CHƯƠNG I :
CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ CHỨNG KHOÁN
VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. GIỚI THIỆU VỀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH.
.1.1. Bản chất và chức năng của thò trường tài chính
a) Bản chất của thò trường tài chính
Trong nền kinh tế, nhu cầu về vốn để đầu tư và các nguồn tiết kiệm có thể phát
sinh từ những chủ thể khác nhau trong nền kinh tế. Nhiều người có cơ hội để đầu tư thì
lại thiếu vốn, trái lại nhiều người có vốn nhàn rỗi lại không có cơ hội đầu tư. Do đó
hình thành một cơ chế chuyển đổi từ nguồn tiết kiệm sang đầu tư. Cơ chế đó được thực
hiện trong khuôn khổ thò trường tài chính. Những người thiếu vốn huy động vốn bằng
cách phát hành ra các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu… Những người có vốn
dư thừa, thay vì đầu tư vào máy móc thiết bò, nhà xưởng… để sản xuất hàng hoá hay
cung cấp dòch vụ, sẽ đầu tư vào các tài sản tài chính được phát hành bởi những người
cần huy động vốn.
Có nhiều đònh nghóa về thò trường tài chính. một số khái niệm như:
- Thò trường tài chính là nơi diễn ra các sự luân chuyển vốn từ những người có
vốn nhàn rỗi tới những người thiếu vốn.
1
- Thò trường tài chính là tổng hợp các mối quan hệ cung cầu về vốn, diễn ra dưới
hình thức vay mượn, mua bán về vốn, tiền tệ và các chứng từ có giá nhằm chuyển
dòch từ nơi cung cấp đến nơi có nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh tế.
2
Nói chung, xét về bản chất, thò trường tài chính là mối quan hệ kinh tế tổng hợp
của 05 thành tố:
Hàng hoá: Cổ phiếu, trái phiếu, các loại giấy tờ có giá…
Cung, cầu: Cung hàng hóa là lượng các loại hình hàng hoá mà tổ chức cần vốn
phát hành để huy động; Cầu hàng hoá là lượng vốn mà các các nhân hay tổ chức có
vốn nhàn rỗi mua các loại hoàng hoá của tổ chức phát hành.
Giá cả: Được hình thành theo quy luật cung cầu.
Phương thức giao dòch: Tuỳ theo mỗi loại hình mà có các hình thức giao dòch
sản phẩm tài chính.
Tạo tính thanh khoản cho tài sản tài chính
Thò trường tài chính tạo ra một cơ chế để các nhà đầu tư có thể bán tài sản tài
chính của mình. Chính nhờ đặc điểm này mà tạo cho các sản phẩm tài chính có tính
thanh khoản.
Giảm thiểu chi phí tìm kiếm và chi phí thông tin
Để cho các giao dòch có thể diễn ra, những người mua và những người bán cần
phải tìm được nhau, muốn thế họ cần phải tốn tiền và thời gian cho việc quảng cáo
nhu cầu của mình để tìm kiếm đối tác. Nhờ tính tập trung, khối lượng giao dòch và giá
trò giao dòch lớn, thông tin được cung cấp đầy đủ và nhanh chóng, thò trường tài chính
cho phép giảm thiểu những chi phí này.
Ổn đònh và điều hoà lưu thông tiền tệ.
Trang 2
Thông qua việc mua bán các trái phiếu chính phủ, tín phiếu chính phủ của ngân
hàng trung ương trên thò trường tài chính, chính phủ có thể bù đắp thâm hụt ngân sách
và kiểm soát lạm phát.
Ngân hàng trung ương cũng có thể mua bán ngoại tệ trên thò trường ngoại hối để
điều chỉnh lượng cung và cầu ngoại tệ nhằm giúp chính phủ ổn đònh tỷ giá.
.1.2. Cấu trúc thò trường tài chính
Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau, người ta có thể phân loại thò trường tài chính
theo nhiều cách thức khác nhau.
Căn cứ vào thời hạn luâân chuyển vốn, thò trường tài chính được chia thành thò
trường tiền tệ và thò trường vốn.
a) Thò trường tiền tệ
Là nơi các công cụ nợ ngắn hạn được mua bán với số lượng lớn. Các công cụ
ngắn hạn lưu hành trên thò trường tiền tệ là do Nhà nước, các ngân hàng, các công ty
lớn phát hành, có đặc điểm là tính thanh khoản cao và rủi ro không thanh toán thấp.
Các công cụ nợ của thò trường tiền tệ bao gồm các giấy tờ có giá ngắn hạn như thương
phiếu, kỳ phiếu thương mại, tín phiếu kho bạc, các cam kết mua lại, các loại chứng chỉ
tiền gửi có thể chuyển nhượng.
