Bài giảng các phương pháp chiết xuất hợp chất thiên nhiên - Pdf 26

CÁC PHƯƠNG PHÁP CHIẾT XUẤT
NOÄI DUNG
I. HỢP CHẤT TỰ NHIÊN TRONG CÂY
II. XỬ LÝ NGUYÊN LIỆU
III. DUNG MÔI
IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHIẾT XUẤT

GIÔÙI THIEÄU
Vào thời tiền sử, con người phải kiếm cây cỏ và động vật hoang dại
để làm thức ăn. Qua chọn lọc và thử thách, con người dần dần xác
định được thực vật, động vật nào ăn được hoặc không ăn được. Tính
chất chữa bệnh của một số thực vật, động vật dần dần được tích lũy
thành kinh nghiệm.
Thuốc phòng bệnh và trị bệnh hầu hết được điều chế từ 2 nguồn:
nguyên liệu và hóa dược. Riêng dược thảo, theo thống kê của Tổ
chức Y tế Thế giới, con số lên tới 20.000 loài, không chỉ các nước Á
Đông mà các nước phương Tây cũng tiêu thụ một lượng rất lớn
nguyên liệu. Trong những năm gần đây, xu hướng trên thế giới dùng
thuốc thảo mộc tự nhiên ngày càng nhiếu, nhiều biệt dược, Đông
dược của Trung quốc, Ấn Độ được tiêu thụ mạnh ở các nuớc châu
Âu.
Nhiều hoạt chất quan trọng như: quinin, morphin,
vincaleucoblastin, strychnin, emetin,… đều phải chiết xuất
ra từ dược liệu và chúng có thể đi bằng con đường tổng
hợp. Hiện nay, con người vẫn còn tiếp tục nghiên cứu các
hoạt chất có cấu trúc mới từ nguyên liệu thiên nhiên rồi từ
đó bán tổng hợp ra các dẫn xuất có hiệu quả hơn.
GIÔÙI THIEÄU
I. HỢP CHẤT TỰ NHIÊN TRONG CÂY
Dựa vào chức năng sinh học, người ta chia các hợp chất trong cây
thành 2 nhóm lớn:

- …
I. HỢP CHẤT TỰ NHIÊN TRONG CÂY
Trong cây, các hợp chất hữu cơ tồn tại ở dạng hòa tan trong nước,
dầu béo hoặc tinh dầu.
Các chất hòa tan trong nước (dịch tế bào) là các hydrat carbon phân
tử bé (monosaccharid, oligosaccharid), một số polysaccharid (pectin,
gôm), các glycosid (saponin, flavonoid, iridoid…) muối alcaloid của
các acid hữu cơ, acid amin. Các hợp chất phenol hòa tan dưới dạng
glycosid (flavonoid, tanin) hoặc dạng phức hợp khác.
Các chất tan trong dầu béo và tinh dầu là các hydrocarbon,
monoperpen, sterol, carotenoid …
Dầu và tinh dầu được khu trú trong những bộ phận riêng biệt của cây
như ở hạt, vỏ, thân (tinh dầu)
I. HỢP CHẤT TỰ NHIÊN TRONG CÂY
Các nguyên tử mang điện tích âm có thể là: O, N, S, F, Cl… Như
vậy các nhóm như: -OH, -CO, -NO2, -NH2, -COOH, -SO2, và các
Halogen đều là những nhóm phân cực. Các phân tử càng có nhiều
nhóm phân cực thì tính phân cực càng mạnh, nhưng nếu mạch
carbon càng dài thì độ phân cực sẽ giảm.
Thí dụ: các glycosid là những chất phân cực mạnh do phần đường
của chúng có nhiều nhóm phân cực (-OH), mạch đường càng dài thì
độ phân cực càng cao. Nếu glycosid bị thủy phân cắt mất phần
đường, chỉ còn lại phần aglycon thì tính phân cực của aglycon sẽ
giảm hẳn.
I. HỢP CHẤT TỰ NHIÊN TRONG CÂY
Một yếu tố khác ảnh hưởng đến vấn đề chiết xuất là các enzym
có trong cây. Trong quá trình chế biến, nếu không khống chế
hoạt động của các enzym thì các glycosid có thể bị thủy phân
một phần hoặc toàn phần làm thay đổi tính phân cực, do đó thay
đổi độ hòa tan của các hợp chất đối với dung môi.

