữ ấy cũng là những động từ có tính chất chuyển động nhanh, mạnh như: cuống cẳng,
hấp tấp chạy vào, cắm đầu cắm cổ đi, đi ra cho thoát, chạy trốn những từ ngữ này
dường như vắng bóng trong truyện ngắn của Thạch Lam. Lớp từ ngữ thể hiện sự vận
động của con người trong truyện ngắn của Thạch Lam đã thể hiện cho nét tính cách của
thế giới nhân vật mà ngòi bút Thạch Lam luôn hướng tới. Đó là những con người lao
động nghèo trong xã hội, họ di chuyển để tìm cho mình một tương lai, một cuộc sống tốt
đẹp hơn, mỗi bước đi của họ mang nặng những tâm tư, tình cảm như: lủi thủi trên
đường, rụt rè bước… Cái độc đáo của Thạch lam ở lớp từ ngữ này là ông đã đưa nó đạt
đến khả năng gợi nhiều hơn tả. Tác giả lựa chọn lớp từ ngữ này để làm nổi bật lối sống
giản dị, tuy nhiên con người trong tác phẩm của Thạch Lam phần suy nghĩ nhiều hơn
hành động. Chính vì thế tần số từ ngữ thể hiện sự suy nghĩ cũng xuất hiện rất cao trong
tác phẩm của ông.
2.2.2.2. Trường “cảm giác”
Là nhà văn có tâm hồn nhạy cảm, Thạch Lam thực sự có tài trong việc chuyển tải
những cảm xúc mơ hồ, khó gọi tên trong lòng người một cách tự nhiên và uyển chuyển:
“Thạch Lam có khả năng tái tạo những rung động tâm hồn con người nhiều khi chỉ khẽ
như cánh bướm non - cái khả năng ấy chỉ có thể có ở một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm cao
độ. Chính nhờ sức mạnh của trực giác, văn Thạch Lam trong sáng mà không đơn giản, đa
nghĩa mà vẫn tự nhiên” [28]. Đọc truyện của Thạch Lam, ta thấy có những cảm giác sâu

từ sự căm thù xã hội như Vũ Trọng Phụng hay một số nhà văn cùng thời khác.
Trong truyện của Thạch Lam, ta còn bắt gặp lớp từ ngữ thuộc một số trường khác
cũng rất nổi bật như: trường “ánh sáng” và trường “bóng tối”. Đây là hai tập hợp từ
được Thạch Lam chú ý và gửi gắm ý đồ nghệ thuật nhất định. Chí ít, nó thể hiện sự đối
lập giữa hiện thực tăm tối của cuộc sống con người và khát vọng tươi sáng ở tương lai.
Các trường từ vựng ngữ nghĩa tiêu biểu xuất hiện trong truyện ngắn của Thạch
Lam không phải là hiện tượng ngẫu nhiên. Trong ý thức nhà văn, những tập hợp từ được
sử dụng như vậy góp phần biểu đạt một cái nhìn, một quan niệm về đời sống, quan niệm
về cái đẹp của nghệ thuật văn chương. Và một khi các trường từ vựng ấy được tập hợp
theo phép hội tụ (nhiều từ cùng nghĩa hoặc gần nghĩa đồng thời được sử dụng) thì đó còn
là một dấu hiệu của một phong cách ngôn ngữ.
CHƯƠNG 2
TÍNH CHẤT NGHỆ THUẬT CỦA TỪ NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN THẠCH
LAM
2.1. Sự giản dị, trong sáng nhưng sâu lắng, thấm đậm tình người.
Lâu nay, các nhà ngôn ngữ học thường đề cập vấn đề giữ gìn sự trong sáng của
tiếng Việt, và sự trong sáng này phải được thể hiện ở các cấp độ, trước hết là từ ngữ. Đối
với các nhà văn, việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ là một nhiệm vụ cao cả, bởi
cách sử dụng từ ngữ của họ có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ và thói quen ngôn ngữ của
cộng đồng. Ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực từ các nhà văn, nhất là những nhà văn nổi
tiếng là hết sức rõ rệt.