Hối phiếu: Là phiếu ghi nợ do người bán hàng trả chậm ký phát trao cho người
mua hàng trả chậm trong đó yêu cầu người mua phải trả một số tiền nhất đònh khi đến
hạn cho người bán hoặc bất cứ người nào xuất trình hối phiếu.
Lệnh phiếu: Là giấy ghi nhận nợ do mua hàng trả chậm ký phát trao cho người
bán hàng trả chậm trong đó người mua cam kết trả một số tiền nhất đònh khi đến hạn
cho người thụ hưởng.
Chứng chỉ lưu kho: Là giấy do một công ty kinh doanh kho bãi ký phát, thừa
nhận có giữ hàng hoá cho người chủ hàng ký gửi và cam kết giao hàng cho chủ hàng
hay một người nào đó do chủ hàng chỉ đònh bằng cách ký hậu.
Các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng: Là giấy chứng nhận về việc gửi
tiền và là một công cụ vay nợ của ngân hàng đối với người gửi tiền.
Chấp phiếu ngân hàng: Là giấy do một công ty phát hành, bảo đảm rằng một
ngân hàng sẽ thanh toán vô điều kiện một khoản tiền nhất đònh vào một thời điểm
nhất đònh trong tương lai cho người nắm giữ giấy này. Lãi suất của công cụ này tương
đối thấp do tính an toàn cao.
b) Các công cụ trên thò trường vốn.
Các công cụ trên thò trường vốn thường có thời hạn trên một năm bao gồm các
công cụ vốn và các công cụ nợ. Loại công cụ này có biến động giá mạnh, tính thanh
khoản thấp và thường khá rủi ro.
Các công cụ chủ yếu bao gồm:
Cổ phiếu: Giấy chứng nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với thu
nhập và tài sản của một công ty cổ phần do mình nắm giữ. Cổ phiếu bao gồm có
nhiều loại khác nhau như cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi
biếu quyết…
Trang 4
Trái phiếu: Là giấy chứng nhận việc vay vốn của một chủ thể đối với
một chủ thể khác. Có nhiều loại trái phiếu khác nhau như trái phiếu công ty, trái
phiếu chính phủ, trái phiếu đô thò, trái phiếu có thể chuyển đổi…
Các khoản tín dụng cầm cố: Là các khoản cho vay đối với các doanh
nghiệp hoặc các hộ gia đình để mua nhà ở, đất đai, bất động sản và dùng chính các tài
Các trung gian đầu tư tài chính bao gồm các công ty tài chính, quỹ tương hỗ và
quỹ tương hỗ thò trường tài chính.
Công ty tài chính: Là tổ chức huy động vốn bằng cách bán các thương
phiếu hoặc phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Sau đó, công ty sử dụng số vốn này cho
người tiêu dùng vay.
Quỹ tương hỗ: Là tổ chức huy động vốn bằng cách bán chứng chỉ quỹ
cho các cá nhân và dùng vốn đó để đầu tư vào danh mục cổ phiếu và trái phiếu.
Quỹ tương hỗ thò trường tiền tệ: Là tổ chức tài chính trung gian mang đặc
trưng của quỹ tương hỗ nhưng được phép mở tài khoản tiền gửi cho khách hàng.
1.2. CÁC KHÁI NIỆM VỀ CHỨNG KHOÁN, PHÂN LOẠI CHỨNG KHOÁN
1.2.1. Các khái niệm về chứng khoán:
Chứng khoán với tính chất là một công cụ huy động vốn trực tiếp , đồng thời là
hàng hoá của thò trường chứng khoán, chứng khoán hình thành gắn liền với quá trình
phát triển của nền kinh tế và nhu cầu giao dòch vốn.
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn, các công ty trực tiếp huy động vốn từ công
chúng, từ các công ty có vốn nhàn rỗi. Hình thức pháp lý xác lập qua vay mượn trên là
chứng thư.
Có nhiều đònh nghóa về chứng khoán và tuỳ theo sự phát triển của nền kinh tế,
chứng khoán cũng có những biểu hiện khác nhau.
Các tài liệu nghiên cứu của các nhà kinh tế, luật gia cho thấy sự xuất hiện chứng
khoán sớm hơn nhiều so với sự xuất hiện của thò trường chứng khoán, chứng khoán
không hẳn là sản phẩm của nền kinh tế thò trường mà nó là một công cụ của nền kinh
tế hàng hoá nói chung. Lúc đó khái niệm về chứng khoán được hiểu theo nghóa là các
chứng từ có giá, hoặc giấy tờ có giá, hoặc chứng từ thương mại…
Theo Các Mác chứng từ có giá là tiêu đề của sở hữu xác nhận dưới phương diện
pháp lý về một số vốn đầu tư hoặc là một lượng hàng hóa lưu thông
3
. C.Mác còn cho
rằng các chứng từ có giá này là những bản sao của nguồn vốn sống động được đảm
bảo về mặt pháp lý, quyền được nhận một phần giá trò thặng dư trong sản xuất.