Mẫu cây cần được xay nhỏ để dung môi có thể thấm vào màng tế
bào của cây và ly trích những chất biến dưỡng thứ cấp. Nếu các
chất biến dưỡng thứ cấp trong cây cần ly trích có tính dễ bay hơi
hay kém bền nhiệt, có thể bỏ qua giai đoạn xay nghiền, vì quá
trình tán nghiền nhuyễn sẽ phát sinh ra nhiệt, làm hao hụt sản
phẩm. Đôi khi người ta dùng kỹ thuật ngâm đông lạnh mẫu cây
(mẫu khô hay mẫu tươi) trong nitơ lỏng, rồi nghiền giã cây trong
một cái cối hoặc trong một cái bao bằng polyetylen dày.
III. DUNG MÔI
Dung môi dùng để chiết xuất các hợp chất thiên nhiên rất đa dạng
và thay đổi theo đặc tính của các hợp chất biến dưỡng muốn ly
trích ra. Cơ sở để chọn dung môi là tính phân cực của hợp chất
trong cây và dung môi.
Dung môi phân cực và không phân cực:

Quá trình hình thành một dung dịch là tùy thuộc vào đặc tính
của chất tan và dung môi. Để hình thành một dung dịch, trước
hết phải có sự phá vỡ các dây nối liên kết trong hợp chất tan
và trong dung môi, để hình thành dây nối liên kết mới giữa
chất tan và dung môi. Thí dụ ether ethylic và nước.
• Hằng số điện môi của nước ở 20
o
C là 80,4 trong khi ether
ethylic là 4,34.

Nguyên tử hydro của phân tử nước có khả năng liên kết với một
nguyên tử mang điện tích âm của một hợp chất khác, hình thành
dây nối liên kết hydro trong dung dịch nước, trong khi ether
ethylic không có sự liên kết này. Dây nối hydro hình thành ảnh
hưởng lớn đến tính hòa tan của hợp chất đối với dung môi.

Toluen 111 2,38 2,4 0,59 0,51
Xylen 139 2,5 0,61 0,018
Benzen 80 2,3 2,7 0,65 0,18
Diethyl ether 35 4,34 2,8 0,32 6,89
Diclorometan 41 8,9 3,1 0,44 1,6
Isopropanol 82 18,3 3,9 2,3 100
n-Buthanol 118 3,9 2,98 7,81
III. DUNG MÔI
Tetrahydrofuran 65 7,58 4,0 0,55 100
n-Propanol 92 20,1 4,0 2,27 100
Acetate butyl 125 4,0 0, 73 0,43
Chloroform 61 4,87 4,1 0,57 0,815
Acetate ethyl 77 6,0 4,4 0,45 8,7
Methyl ethyl ceton 80 4,7 0, 45 24
Dioxan 101 2,2 4,8 1,54 100
Aceton 56 20,7 5,1 0,32 100
Methanol 65 33,6 5,1 0,6 100
Ethanol 78 24,3 5,2 1,2 100
Acetonitryl 82 37,5 5,8 0,37 100
Acid acetic 118 6,2 6,2 1,26 100
Dimethyl sulfoxid 189 4,7 7,2 2,0 100
Nước 100 78,5 9,0 1,0 100
Chất tan trong nước và dung môi phân cực
Các chất điện ly như muối vô cơ đều tan trong dung môi phân cực.
Chất phân cực: các hợp chất hữu cơ nói chung không ion hóa nhưng
nếu chúng có chứa các nhóm hoặc nguyên tử mang điện tích âm có
thể hình thành dây nối hydro với nước thì chúng sẽ tan được trong
nước.
Những nhóm có khả năng tạo dây nối hydro như: -OH, CO, NO, NH2
và các Halogen gọi là nhóm phân cực.

việc rất quan trọng để tránh phân hủy hợp chất, tránh các phản
ứng phụ, các phản ứng chuyển vị.
IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHIẾT XUẤT
Trong cây thường chứa một số cấu tử được xem như chất gây
cản trở trong quá trình chiết xuất hoặc tinh chế hợp chất như các
diệp lục tố, polyphenol …Đôi khi các chất dùng để bôi trơn dụng
cụ thủy tinh như vaselin, silicon cũng bị nhiễm vào dung dịch ly
trích.
Có nhiều cách sử dụng dung môi để ly trích mẫu cây. Khi cho
dung môi chiết vào, dung môi sẽ thấm qua màng tế bào của cây,
các hoạt chất trong tế bào sẽ hòa tan vào trong dung môi. Khi
đó sẽ xuất hiện một quá trình thẩm thấu giữa dịch chiết trong
thành tế bào và dung môi bên ngoài. Quá trình thẩm thấu này
kết thúc khi có sự cân bằng nồng độ hợp chất của dung dịch bên
trong và bên ngoài thành tế bào.
IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHIẾT XUẤT
Như vậy, trong quá trình chiết sẽ xảy ra 2 quá trình:
- Quá trình hòa tan.
- Quá trình thẩm thấu.
Hai quá trình này thực hiện liên tục cho đến khi quá trình chiết
kết thúc. Nguyên liệu phải được xay nhỏ đến mức thích hợp để
dung môi có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với thành tế bào một
cách dễ dàng, thúc đẩy quá trình chiết xuất nhanh chóng và
nâng cao hiệu xuất chiết.
IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHIẾT XUẤT
Chiết bằng phương pháp ngấm kiệt (Percolation)
Phương pháp ngấm kiệt là một trong những phương pháp trích
ly được sử dụng phổ biến nhất vì không đòi hỏi nhiều thao tác
cũng như thời gian.
Dụng cụ gồm một bình ngấm kiệt, hình trụ đứng, bằng thủy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status