Trong số những cây bút văn xuôi hiện đại, Thạch Lam là nhà văn có văn phong
trong sáng nhất. Một số nhà văn cùng thời với ông như Nguyễn Tuân, Vũ Bằng đã nhận
ra điều đó.
Tiếp cận từ nhiều khía cạnh, chúng ta dễ dàng nhận thấy, từ ngữ trong văn Thạch
Lam giản dị và trong sáng. Sự thật, Thạch Lam không cố tình dùng từ ngữ, câu văn đơn
giản nhưng nó lại đơn giản cả về văn lẫn cốt truyện. Trong văn Thạch Lam, ta thấy ông
rất chú trọng về sự thật, nên khi tiếp cận với vốn sống thực tại ông cũng chỉ xây dựng
những truyện giản dị, trong sáng, không thêm thắt, không tô điểm. Truyện ngắn của ông
được tổ chức gọn gàng, diễn tả uyển chuyển, tinh tế những diễn biến trong lòng người.

chuyện đều nhỏ nhặt, thông thường, thân mật với mỗi chúng ta. Thạch Lam đã khẳng
định sáng tác văn chương không phải để kể những chuyện thần tiên hay lãng mạn, mà là
cuộc sống kín đáo giản dị quanh mình, là kể về cuộc sống con người với nhiều lo toan,
vất vả, nhiều cạm bẫy, chông gai đang từng ngày vươn lên để tự hoàn thiện bản thân.
Sự giản dị và trong sáng thể hiện ngay trong cách lựa chọn đối tượng miêu tả. Chất
liệu làm nên những trang văn của ông không phải là phố xá hoa lệ, cảnh sắc mĩ miều, mà
là những khung cảnh giản dị nơi thôn quê yên bình. Không là những vĩ nhân hay những
người quyền quý sang trọng mà là những mảnh đời bình dị, đơn giản trong cuộc sống
vùng quê như: mẹ con chị Tý, chị em Liên và An, vợ chồng bác xẩm, bác phở Siêu,
bà cụ hàng nước, anh xe kéo Thạch Lam luôn tạo nên thứ cảm xúc tự nhiên và diễn
đạt bằng những từ ngữ cũng hết sức tự nhiên Đấy là chất liệu cũng là ngôn ngữ tạo dựng
nên phong cách giản dị của Thạch Lam. Hơn thế, giản dị và trong sáng ở Thạch Lam còn
được thể hiện ở tính cách nhân vật. Nhân vật của ông, nếu thống kê đầy đủ, hầu hết là
những người nghèo, những người nông dân họ sống đúng với “bản ngã” của mình.
Không nhiều nhà văn viết hay mà không hư cấu, với Thạch Lam sự trong sáng
trong cách thể hiện văn chương thật đặc sắc nhưng ẩn chứa nhiều giá trị nhân văn. chị em
Liên ngây thơ chờ những ánh sáng nơi đường tầu trong Hai đứa trẻ; Hơn thế, ở sắc thái
tình cảm đôi lứa, ta cũng nhận được sự nhẹ nhàng, trong sáng với cách thể hiện tình cảm
trong Cuốn sách bỏ quên. Sự trong sáng, giản dị được thể hiện dưới nhiều góc độ ở cách
biểu hiện cũng như ngôn từ thể hiện không lố bịch, không cầu kỳ, diêm dúa. Trong sáng
ở văn Thạch Lam là ngòi bút chân thực quan sát, nhìn nhận, mô tả và thể hiện bằng chính
cảm giác của mình.
Càng đi sâu, ta càng thấy Thạch Lam có một lối văn không thích lối dùng từ to tát,
không cố tỏ ra “uyên bác” đan dệt bởi những câu chữ mang tính sách vở. Thạch Lam
dùng “một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ Nho, một lối văn thật có tính cách An Nam”.
Những viên gạch dựng nên tác phẩm của ông là những viên gạch mộc, từ ngữ trong văn
của ông trong sáng, giản dị không quá nhiều những phương pháp tu từ.