4
Theo từ điển kinh tế do Phạm Đăng Bình và Nguyễn Đăng Lập biên soạn thì
“chứng khoán là những chứng từ mang lại lợi tức và các loại chứng từ khác được mua
bán ở Sở Giao dòch chứng khoán hoặc thò trường phi chính thức. Đặc điểm của chứng
khoán có thể bán được. Những loại chứng khoán bao gồm: chứng khoán có lãi suất cố
đònh và chứng khoán có lãi suất thay đổi”
5
.
Theo PGS.TS Lê Văn Tề biên soạn thì “ chứng khoán là một công cụ tài chính
phát sinh từ các công ty, tổ chức tài chính và chính phủ như là một phương tiện vay
tiền và tăng vốn mới. Các chứng khoán tài chính thường dùng nhất là cổ phần, cổ
phiếu, giấy nợ, hối phiếu, công khố phiếu và công trái. Mỗi khi được phát hành các
chứng khoán này có thể bán hay mua trên thò trường chứng khoán hoặc thò trường tiền
tệ”
6
.
Trong pháp luật chứng khoán Việt Nam, khái niệm chứng khoán lần đầu tiên
được chính thức quy đònh trong Nghò đònh số 48/1998NĐ-CP ngày 11/07/1998 của
4
Trang 11- Kỷ yếu đề tài NCKH cấp Bộ - TS. Nguyễn Thanh Bình
5
Trang 554 - Từ Điển kinh tế - Phạm Đăng Bình, Nguyễn Văn Lập biên dịch, NXB Giáo dục - 1995
6
Trang 312 - Từ điển kinh tế - PGS.TS Lê Văn Tề, NXB Chính Trị Quốc Gia - 1996
Trang 7
Chính phủ về chứng khoán và thò trường chứng khoán. Khái niệm này hầu như được
giữ nguyên khi Chính phủ ban hành Nghò Đònh số 144/2003/NĐ-CP của Chính phủ
ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thò trường chứng khoán thay thế nghò đònh số
48/1998/NĐ-CP.
Theo văn bản pháp luật này “chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác
Trang 8
Chứng khoán là hàng hoá của thò trường chứng khoán. Đó là những sản phẩm tài
chính vì nó mang lại thu nhập và khi cần người sở hữu nó có thể bán nó để thu tiền về.
Theo sự phát triển của thò trường, hàng hoá chứng khoán ngày càng phong phú, đa
dạng. Ta có thể chia chứng khoán thành các nhóm sau đây:
a. Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút
toán ghi sổ. Khi mua cổ phiếu người đầu tư trở thành chủ sở hữu đối với công ty. Là
chủ sở hữu các cổ đông cùng nhau chia sẽ mọi thành quả cũng như tổn thất trong quá
trình hoạt động của công ty. Khi công ty bò phá sản, cổ đông chỉ nhận được những gì
còn lại sau khi công ty đã trang trải xong các khoản nghóa vụ khác như thuế, nợ ngân
hàng, trái phiếu…. Cổ phiếu là công cụ không có thời hạn.
Cổ phiếu được phân thành các loại sau:
Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu điển hình nhất mà nếu công ty chỉ
được phép phát hành một loại cổ phiếu thì nó sẽ phát hành cổ phiếu phổ thông. Cổ
phiếu phổ thông mang lại cho người nắm giữ nó quyền hưởng cổ tức do hội đồng quản
trò quyết đònh thông qua đại hội đồng cổ đông. Mức cổ tức tuỳ thuộc vào tình hình hoạt
động công ty và chính sách của công ty nên nó không quy đònh mức tối thiểu hay tối
đa mà cổ đông nhận được.
Khi công ty phải thanh lý tài sản, cổ đông phổ thông là người cuối cùng được
nhận những gì còn lại sau khi công ty trang trải xong các nghóa vụ thuế, nợ và cổ
phiếu ưu đãi.
Khi công ty phát hành một đợt cổ phiếu mới để tăng vốn, các cổ đông nắm giữ
cổ phiếu phổ thông có quyền được mua trước cổ phiếu mới, trước khi đợt phát hành
được chào bán ra công chúng, trong thời hạn nhất đònh. Mỗi cổ phiếu phổ thông đang
nắm giữ mang lại cho cổ đông số lượng quyền cần có để mua một cổ phiếu mới sẽ
được quy đònh cụ thể trong từng đợt chào bán, cùng với giá mua, thời hạn của quyền
và ngày phát hành cổ phiếu mới.
