MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
ASEAN : Tổ chức các quốc gia Đông Nam Á
AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
CEPT : Ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung của các nước ASEAN
CBCC : Cán bộ công chức
GATT : Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GTGT : Giá trị gia tăng
HS : Hệ thống hài hòa danh mục hàng hóa
KCN : Khu công nghiệp
KTSTQ : Kiểm tra sau thông quan
MFN : Tối huệ quốc
NGO : Tổ chức phi chính phủ
NK : Nhập khẩu
NKD : Nhập kinh doanh
NGC : Nhập gia công
NSXXK : Nhập nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu
NT : Ưu đãi quốc gia
NSNN : Ngân sách nhà nước
TCHQ : Tổng cục Hải quan
TTĐB : Tiêu thụ đặc biệt
XNK : Xuất nhập khẩu
WTO : Tổ chức Thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
BẢNG
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Cục Hải quan Đồng Nai (theo Quyết định số 1027/QĐ-
BTC ngày 11/5/2010) Error: Reference source not found
Để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng và nặng nề của mình, ngành
Hải quan nói chung và các Cục Hải quan cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
nói riêng phải không ngừng nỗ lực ngày càng nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác
quản lý của mình và một trong những nhiệm vụ trọng tâm là quản lý thu thuế hàng
hóa nhập khẩu.
Quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu vừa đảm bảo số thu NSNN, tạo nguồn
lực tài chính để hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vừa
tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, thúc đẩy quan hệ đầu tư, thương
mại quốc tế.
Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của công tác quản lý thu thuế hàng hóa nhập
khẩu, tác giả cho rằng, việc nghiên cứu, cải tiến, hoàn thiện quản lý thu thuế hàng
hóa nhập khẩu là yêu cầu thường xuyên và cần thiết của cơ quan hải quan các cấp.
Là công chức hải quan hiện đang công tác tại Cục Hải quan Đồng Nai, tôi nhận thấy
phải có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất những cải tiến hoàn thiện công tác quản lý
thu thuế hàng hóa nhập khẩu tại đơn vị mình nói riêng và ngành Hải quan nói
chung và vì vậy, tôi chọn đề tài “Hoàn thiện quản lý thu thuế hàng hóa nhập
khẩu tại Hải quan Đồng Nai” làm đề tài luận văn cao học.
2. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thu
thuế hàng hóa nhập khẩu và dựa vào kết quả khảo sát, đánh giá tình hình quản lý
thu thuế hàng hóa nhập khẩu của Cục Hải quan Đồng Nai trong các năm 2007, 2008
và 2009, ba năm kể từ khi Luật quản lý thuế có hiệu lực thi hành (1/7/2007), từ đó,
nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý thu thuế hàng hóa nhập khẩu
tại Hải quan Đồng Nai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
+ Đối tượng nghiên cứu của Luận văn:
Luận văn đề cập đến thuế hàng hóa nhập khẩu và quản lý thu các khỏan thuế
đánh trên hàng hóa nhập khẩu bao gồm: Thuế nhập khẩu (NK), thuế (GTGT), thuế
tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) (gọi chung là thuế hàng hóa nhập khẩu) và trong quản lý
2
với thực tế tổ chức thực hiện pháp luận về thuế, áp dụng các quy trình quản lý
thu thuế hàng hóa nhập khẩu để xác định thuận lợi, bất cập khi áp dụng các quy
định pháp luật.
+ Phương pháp nghiên cứu định lượng: Thu thập, tổng hợp so sánh dữ liệu,
phân tích các sự kiện, hiện tượng, số liệu thống kê liên quan đến quản lý thu thuế
hàng hóa nhập khẩu đề đánh giá thực tiễn thực hiện.
7. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Quản lý thu thuế trong điều kiện ngành Hải quan đang tiến hành cải cách mạnh
mẽ thủ tục hải quan và trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay là vấn đề được
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Trong thời gian qua đã có các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật
về thuế, chính sách thuế nhập khẩu, quản lý thuế hàng hóa nhập khẩu nói chung và
ở địa phương nói riêng của các nhà quản lý, có thể kể đến một số tác giả sau:
- “ Tăng cường quản lý Nhà nước về thuế ở Việt Nam hiện nay ” tác giả Lê
Hồng Hải - luận văn Thạc sĩ luật học, năm 2001.