Văn Thạch Lam giản dị mà nó không làm mất đi vẻ mềm mại, trong sáng, không
làm duyên một cách cứng nhắc, cầu kỳ mà tự nhiên, nhẹ nhàng nhưng đầy sức lan toả.
Văn của ông lột tả những cảnh đời số phận của người nông dân, những người chất phác

Thạch Lam hướng ngòi bút về phía người nghèo với lòng cảm thương sâu sắc, từ
đó gợi lên trong lòng người đọc niềm xúc động. Tình cảm chân thành mà nhà văn dành
cho người nghèo trong xã hội như Vu Gia nhận định, đối với những kẻ nhỏ bé, ông
không đứng ngoài để xem xét, thương hại, mơ tưởng những công trình cứu giúp to tát
như Nhất Linh, Khái Hưng hay Hoàng Đạo. Thạch Lam đi ngay vào cuộc sống của họ,
vỗ về, an ủi, nâng niu những niềm vui nhỏ bé hiếm hoi trong cuộc đời đầy eo hẹp ấy.
Thạch Lam đã từng quan niệm: “cái thực tài của nhà văn nguồn gốc chính là ở tâm
hồn nhà văn, một nghệ sĩ phải có một tâm hồn phong phú, những tình cảm dồi dào. Nếu
không, nghệ sĩ đó chỉ là thợ văn khéo thôi.” Ông đã lặng lẽ tự mổ xẻ mình để xây dựng
nên những con người sống động giữa cuộc đời thường. Và từ đó, ngôn ngữ trong truyện
ngắn Thạch Lam là thứ ngôn ngữ được hoà trộn giữa ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân
vật.
“Tâm thấy ngày nay cũng như mọi ngày, ngày kia cũng thế nữa, tất cả cuộc đời
nàng lúc nào cũng chịu khó và hết sức như tấm vải thô dệt đều nhau. Có phải đâu chỉ
mình cô; trong những luỹ tre xanh kia, bao nhiêu người cũng như cô, cũng phải chịu khó
và nhọc nhằn”
Trong sáng tác của mình, Thạch Lam đã thực sự trở thành người nghệ sỹ tài hoa
trong việc phát huy khả năng vô tận của ngôn ngữ, tạo dựng được một phong cách riêng,
độc đáo. Văn Thạch Lam được viết cách đây hơn nửa thế kỉ nhưng vẫn luôn tươi mới,
hiện đại.
Như mọi người đều biết, Thạch Lam, qua hầu hết các truyện ngắn của ông đã
chứng tỏ một nhà văn có lối viết dùng từ ngữ nhẹ nhàng, giản dị và tế nhị hiếm có. Ở
Thạch Lam, dường như không có những từ ngữ phức tạp, cồng kềnh, thô thiển, vênh
váo Xét trên phương diện cấu trúc, truyện Thạch Lam tiến gần hơn cả với truyện ngắn
hiện đại, hầu như truyện của ông không có cốt truyện hoặc cốt truyện đơn giản. Truyện
của ông cảm xúc nhiều hơn là hình thức truyện. Tiêu biểu là tác phẩm Hai đứa trẻ, toàn
truyện không có hành động phát triển xung đột, mà chỉ toàn là tâm trạng, một khoảng
không gian. Ở nhiều truyện khác, Thạch Lam chỉ xoay quanh một tình huống. Mỗi tình
huống lại thể hiện một cảnh đời tội nghiệp nào đó. Và đằng sau số phận, hoặc tâm lý
nhân vật được miêu tả, bao giờ người đọc cũng thấy thấp thoáng gương mặt của tác giả.

người.
3.2 Sự biểu hiện của chất thơ trong tác phẩm “Hai đứa trẻ”:
Trong truyện, Thạch Lam đã xây dựng được một thế giới hình ảnh vừa
chân thực, sinh động lại vừa vô cùng gợi cảm bởi chính vẻ đẹp của nó.
Quan niệm của Thạch Lam: "Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp
hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật bình thường".
Không gian được lựa chọn trong tác phẩm: Một phố huyện nghèo nơi tiếp giáp
giữa thành thị và thôn quê song dưới ngòi bút Thạch Lam dường như tính chất
làng đã nhiều hơn tính chất phố.