Cổ đông phổ thông có quyền bầu cử và ứng cử vào các chức vụ quản lý trong
công ty, có quyền tham gia các đại hội cổ đông và bỏ phiếu quyết đònh các vấn đề
Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu có ghi tên và đòa chỉ của trái chủ,
trên chứng chỉ và trên sổ sách của người phát hành.
Trái phiếu chính phủ là trái phiếu do chính phủ phát hành.
Trái phiếu công ty là trái phiếu do các công ty phát hành để vay vốn dài hạn.
c. Chứng chỉ quỹ đầu tư
Là loại hình chứng khoán do công ty quản lý quỹ phát hành để huy động vốn.
Việc công ty huy động vốn có thể bằng cách phát hành cổ phần hay phát hành chứng
chỉ quỹ để bán cho nhà đầu tư. Tuy nhiên việc phát hành cổ phần sẽ pha loãng trong
việc quản lý quỹ do người nắm giữ cổ phần có đầy đủ các quyền do pháp luật quy
đònh, còn việc phát hành chứng chỉ quỹ thì khi người đầu tư nắm giữ chứng chỉ quỹ
không được quyền tham gia vào quá trình ra quyết đònh đầu tư của quỹ mà sẽ uỷ thác
Trang 10
việc quản lý quỹ cho công ty, quỹ đơn thuần là một khoản tiền và không có tư cách
pháp nhân.
d. Chứng khoán có thể chuyển đổi
Chứng khoán có thể chuyển đổi là loại chứng khoán cho phép người nắm giữ nó,
tuỳ theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất đònh, có thể đổi nó lấy một chứng
khoán khác.
e. Các loại chứng khoán phái sinh:
Quyền mua cổ phần là quyền được ưu tiên mua trước dành cho các cổ đông
hiện hữu của một công ty cổ phần được mua một số lượng cổ phần trong đợt phát hành
cổ phiếu phổ thông mới tương ứng với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty.
Chứng quyền là loại chứng khoán trao cho người nắm giữ nó quyền được
mua một số lượng xác đònh một loại chứng khoán khác, với một mức giá xác đònh và
trong một thời hạn nhất đònh.
Hợp đồng kỳ hạn là một thoả thuận trong đó một người mua và một người
bán chấp thuận thực hiện một giao dòch hàng hoá với khối lượng xác đònh, tại một
thời điểm xác đònh trong tương lai với một mức giá được ấn đònh vào ngày hôm nay.
Hợp đồng tương lai là một thoả thuận đòi hỏi một bên của hợp đồng sẽ mua
hoặc bán một hàng hoá nào đó tại một thời hạn xác đònh trong tương lai theo một mức
XVI một quan chức đại thần của Anh quốc đã đến quan sát và thiết lập một mậu dòch
thò trường tại London, nơi mà sau này được gọi là Sở giao dòch chứng khoán London.
Các mậu dòch thò trường khác cũng lần lượt được thành lập tại Pháp, Đức và Bắc Âu.
Sự phát triển thò trường ngày càng mạnh mẽ cả về lượng và chất với số thành
viên tham gia đông đảo và nhiều nội dung khác nhau, vì vậy theo tính chất tự nhiên nó
lại được phân ra nhiều thò trường khác nhau, với đặc tính riêng của từng thò trường
thuận lợi cho giao dòch của người tham gia trong đó.
Các phương thức giao dòch ban đầu được diễn ra ngoài trời với những ký hiệu
giao dòch bằng tay và có thư ký nhận lệnh cho khách hàng. Cho đến năm 1921, ở Mỹ,
khu chợ ngoài trời mới được chuyển vào trong nhà, Sở giao dòch chứng khoán chính
thức được thành lập.
Sự phát triển của thò trường chứng khoán càng ngày càng được cải tiến cho phù
hợp với tình hình phát triển của mỗi nước nhằm đem lại hiệu quả và chất lượng cho
giao dòch.
Lòch sử phát triển của thò trường chứng khoán thế giới trải qua những bước thăng
trầm lúc lên, lúc xuống. Vào những năm 1875 – 1913, thò trường chứng khoán thế giới
phát triển huy hoàng cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới lúc đó, nhưng
rồi đến ngày 29/10/1929 thò trường chứng khoán Tây Âu, Bắc Âu, và Nhật Bản đã
khủng hoảng. Mãi cho tới chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các thò trường mới dần
phục hồi và phát triển. Và tới năm 1987 một lần nữa thò trường chứng khoán thế giới
lại điên đảo do hệ thống thanh toán kém cỏi không đảm đương được yêu cầu giao
dòch, sụt giá chứng khoán mạnh, gây mất lòng tin và phản ứng dây chuyền mà hậu
quả của nó còn nặng hơn cuộc khủng hoảng năm 1929.