- “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật
thuế ở Việt Nam ” tác giả Trần Trung Nhân- luận án Tiến sĩ luật học, năm 2006.
- “ Hoàn thiện cơ chế xác định giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu trong xu
hướng hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam hiện nay ” tác giả Cao Ngọc Tâm - luận
văn Thạc sĩ kinh tế, năm 2005.
- “ Xây dựng chính sách thuế quan trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”
tác giả Phạm Thị Thùy Dương- luận văn Thạc sĩ kinh tế, năm 2009.
- “ Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế nhập khẩu tại cục Hải quan thành phố
Hồ Chí Minh” tác giả Phan Thị Kiều Lê- luận văn Thạc sĩ kinh tế, năm 2009.
Bên cạnh những đề tài nghiên cứu về thuế nhập khẩu, còn có nhiều đề tài
nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan nói chung như :
- “Hoàn thiện quản lý Nhà nước về hải quan đối với hoạt động gia công xuất
khẩu và nhập sản xuất xuất khẩu”, tác giả Đặng Hạnh Thu - luận văn Thạc sĩ kinh
tế, năm 2000.
4
1.1. Thuế hàng hóa nhập khẩu
1.1.1. Khái niệm về thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có những lợi thế và những bất bất lợi thế về
nguồn lực phát triển kinh tế có giới hạn. Hoạt động ngoại thương mang ý nghĩa hết
sức quan trọng trong việc phát triển các lợi thế và bổ sung nguồn nội lực, đặc biệt
đối với các nước đang phát triển, hoạt động ngoại thương mang lại cho đất nước
nhiều nguồn lợi lớn về vốn, kỹ thuật, công nghệ, hàng hóa…
Tuy nhiên, hoạt động ngoại thương mở rộng nếu không được kiểm soát sẽ dẫn
đến những tác hại đối với kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội như: Sự phụ thuộc vào
kinh tế, chính trị với nước ngoài; phong tục tập quán, lối sống, văn hóa của quốc gia
bị ảnh hưởng…và vì thế, các quốc gia đều sử dụng thuế hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu như một công cụ quan trọng quản lý hoạt động ngoại thương.
Trong thương mại quốc tế, hoạt động xuất khẩu hàng hóa luôn được các quốc
gia khuyến khích vì nó mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho nước xuất khẩu, do đó,
công cụ thuế dùng quản lý hoạt động ngoại thương chủ yếu là thuế đánh trên hàng
hóa nhập khẩu.
Đối tượng chịu thuế hàng hóa nhập khẩu là hàng hóa (không bao gồm dịch vụ)
qua biên giới quốc gia. Tuy nhiên, với sự phát triển đa dạng của hoạt động thương
mại quốc tế dưới nhiều hình thức khác nhau, thì khái niệm “qua biên giới quốc
gia” không còn giới hạn theo nghĩa hẹp là hàng hoá phải được giao thương qua
phạm vi lãnh thổ về mặt địa lý giữa các quốc gia mà được hiểu theo nghĩa rộng hơn.
Tại Việt Nam, pháp luật quy định:
- Hàng hoá xuất khẩu cho đối tác nước ngoài nhưng được đối tác nước ngoài
chỉ định giao trong phạm vi “biên giới quốc gia” được coi là hoạt động xuất nhập
khẩu tại chỗ thuộc đối tượng chịu thuế nhập khẩu. Thực chất đây là việc thực hiện
6
cùng lúc hai hoạt động, một là xuất khẩu cho đối tác nước ngoài và hai là bên được
chỉ định nhận hàng nhập khẩu hàng hoá từ đối tác nước ngoài, hàng hoá này là đối
tượng chịu thuế.
- Trong “biên giới quốc gia” với sự xuất hiện các khu vực đặc biệt như khu
1.1.3. Vai trò của thuế hàng hóa nhập khẩu trong nền kinh tế Việt Nam
Trong thương mại quốc tế, thuế hàng hóa nhập khẩu có các vai trò sau:
+ Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu.
Thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu có vai trò điều tiết lượng hàng hóa nhập
khẩu: Một bộ phận cấu thành nên giá cả hàng hóa nhập khẩu là thuế NK, thuế
GTGT, thuế TTĐB đánh trên hàng hóa nhập khẩu. Thuế hàng hóa nhập khẩu cao
hay thấp đều ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa đó, do đó thông qua mức
thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu, nhà nước gián tiếp điều tiết lượng hàng hóa
nhập khẩu trong từng thời kỳ. Mức thuế cao được đánh vào hàng hóa hạn chế nhập
khẩu; mức thuế thấp hoặc bằng không dành cho những hàng hóa khuyến khích
nhập khẩu.
+ Bảo hộ thị trường nội địa.
Việc đánh thuế cao hàng hóa nhập khẩu sẽ giúp các nhà sản xuất trong nước
có nhiều khả năng cạnh tranh về mặt giá cả đối với hàng nhập khẩu, đồng thời tạo
điều kiện để các ngành sản xuất mới trong nước có thời gian trưởng thành và chuẩn
bị đủ điều kiện để cạnh tranh. Ngoài ra, đối với loại hàng hóa là máy móc, thiết bị,
nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, việc đánh thuế hàng hóa nhập khẩu thấp có tác
dụng giảm giá cả đầu vào của sản phẩm, giúp các doanh nghiệp trong nước có điều
kiện giảm giá thành, hiện đại hóa trang thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, góp
phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước.
Bảo hộ sản xuất trong nước trong thời gian dài được xem là mục tiêu cơ bản
của thuế hàng hóa nhập khẩu. Tuy nhiên, ngày nay trong điều kiện hội nhập quốc tế
thì vai trò bảo hộ của thuế hàng hóa nhập khẩu có phần bị hạn chế do thực hiện các
cam kết quốc tế và khu vực.
8
+ Công cụ điều phối các yếu tố sản xuất nội địa.
Giảm thuế đối với các yếu tố đầu vào, đồng thời tăng thuế đối với những sản
phẩm từ bên ngoài cùng loại sản xuất trong nước đã tạo lợi thế cho các ngành sản
xuất trong nước được bảo hộ bằng thuế quan. Tạo điều kiện cho những ngành này
nâng cao sản lượng, mở rộng qui mô thu nhiều lợi nhuận. Chính sự hấp dẫn của
Dự toán tổng thu
NSNN
Số thu thuế NK Tỷ trọng thuế NK trong
tổng thu NSNN
2005 183.000 37.700 20,60%
2006 237.900 40.000 16,80%
2007 281.900 55.400 19,65%
2008 323.000 64.500 19,96%
2009 389.900 88.200 22,62%
2010 461.500 95.500 20,69%
(Nguồn:Dự toán thu cân đối NSNN của Bộ Tài chính )
Tỉ trọng thuế nhập khẩu hàng hóa so với tổng nguồn thu Ngân sách Nhà nước
có chiều hướng ổn định các năm và chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong tổng thu
ngân sách, bình quân khoảng 20% trên tổng thu Ngân sách Nhà nước (thuế xuất
khẩu không đáng kể).
+ Công cụ mậu dịch minh bạch.
Chính sách thuế hàng hóa nhập khẩu đươc xem là công cụ mậu dịch minh bạch
hơn so với các công cụ phi thuế quan khác.
Thông qua mức thuế suất đánh trên hàng hóa nhập khẩu, các doanh nghiệp dễ
dàng xác định các tác động bảo hộ của nhà nước đối với từng ngành hàng để đi
đến những quyết định kinh tế thích hợp.
Thuế hàng hóa nhập khẩu còn là công cụ phân biệt đối xử trong quan hệ
thương mại và tạo áp lực nhượng bộ trong đàm phán thương mại của các đối tác.
+ Định hướng thị hiếu người tiêu dùng.
Trong thực tế, đối với các hàng hoá xa xỉ thì việc áp mức thuế suất nhập khẩu
cao đối với các hàng hoá này sẽ gây tác động đến việc lựa chọn của người tiêu dùng.
Tóm lại, vai trò của thuế hàng hóa nhập khẩu trong từng thời kỳ có thể khác
nhau, tuỳ thuộc vào kết quả của việc thực hiện các chính sách thuế thông qua các
nhiệm vụ kinh tế xã hội mà các chính sách thuế được xây dựng.
10
dịch, luật lệ thương mại thể hiện trong chính sách quốc tế phải được công khai rõ
ràng đến giá hàng nhập khẩu, thủ tục liên quan đến quá trình nhập khẩu không bị
bóp méo. Nói cách khác, chế độ chính sách thuế nhập khẩu, thủ tục liên quan đến
nhập khẩu phải được công khai rõ ràng, chính xác, không bị bóp méo bởi các ràng
buộc hành chính.