Trong không gian êm ả, tĩnh lặng của phố huyện, mỗi hình ảnh được ngòi bút
Thạch Lam gợi ra đều chan chứa chất thơ: Phương Tây "đỏ rực như lửa cháy",
đám mây "ánh hồng như hòn than sắp tàn", tiếng trống thu không "vang xa để
gọi buổi chiều", đêm mùa hạ "êm như nhung và thoảng qua gió mát", vòm trời
"hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh", những con đom đóm "bay là là trên
mặt đât hay len vào những cành cây", bóng bác phở Siêu "mênh mông ngả
xuống đất một vùng và kéo dài đến tận hàng rào hai bên ngõ"…Tất thảy đều là
những hình ảnh, màu sắc, âm thanh vô cùng quen thuộc, bình dị mà ngỡ như rất
mới mẻ, rất gợi cảm trong những câu văn Thạch Lam bởi nó không chỉ hiện
diện như một khái niệm mà như một trạng thái của sự sống đang xao động để
chuyển dần một cách tinh tế cái xao động ấy vào tâm hồn con người. Dưới ngòi
bút Thạch Lam, thậm chí đến cả rác rưởi của một phiên chợ quê cũng gợi nhớ
bao điều thân thuộc.
Thạch Lam ít dùng những chữ to tát, những nhịp điệu gấp gáp vội vàng,
lời văn của ông nhuần nhuyễn, tinh tế để phô diễn những trạng thái, những cảm
xúc trong tâm hồn. Câu văn của Thạch Lam nhiều thanh bằng gợi một nhịp điệu
chậm buồn nhưng có sức lan toả. Chẳng hạn khi miêu tả vẻ trầm buồn nhưng
cũng rất đỗi nên thơ của phố huyện, Thạch Lam đã viết: "Chiều, chiều rồi, một
chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo
gió nhẹ đưa vào…" Hay miêu tả cảnh đêm tối sau khi chuyến tàu đi qua: "Đêm
tối vẫn bao bọc xung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia đồng ruộng

ngữ trong tác phẩm tự sự và các hướng tiếp cận.
Có thể thấy, từ ngữ trong văn bản tự sự vẫy gọi nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nhà
từ vựng học thống kê vốn từ của nhà văn đặt chúng trong tương quan với vốn từ của toàn
dân ở một nhát cắt đồng đại để đưa ra nhận xét. Trên cở đó, luận văn đã mô tả vốn từ
trong truyện ngắn của nhà văn, ở đó, nổi bật là các lớp từ toàn dân, từ nghề nghiệp,…
Nhưng đáng nói hơn là các trường từ vựng - ngữ nghĩa tiêu biểu có mặt trong truyện ngắn
Thạch Lam. Đó là trường vận động, trường cảm giác, cảm xúc, trường đồ vật. Để thấy
được những nét riêng ở các trường từ vựng - ngữ nghĩa được khảo sát tiểu luận đã đối
sánh cách sử dụng từ của Thạch Lam với những nhà văn cùng thời như Vũ Trọng Phụng.
Tiểu luận cũng đề cập đến tính trong sáng, giản dị, tính mới mẻ hiện đại như là những
phẩm chất nghệ thuật của từ ngữ trong truyện Thạch Lam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Tuấn Anh (1994), "Nỗi buồn Thạch Lam - một tâm thế xã hội và nhân
văn", sách Thạch Lam về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.96-101.
2. Đỗ Hữu Châu (1973), “Khái niệm “trường” và việc nghiên cứu hệ thống từ
vựng”, Ngôn ngữ, (2), tr. 45-53.
3. Đỗ Hữu Châu (1997), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
4. Trần Ngọc Dung (1994), "Phong cách truyện ngắn Thạch Lam", sách
Thạch Lam - văn chương và cái đẹp, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên, 2004), Từ điển
thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. Nguyễn Đăng Mạnh (1996), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của một
nhà văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
7. Vương Trí Nhàn (1994), "Tìm vào nội tâm, tìm vào cảm giác", sách Thạch
Lam về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.102-108.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status