Trang 12
Và gần đây nhất năm 2007 – 2008 do cuộc khủng hoảng suy thoái kinh tế thò
trường chứng khoán các nước trên thế giới cũng tuột dốc mạnh mẽ, mãi cho tới giữa
năm 2009 khi nền kinh tế các nước có dấu hiệu phục hồi thì thò trường chứng khoán
cũng từng bước ổn đònh và tăng trưởng.
Cho đến nay, các nước trên thế giới đã có khoảng trên 160 sở giao dòch chứng
khoán phân tán trên khắp các châu lục, bao gồm cả các nước phát triển trong khu vực
nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ cũng như các tổ chức đầu tư tham gia góp phần tạo vốn cho sự
phát triển kinh tế.
Thứ hai: Cung cấp môi trường đầu tư đa dạng
Thò trường chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành
mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các chứng khoán trên thò trường có tính
chất, thời gian và mức độ rủi ro, tính thanh khoản khác nhau… Các nhà đầu tư tùy vào
điều kiện và đặc tính riêng của mình có thể lựa chọn các loại chứng khoán phù hợp
với khả năng, mục đích và sở thích của mình.
Thứ ba: Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Thông qua thò trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi các
chứng khoán mà họ nắm giữ thành các loại chứng khoán khác hay tiền mặt.
Thứ tư: Đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp
Thò trường chứng khoán hoạt động theo nguyên tắc công khai minh bạch nên các
chủ thể tham gia thò trường phải thường xuyên báo cáo kết quả kinh doanh và minh
bạch các hoạt động của mình. Chính vì vậy khuyến khích các doanh nghiệp hoạt đông
hiệu quả hơn.
Thứ năm: Điều tiết vó mô nền kinh tế
Thông qua thò trường chứng khoán, Chính phủ huy động vốn để thực hiện các
mục tiêu kinh tế – xã hội như đầu tư vào cơ sở hạ tầng, các ngành nghề, lónh vực của
nền kinh tế… và bù đắp cho các thâm hụt ngân sách hoặc điều tiết khối lượng tiền tệ
trong nền kinh tế để kiểm soát lạm phát. Qua thò trường, Chính phủ có thể kiểm soát
được nguồn vốn nước ngoài chảy vào trong nước ở những ngành nghề. Lónh vực nào,
trên cơ sở đó mà có biện pháp hoặc chính sách điều tiết kòp thời những tác động tiêu
cực có thể xảy ra. Không những thế, thò trường chứng khoán cũng góp phần vào tiến
trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại vốn trong nền kinh tế theo hướng
sử dụng có hiệu quả.
1.3.5. Nguyên tắc hoạt động của thò trường chứng khoán
a. Nguyên tắc cạnh tranh
Giá cả chứng khoán phản ánh cung cầu về loại chứng khoán đó và mối tương
quan cạnh tranh giữa các công ty. Giá cả trên thò trường chứng khoán được hình thành
chủ hoặc những tờ hóa đơn giao hàng từ những chuyến tàu cặp bến từ bên kia Đại Tây
Dương đến. Đơn vò quốc tế giao dòch lúc đó là những thỏi bạc, khi cần thiết thỏi bạc
được cắt ra thành một nữa, một phần tư, hoặc một phần tám gọi là doubloons để mua
hàng. Đó là lý do tại sao thông lệ buôn bán chứng khoán theo lối lẻ là 1/2, 1/4, 1/8,
1/16…được lưu truyền mãi cho đến tận năm 2001 mới được chính thức đổi theo hệ
thống thập phân như bây giờ.
Mùa xuân năm 1792, 24 người đầu tiên đã ngồi lại với nhau tại bến cảng để ký
kết một bản thoả ước đầu tiên làm nền tảng cho New York Stock Exchange (NYSE)
sau này. Bản thoả ước này được hình thành dưới một gốc cây bồ đào tại đòa chỉ sau
Trang 15
này là số 68 Wall Street. Họ thống nhất một hình thức giá cả lệ phí trao đổi chung và
cố đònh, một chính sách đã được áp dụng mãi cho tới năm 1975.
Năm 1800 nhóm NYSE này dọn vào đòa chỉ số 40 Wall Street, cho đến năm 1963
thì dọn về đòa điểm hiện nay là số 11 đường Wall Street, New York.
Năm 1971, NYSE được cổ phần hóa thành một doanh nghiệp phi lợi nhuận và
hoạt động nhằm mục đích vì lợi ích của nhà đầu tư nói chung và để hổ trợ cho sự phát
triển kinh tế Hoa Kỳ nói riêng.
Vào thời kỳ Cách mạng kỹ nghệ, hoạt động Wall Street bùng nổ với đủ loại
chứng khoán của các ngành nghề khác nhau, làm cho hoạt động của NYSE bò quá tải,
và tất yếu nhóm NYSE chỉ chọn lấy những chứng khoán nào tốt nhất mà thôi. Điều
kiện để giao dòch tại NYSE khó khăn hơn, và vì vậy phần chứng khoán còn lại bò các
nhà buôn giao dòch ngay ngoài đường phố và thậm chí trao đổi ngay trên vỉa hè. Các
nhà buôn này gọi là “Curbstone brokers” và chợ trời vóa hè được mệnh danh là “The
curb”.
Vào đầu thế kỷ 20, the curb phát triển mạnh đến nỗi các nhà buôn phải thuê
mướn văn phòng tại ngay chính con đường đó. Vào đầu thập niêm 1920, thò trường the
curb được dời hẳn vào trong ở một chổ tốt hơn là số 86 Trinity Place, Manhattan. Đòa
chỉ này vẫn được giữ cho tới ngày nay và trụ sở được đổi tên thành American Stock
Exchange (AMEX) là thò trường lớn thứ hai của Hoa Kỳ sau NYSE.
Khi các thò trường tập trung (market places or exchanges) cũng không đáp ứng
lượng chứng khoán hạn chế và các giao dòch đầu cơ của các công ty chứng khoán là
hoạt động đặc trưng, thò trường chứng khoán chưa phát huy tác dụng là kênh huy động
vốn dài hạn cho nền kinh tế. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu giai đoạn 1929 –
1933, điều này đã khiến cho thò trường chứng khoán Nhật Bản rơi vào thời kỳ đen tối
và đến năm 1945 việc giao dòch chứng khoán bò đình trệ.
Năm 1948, Nhật Bản ban hành Luật chứng khoán và giao dòch chứng khoán và
đến năm 1949 thò trường chứng khoán hoạt động trở lại. Giai đoạn 1955 – 1961, thò
trường chứng khoán Nhật Bản có những bước phát triển mạnh mẽ trên cơ sở kinh tế
phục hồi và hệ thống pháp luật về chứng khoán ổn đònh.
Năm 1971, Nhật Bản ban hành Luật các công ty chứng khoán nước ngoài, điều
này rộng đường cho việc quốc tế hóa thò trường chứng khoán. Bắt đầu từ những năm
1984, thò trường chứng khoán Nhật Bản có những bước phát triển vượt bậc do chính
sách tự do hóa và quốc tế hóa thò trường chứng khoán, cho phép các công ty chứng
khoán nước ngoài (16 công ty) tham gia với tư cách thành viên Sở giao dòch chứng
khoán.
Năm 1992, Nhật Bản sửa đổi Luật chứng khoán và giao dòch chứng khoán. Ủy
ban giám sát chứng khoán và giao dòch chứng khoán được thành lập nhằm thực thi tính
công bằng trong giao dòch chứng khoán và tăng cường tính tự quản của Hiệp hội kinh
doanh chứng khoán.
Các cơ quan quản lý hoạt động thò trường chứng khoán Nhật Bản bao gồm: Bộ
Tài chính, Tổng cục chứng khoán, Ủy ban giám sát chứng khoán và giao dòch chứng
khoán, Sở giao dòch chứng khoán.
2.1.3. Thò trường chứng khoán Hàn Quốc
Thò trường chứng khoán Hàn Quốc được thành lập vào năm 1956, ban đầu với sự
góp mặt của 12 công ty niêm yết và một lượng trái phiếu Chính phủ, trong đó trái
Trang 17
phiếu Chính phủ được giao dòch sôi động nhất. Đến đầu năm 1962, Hàn Quốc ban
hành Luật giao dòch chứng khoán với mục tiêu thúc đẩy thò trường chứng khoán tăng
trưởng nhanh chóng. Một năm sau, Luật giao dòch chứng khoán được sửa đổi và việc
tổ chức lại mô hình Sở giao dòch chứng khoán từ hình thức công ty cổ phần trở thành
Năm 1970, giáo sư Robbins, người được chính phủ Thái Lan thuê làm cố vấn đưa ra
báo cáo toàn diện mang tên “Thò trường vốn Thái Lan”. Báo cáo này trở thành một kế
hoạch tổng thể cho sự phát triển trong tương lai của thò trường vốn Thái Lan.
Năm 1972, chính phủ Thái Lan đã sửa đổi một số điều của Luật kiểm soát các
giao dòch thương mại có ảnh hưởng đến lợi ích công cộng. Sự thay đổi này đã giúp
chính phủ kiểm soát hoạt động của các công ty tài chính và chứng khoán, mà cho tới
thời điểm đó hoạt động rất tự do. Tiếp theo sự sửa đổi này, tháng 5/1974, Sở giao dòch
chứng khoán Thái Lan được thành lập, gọi tắt là SET. Sau đó nữa là sự sửa đổi về đạo
luật cho phép đầu tư những khoản tiết kiệm vào thò trường vốn. Vào năm 1975, khung
pháp lý đã được hoàn thành và vào ngày 30/04/1975 SET chính thức giao dòch.
Kể từ năm 1986, Sở giao dòch chứng khoán Thái Lan phát triển mạnh và đạt hiệu
quả cao. Giai đoạn từ năm1962 đến năm 1986, Sở giao dòch chứng khoán Thái Lan
chòu sự quản lý và giám sát song song của hai cơ quan là Ngân hàng Trung ương và
Bộ Tài chính. Năm 1992, Uỷ ban chứng khoán – cơ quan quản lý trực tiếp thò trường
chứng khoán Thái Lan mới được thành lập.
SETINDEX tăng theo thời gian và có lúc đã đạt 1.800 điểm vào năm 1993-1994
rồi tụt xuống còn khoảng 250 khi xảy ra khủng hoảng tài chính châu Á năm 1998.
Năm 1997, thò trường bất động sản Thái Lan bò vỡ, một số thể chế tài chính phá sản
và người dân không còn tin vào khả năng giữ tỷ giá hối đoái cố đònh của chính phủ,
giới đầu cơ bắt đầu tấn công đồng Balt khiến các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút
vốn ra, khiến cho Thái Lan rơi vào cuộc khủng hoảng tài chính toàn diện do mất khả
năng trả nợ nước ngoài, thò trường chứng khoán Thái Lan rơi xuống mức thấp nhất.
Sau khi nhận hai gói cứu trợ trò giá 19.9 tỷ USD từ IMF, Thái Lan đã tự vạch ra các
chính sách nhằm tái xây dựng lại nền kinh tế và thò trường tài chính.
Sau giai đoạn khủng hoảng, SETINDEX dần dần phục hồi và ổn đònh trở lại. Tuy
nhiên, từ tháng 04/2008 đến nay, SETINDEX lại giảm mạnh do ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tín dụng trên toàn thế giới.
Trang 19
2.2. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.2.1. Sự hình thành và phát triển của thò trường chứng khoán Việt Nam
khoán, làm tiền đề cho sự ra đời của cơ quan quản lý nhà nước với chức năng hoàn
chỉnh và đầy đủ hơn.
Ngày 28/11/1996 theo Nghò đònh số 75/CP của Chính phủ, Uỷ ban Chứng khoán
Nhà nước (UBCKNN) được thành lập, là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức
năng tổ chức và quản lý Nhà nước về chứng khoán và thò trường chứng khoán. Việc
thành lập cơ quan quản lý thò trường chứng khoán trước khi thò trường ra đời là bước đi
Trang 20
phù hợp với chủ trương xây dựng và phát triển thò trường chứng khoán ở Việt Nam, có
ý nghóa quyết đònh cho sự ra đời của thò trường chứng khoán sau đó hơn ba năm.
Với vò thế là cơ quan quản lý chuyên ngành về chứng khoán và thò trường chứng
khoán, UBCKNN có vai trò rất quan trọng trong việc trong việc chuẩn bò các điều
kiện cho sự ra đời của thò trường chứng khoán. Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ,
UBCKNN tập trung xây dựng khuôn khổ pháp lý cho thò trường chứng khoán, xây
dựng hệ thống giao dòch ban đầu cho Trung tâm giao dòch Chứng khoán TP. HCM,
phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng đề án thành lập công ty chứng khoán và hướng
dẫn các doanh nghiệp lập hồ sơ niêm yết; tổ chức đào tạo cán bộ của UBCKNN cũng
như các nhân viên hành nghề của các công ty chứng khoán…
Ngày 05/12/1997 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết đònh số 1038/1997/QĐ-TTG
thành lập Trung tâm Nghiên cứu và bồi dưỡng nghiệp vụ về chứng khoán và thò
trường chứng khoán nay là Trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo chứng khoán.
Bước đi quan trọng này là tiền đề để đào tạo các kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ
về chứng khoán để từng bước chuẩn bò cho sự ra đời của thò trường và sự phát triển
của thò trường trong tương lai.
Với nỗ lực và quyết tâm cao của Chính phủ, ngày 20/07/2000, Trung tâm giao
dòch chứng khoán TP. HCM đã chính thức khai trương và đi vào hoạt động với phiên
giao dòch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 ban đầu chỉ với 04 công ty chứng khoán thành
viên và 02 công ty niêm yết với giá trò cổ phiếu niêm yết là 270 tỷ đồng.
Ngày 08/03/2005 Trung tâm giao dòch chứng khoán Hà Nội chính thức khai
trương đi vào hoạt động, đánh dấu bước phát triển mới của của thò trường chứng khoán
Việt Nam. Các nội dung hoạt động chính trong giai đoạn đầu là tổ chức đấu giá cổ
TRƯỜNG SƠ
CẤP
CHÀO BÁN
CHỨNG
KHOÁN
SỞ GIAO
DỊCH
CHỨNG
KHOÁN
HOẠT ĐỘNG
TRÊN THỊ
TRƯỜNG THỨ
CẤP
THỊ
TRƯỜNG
CHỨNG
KHOÁN
PHI TẬP
TRUNG
BÁO GIÁ
VÀ THOẢ
THUẬN
NIÊM
YẾT VÀ
KHỚP
LỆNH
CHÀO
BÁN RA
CÔNG
CHÚNG
VỐN
DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC
CHỨNG KHOÁN VỐN
vô cùng lớn đối với lãi suất thò trường, nên việc phát hành trái phiếu sẽ ảnh hưởng đến
khả năng tiết kiệm, đầu tư và tổng cung tiền tệ của nền kinh tế.
Thứ ba: Đối với các doanh nghiệp
Thò trường sơ cấp là kênh huy động vốn linh hoạt và có hiệu quả hơn nhiều các
hình huy động vốn khác. Vì đây là nguồn vốn dài hạn và ổn đònh, các doanh nghiệp
không phải quá lo lắng về thời gian hoàn trả như khi đi vay vốn ngân hàng.
Ngược lại, khi doanh nghiệp ở tình trạng dư thừa vốn nhưng chưa có cơ hội sản
xuất kinh doanh, các doanh nghiệp có thể mua chứng khoán như là một tài sản kinh
doanh và các chứng khoán này có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt. Qua cơ chế
quản lý của thò trường sẽ giúp cho doanh nghiệp chuyên nghiệp hơn và hoạt động có
hiệu quả hơn trong thời đại kinh tế thò trường.
Các chủ thể tham gia thò trường là các tổ chức huy động vốn bằng cách phát hành
chứng khoán rộng rãi cho nhà đầu tư đó là Chính phủ, các doanh nghiệp và quỹ đầu tư.
a.3 Các phương thức phát hành chứng khoán.
Có hai hình thức phát hành chứng khoán trên thò trường sơ cấp. Đó là phát hành
riêng lẻ và phát hành ra công chúng.
Thứ nhất: Phát hành riêng lẻ là việc phát hành trong đó chứng khoán được bán
trong phạm vi một số người nhất đònh (thông thường cho các nhà đầu tư có tổ chức),
với những điều kiện hạn chế và không tiến hành một cách rộng rãi ra công chúng.
Công ty thường lựa chọn phát hành riêng lẻ bởi một số nguyên nhân sau:
Công ty không đủ tiêu chuẩn để phát hành ra công chúng.
Số lượng vốn cần huy động thấp
Công ty phát hành cổ phiếu nhằm mục đích duy trì các mối quan hệ công ty.
Phát hành cho cán bộ công nhân viên chức của công ty.
Thứ hai: Phát hành ra công chúng là bán chứng khoán rộng rãi cho một số lượng
lớn công chúng đầu tư, trong đó một tỷ lệ nhất đònh chứng khoán phải được phân phối
hành, không thu hút thêm được nguồn tài chính mới. Thò trường thứ cấp đóng vai trò
làm tăng tính thanh khoản cho các chứng khoán.
Đặc điểm của thò trường thứ cấp:
- Trên thò trường thứ cấp, vốn giữa các nhà đầu tư với nhau
- Giá chứng khoán trên thò trường thứ cấp do cung cầu về chứng khoán quyết đònh.
Vai trò của thò trường thứ cấp:
- Tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán
- Góp phần ổn đònh và phát triển thò trường sơ cấp
- Xác đònh giá trò của công ty niêm yết, nâng cao vò thế của doanh nghiệp.
Thò trường thứ cấp bao gồm hai loại thò trường sau:
b.1 Thò trường chứng khoán tập trung
Thò trường chứng khoán tập trung là nơi tổ chức cho các chủ thể tham gia thò
trường giao dòch chứng khoán thực hiện các giao dòch trên các nguyên tắc thống nhất.
Nơi tập trung giao dòch chứng khoán đó thường gọi là Sở giao dòch chứng khoán. Sở
7
IPO – Initial Public Offering
8
Khoản 12, điều 06 Luật Chứng Khốn 2006
Trang 25