+ Nguyên tắc có đi có lại và tôn trọng các cam kết về thuế nhập khẩu.
Nguyên tắc này quy định nếu một nước có vài biện pháp mở cửa thị trường
như hạ thấp thuế nhập khẩu, xóa bỏ một phần hay tòan bộ hàng rào phi thuế quan
đối với hàng hóa nhập khẩu thì họ có quyền đòi hỏi các thành viên khác có những
nhượng bộ tương tự. Nguyên tắc này đòi hỏi các thành viên phải tìm cách cân bằng
lợi ích và nghĩa vụ của mình trong các Hiệp định song phương và đa phương. Đối với
WTO, nguyên tắc này được duy trì trong quá trình đàm phán. Trước hết, hình thành
các nghĩa vụ tiếp theo là các nhượng bộ trên cơ sở công bằng giữa các bên tham gia
đàm phán. Trường hợp một nước thành viên không thực hiện nghĩa vụ của mình theo
Hiệp định thương mại thì phải bồi thường thông qua việc giải quyết tranh chấp.
+ Nguyên tắc tự do hoá và các ràng buộc cắt giảm thuế quan.
WTO cũng như các tổ chức kinh tế khu vực không đòi hỏi tự do hoá thương
mại nhanh chóng mà yêu cầu các nước thành viên tạo điều kiện dễ dàng cho quá
trình đàm phán thương mại nhằm mục đích tự do hoá, đặc biệt thông qua việc giảm
cơ bản mặt bằng thuế quan, nhất là giảm mức thuế suất cao đối với hàng hoá nhập
khẩu là yếu tố rất quan trọng mang tính chất nền tảng trong thương mại quốc tế.
Những nhượng bộ về thuế quan trong các cuộc đàm phán có thể là những cam kết
về giảm thuế, khống chế các mức thuế trần. Các khối mậu dịch khu vực, vấn đề cắt
giảm thuế thể hiện ở những ràng buộc cao hơn (có thể loại bỏ hoàn toàn thuế quan)
với những quy định cụ thể về mức thuế phải được cắt giảm theo những mốc thời
gian được quy định chặt chẽ.
+ Nguyên tắc bảo hộ phòng ngừa bất trắc.
Các Hiệp định thương mại ở cấp toàn cầu và khu vực đều có quy định về vấn
đề bảo hộ phòng ngừa trong các trường hợp bất trắc. Nguyên tắc này cho phép các
12
+ Đối tượng không chịu thuế:
Hàng hoá trong các trường hợp sau đây là đối tượng không chịu thuế nhập khẩu:
- Hàng hoá vận chuyển quá cảnh qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam theo quy
định của pháp luật.
- Hàng hoá viện trợ nhân đạo, hàng hoá viện trợ không hoàn lại của các Chính
phủ, các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức quốc
tế, các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài (NGO), các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân
người nước ngoài cho Việt Nam và ngược lại, nhằm phát triển kinh tế - xã hội, hoặc
các mục đích nhân đạo khác được thực hiện thông qua các văn kiện chính thức giữa
hai bên, được cấp có thẩm quyền phê duyệt; các khoản trợ giúp nhân đạo, cứu trợ
khẩn cấp nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh.
- Hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng
trong khu phi thuế quan; hàng hoá đưa từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế
quan khác.
+ Căn cứ tính thuế nhập khẩu:
- Đối với mặt hàng áp dụng thuế suất tỉ lệ, căn cứ tính thuế là số lượng từng
mặt hàng thực tế nhập khẩu ghi trong Tờ khai hải quan, giá tính thuế từng mặt hàng
và Thuế suất từng mặt hàng
* Công thức tính:
- Đối với mặt hàng áp dụng thuế tuyệt đối, căn cứ tính thuế gồm: Số lượng
từng mặt hàng thực tế nhập khẩu ghi trong Tờ khai hải quan và mức thuế tuyệt đối
tính trên một đơn vị hàng hóa.
* Công thức tính:
Số thuế nhập
khẩu phải nộp
=
Số lượng hàng
hoá thực tế nhập
khẩu ghi trên tờ
khai hải quan
dịch hàng hoá nhập khẩu giống hệt; hàng hóa nhập khẩu tương tự.
Trường hợp hàng hoá nhập khẩu không xác định được trị giá tính thuế theo trị
giá giao dịch thì trị giá tính thuế là trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu giống
hệt hoặc hàng hóa nhập khẩu tương tự đã được xác định trị giá theo phương pháp 1
nêu trên.
- Phương pháp 4 : Phương pháp xác định giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu
theo phương pháp khấu trừ.
Trường hợp hàng hoá nhập khẩu nếu không xác định được trị giá tính thuế
theo phương pháp 1, phương pháp 2, phương pháp 3 thì trị giá tính thuế là trị giá
khấu trừ. Trị giá khấu trừ được xác định căn cứ vào giá bán của hàng hoá nhập khẩu
trên thị trường trong nước trừ đi các chi phí hợp lý, lợi nhuận bán hàng phát sinh
sau khi nhập khẩu.
- Phương pháp 5 : Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá tính toán.
15
Hàng hóa nhập khẩu nếu không xác định được trị giá tính thuế theo các phương
pháp từ 1 đến 4 thì trị giá tính thuế là trị giá tính toán. Trị giá tính toán được xác định
bao gồm: Giá thành hoặc trị giá của nguyên vật liệu, chi phí của quá trình sản xuất
hoặc quá trình gia công khác của việc sản xuất hàng hóa nhập khẩu, chi phí, lợi
nhuận sản xuất hàng hóa nhập khẩu, các chi phí điều chỉnh theo quy định.
- Phương pháp 6 : Phương pháp xác định giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu
theo phương pháp suy luận (hay phương pháp dự phòng).
Hàng hóa nhập khẩu nếu không xác định được trị giá tính thuế theo các
phương pháp từ 1 đến 5 thì trị giá tính thuế được xác định bằng phương pháp thích
hợp, dựa vào các tài liệu, số liệu khách quan có sẵn tại thời điểm xác định trị giá
tính thuế.
Trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu được xác định bằng cách áp dụng
tuần tự từ phương pháp 1 đến phương pháp 6 và dừng ngay ở phương pháp xác định
được trị giá tính thuế.
Sử dụng hệ thống xác định trị giá hải quan theo GATT/WTO, cơ quan hải
quan phải tuân thủ một yêu cầu hết sức nghiêm ngặt, đó là chỉ được căn cứ vào
Tại Việt Nam từ 8/8/1990 đã có Luật thuế TTĐB, được sửa đổi và ban hành
lại ngày 20/8/1998. Luật sửa đổi, bổ sung lần 1 ngày 17/6/2003. Luật sửa đổi, bổ
sung lần 2 ngày 29/11/2005 và Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành có hiệu lực thi
hành từ ngày 1/4/2009.
+ Đối tượng chịu thuế
Bao gồm 10 nhóm hàng nhập khẩu: Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ
cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm; Rượu; Bia; Xe ô tô dưới 24 chỗ, kể
cả xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng loại có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế
vách ngăn cố định giữa khoang chở người và khoang chở hàng; Xe mô tô hai bánh,
xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên 125cm
3
; Tàu bay, du thuyền; Xăng các
loại, nap-ta (naphtha), chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm
17
khác để pha chế xăng; Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống; Bài
lá; Vàng mã, hàng mã.
+ Đối tượng không chịu thuế
Hàng hóa nhập khẩu bao gồm: Hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn
lại; quà tặng cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,
đơn vị vũ trang nhân dân, quà biếu, quà tặng cho cá nhân tại Việt Nam theo mức
quy định của Chính phủ; Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc mượn đường qua
cửa khẩu, biên giới Việt Nam, hàng hóa chuyển khẩu theo quy định của Chính phủ;
Hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu và tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu không phải nộp
thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu trong thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Đồ dùng của tổ chức, cá nhân nước ngoài theo tiêu
chuẩn miễn trừ ngoại giao; hàng mang theo người trong tiêu chuẩn hành lý miễn
thuế; hàng nhập khẩu để bán miễn thuế theo quy định của pháp luật.
+ Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá tính thuế của hàng hóa chịu thuế và
máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư
thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tiến hành hoạt động tìm
kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu, khí đốt; tàu bay, dàn khoan, tàu thuỷ thuộc loại
trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu tạo tài sản cố định của Doanh nghiệp,
thuê của nước ngoài sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và để cho thuê.
Hàng hóa nhập khẩu trong trường hợp viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn
lại; quà tặng cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn
vị vũ trang nhân dân; quà biếu, quà tặng cho cá nhân tại Việt Nam theo mức quy định
của Chính phủ; đồ dùng của tổ chức, cá nhân nước ngoài theo tiêu chuẩn miễn trừ
ngoại giao; hàng mang theo người trong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế.
Hàng hoá chuyển khẩu, quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam; hàng tạm nhập
19
khẩu, tái xuất khẩu; hàng tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu; nguyên liệu nhập khẩu để
sản xuất, gia công hàng hoá xuất khẩu theo hợp đồng sản xuất, gia công xuất khẩu
ký kết với bên nước ngoài; hàng hoá, dịch vụ được mua bán giữa nước ngoài với
các khu phi thuế quan và giữa các khu phi thuế quan với nhau.
Vàng nhập khẩu dạng thỏi, miếng chưa được chế tác thành sản phẩm mỹ
nghệ, đồ trang sức hay sản phẩm khác.
+ Căn cứ tính thuế GTGT:
Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất.
* Công thức tính thuế GTGT:
+ Giá tính thuế
Đối với hàng hóa nhập khẩu giá tính thuế là giá nhập tại cửa khẩu cộng với
thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Giá nhập tại cửa
khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu.
+ Thuế suất
Thuế suất thuế GTGT được qui định cho từng nhóm hàng hóa theo Luật thuế
GTGT hiện hành, bao gồm các mức thuế suât 0%; 5% và 10%.
1.1.5.4. Các qui định về thời điểm tính thuế, tỷ giá tính thuế và thời hạn
- Thời hạn nộp thuế đối với hàng hoá tiêu dùng nhập khẩu: Hàng hoá nhập
khẩu là hàng tiêu dùng trong danh mục hàng hoá do Bộ Công thương công bố thì
phải nộp xong thuế trước khi nhận hàng trừ các trường hợp sau:
• Đối tượng nộp thuế có bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp thì thời hạn nộp
thuế là thời hạn bảo lãnh, nhưng không quá 30 ngày kể từ ngày đối tượng nộp thuế
đăng ký Tờ khai hải quan.
• Hàng tiêu dùng nhập khẩu phục vụ trực tiếp cho an ninh, quốc phòng,
nghiên cứu khoa học và giáo dục đào tạo thuộc đối tượng được xét miễn thuế nhập
khẩu thì thời hạn nộp thuế là 30 ngày kể từ ngày đối tượng nộp thuế đăng ký Tờ
khai hải quan.
21
- Thời hạn nộp thuế nhập khẩu áp dụng đối với đối tượng nộp thuế chấp hành
tốt pháp luật về thuế: Đối tượng nộp thuế chấp hành tốt pháp luật về thuế là đối
tượng có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu trong thời hạn ít nhất 365 ngày, tính đến
ngày đăng ký tờ khai hải quan lô hàng đang làm thủ tục nhập khẩu mà không có
hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, không nợ tiền thuế quá hạn, tiền phạt, chấp
hành tốt chế độ báo cáo tài chính theo qui định của pháp luật thì được áp dụng thời
hạn nộp thuế nhập khẩu như sau:
• Hàng hoá nhập khẩu là vật tư, nguyên liệu để sản xuất hàng hoá xuất khẩu,
thời hạn nộp thuế là 275 ngày kể từ ngày đối tượng nộp thuế đăng ký Tờ khai hải
quan; trường hợp đặc biệt thì thời hạn nộp thuế có thể dài hơn 275 ngày phù hợp
với chu kỳ sản xuất, dự trữ vật tư, nguyên liệu của doanh nghiệp theo qui định của
Chính phủ.
• Hàng hoá kinh doanh theo phương thức tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái
nhập, thời hạn nộp thuế là 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tạm nhập, tái xuất hoặc
tạm xuất, tái nhập.
• Đối với hàng hoá nhập khẩu khác, thời hạn nộp thuế là 30 ngày kể từ ngày
đối tượng nộp thuế đăng ký Tờ khai hải quan.
- Thời hạn nộp thuế nhập khẩu áp dụng đối với đối tượng nộp thuế chưa chấp
hành tốt pháp luật về thuế: