Kinh nghiệm
Hớng dẫn học sinh giải toán khó lớp 5
Họ và tên: Đinh Thị Nhàn
Trình độ chuyên môn: Cao đẳng S phạm
Nơi công tác: Trờng Tiểu học A Thọ Nghiệp
Đơn vị áp dụng sáng kiến: Trờng Tiểu học A Thọ Nghiệp
1
A/ Đặt vấn đề:
I/ ý nghĩa:
Môn toán là môn khoa học tự nhiên, nó có một vai trò quan trọng không thể
thiếu đợc của mỗi ngời chúng ta, nó đợc sử dụng rộng rãi trong cuộc sống hằng
ngày. Toán Tiểu học lại càng quan trọng vì nó là nền tảng ban đầu, là cơ sở cho
việc học tốt môn Toán ở các cấp học trên,đồng thời đào tạo các em thành những
ngời lao động chủ động, linh hoạt, sáng tạo sẵn sàng thính ứng với xã hội đang
đổi mới từng ngày.
II/ Lý do:
1/ Cơ sở lý luận.
Hiện nay bậc giáo dục Tiểu học đã thực hiện đổi mới giáo dục về mục tiêu,
nội dung và phơng pháp giảng dạy, đề cao việc lấy học sinh làm trung tâm quá
trình dạy học nhằm phát huy tính chủ động,linh hoạt,sáng tạo, t duy của trẻ. Đặc
biệt với học sinh lớp 5 thì phơng pháp dạy học: lấy học sinh làm nhân vật trung
tâm vô cùng quan trọng kể cả trong việc rèn những kỹ năng dù là nhỏ.
2/ Cơ sở thực tế.
Qua một những năm dạy lớp 5 tôi nhận thấy có nhiều học sinh có các cách
giải bài toán khó rất độc đáo. Để có những cách giải ngắn gọn, chính xác là do
các em đã rất linh hoạt trong việc áp dụng cấc thủ thuật giải toán. Vì vậy, muốn
có nhiều học sinh có những cách giải hay, có những bài làm tốt, trong quá trình
giảng dạy,tôi đã hớng dẫn, hình thành cho học sinh những kỹ năng giải toán
nâng cao, trong đó tôi đặc biệt chú ý đến kỹ năng vận dụng thủ thật để giải toán
khó và đã đem lại hiệu quả rất tốt. Tôi xin mạnh dạn trình bày kinh nghiệm nhỏ
này.
6đ)
Yếu
39 em 8 em 12 em 19 em 0
2, Số học sinh có kỹ năng vận dụng thủ thuật để làm bài là học sinh. Để
có kết quả trên, tôi căn cứ vào:
- Các bài kiểm tra môn toán đầu năm.
3
- Nhận xét của các giáo viên dạy những năm trớc về nhận thức của từng
học sinh trong lớp.
3, Qua tìm hiểu tôi thấy kết quả môn toán của các em cha cao là do các
nguyên nhân sau:
- Học sinh cha nắm đợc thủ thuật giải toán.
- Do đặc điểm lứa tuổi của các em còn nhỏ nên tính t duy sáng tạo còn cha
cao.
- Khối lợng kiến thức các môn học nhiều,thời gian dành cho toán nâng
cao ít.
- Trong khuôn khổ hạn hẹp tôi xin trình bày phơng pháp khắc phục
nguyên nhân thứ nhất, đó là: Cung cấp cho học sinh thủ thuật giải toán.
Vậy cung cấp cho học sinh những thủ thuật giải toán bằng cách nào là
thích hợp vì đối với toán nâng cao khối lợng và các dạng bài tập là vô cùng
phong phú. Để học sinh đọc, hiểu bài, xác định đợc các dạng bài, xác định đợc
cách giải hoặc thủ thuật để giải là cả một vấn đề cơ bản và tơng đối khó. Các em
độc lập xác định cách giải là một việc không dễ dàng vì học sinh không có thói
quen cũng cha đủ năng lực để làm việc đó. chính vì vậy mà việc áp dụng các thủ
thuật giải toán phải linh hoạt, phù hợp với từng bài tập, từng đối tợng học sinh.
Sau đây là một số thủ thuật mà tôi đã vận dụng đối với học sinh lớp tôi.
II/ Nội dung.
1/ Thủ thuật 1: Giải toán bằng cách gán giá trị sai rồi điều chỉnh cho
đúng:
*Nguyên tắc: Muốn tìm một số cha biết ta cứ gán cho số ấy một giá trị cụ
-Ta thấy, nếu cùng bớt 1 con chó và 1 con gà thì hiệu số gà và số chó
không thay đổi.Song, hiệu số chân gà và chân chó sẽ tăng thêm: 4 2 = 2(chân)
Để hiệu số chân gà và chân chó tăng thêm 12 chân thì số gà và số chó
phải cùng bớt đi bao nhiêu con?
12 : 2 = 6(con)
Vậy số con chó là:
10- 6 = 4(con)
5
Số con gà là:
46 - 6 = 40(con)
Đáp số:4 con chó
40 con gà
Tôi yêu cầu một học sinh khác dự đoán một kết quả khác và học sinh
trong lớp cùng áp dụng thủ thuật trên để giải thì thấy các em dễ dàng giải đợc và
tìm đúng đáp số bài toán.
Một học sinh dự đoán có 50 con gà.
Cả lớp đã giải đợc nh sau:
Giả sử có 50 con gà thì số con chó là:
50 - 36 =14(con chó)
Số chân gà là:
50 x 2 = 100(chân)
Số chân chó là:
14 x 4 = 56(chân)
Hiệu số chân gà và chân chó là:
100 - 56 =44(chân)
Thực tế số chân gà hơn số chân chó là 64 chân ta cần phải thêm vào hiệu
số chân là:
64 - 44 = 20(chân)
Ta thấy nếu cùng bớt 1 con gà và 1 con chó thì hiệu số gà và chó không
+ +
109
1
x
Tôi yêu cầu học sinh làm bài sau khi quan sát tôi thấy phần lớn các em vận
dụng cách tính thông thờng tức là đi tính giá trị từng số hạng sau đó quy đồng
mẫu số để tính A, lúc này học sinh bắt đầu lúng túng không thể quy đồng mẫu
số đợc. Tôi đặt câu hỏi gợi ý hớng giải quyết cho học sinh:
21
1
x
có thể viết thành tích của hai phân số đợc không?
Học sinh tính:
1
1
21
1
=
x
x
2
1
- Nhận xét về tử số các phân số trong tích đó? (Tử số đều là 1)
- Nhận xét về hiệu hai mẫu số của hai phân số trong tích đó? (Hiệu hai
mẫu số của 2 phân số trong tích bằng 1)
- Tính kết quả của:
?
21
1
=
Vậy
1 1 1
1 2 1 2x
=
Tơng tự nh thế giáo viên cho học sinh nhận xét về các số hạng còn lại thấy:
1 1 1
2 3 2 3x
=
1 1 1
3 4 3 4x
=
1 1 1
9 10 9 10x
=
Vậy A=
1 1 1 1 1 1
1 2 2 3 3 4
+ + +
+
1 1
9 10
7
Cho học sinh nhận xét: Trong một tổng nếu ta vừa thêm lại vừa bớt cùng
một số thì tổng sẽ nh thế nào? (tổng không đổi)
Nên:
A=
1 2 1 2x
=
1 1 1
2 3 2 3x
=
1 1 1
3 4 3 4x
=
1 1 1
4 5 4 5x
=
1 1 1
5 6 5 6x
=
1 1 1
6 7 6 7x
=
1 1 1
7 8 7 8x
=
1 1 1
8 9 8 9x
=
1 1 1
Hỏi có bao nhiêu con bò sẽ ăn hết số cỏ trên cánh đồng trong 96 ngày?
(Biết sức ăn của các con bò đều nh nhau).
Gặp những bài toán nh thế này học sinh rất lúng túng trong việc phân tích
đầu bài, tìm mối quan hệ giữa các dữ kiện. Tôi dùng các câu hỏi khai thác đầu
bài đồng thời tóm tắt bài bằng bẳng kẻ ô.
Nếu ta gọi số cỏ mà một con bò ăn trong một ngày là một suất ta có bảng
sau:
Số ngày Số bò Số cỏ
24 ngày 70 con ? suất
(1680 suất)
60 ngày 30 con ? suất
(1800 suất)
+ 120 suất
96 ngày ? con ? suất + 120 suất
9
(20 con) (1920 suất)
Để lập đợc bảng trên tôi đặt các câu hỏi:
70 con bò ăn hết cỏ trong 24 ngày. Vậy cánh đồng khi đó có bao nhiêu suất
cỏ?
24 x 70 = 1680 (suất)
Tơng tự nh thế học sinh sẽ tính đợc số suất cỏ trong 60 ngày:
30 x 60 = 1800 (suất)
Tôi cho học sinh nhận xét hiệu số ngày giữa 60 ngày với 24 ngày, giữa 96
ngày với 60 ngày:
60 24 = 36 (ngày)
96 60 = 36 (ngày)
(hiệu đều bằng 36 ngày)
Trong 36 ngày số cỏ mọc thêm là:
1800 1680 = 120 (suất)
Từ đó ta tính đợc 96 ngày có:
nhau.
3, Cần chuẩn bị bài dạy thật tốt,nội dung phong phú, phù hợp với nhận
thức của học sinh.
4, Thiết lập mối quan hệ thầy trò thân mật, cởi mở. Học sinh bạo dạn hỏi
thầy những điều thắc mắc, cha hiểu.
5, Khi giảng dạy cần chú ý tới từng kỹ năng của học sinh dù là kỹ năng
nhỏ nhất.
Trực tiếp giảng dạy, gần gũi với học sinh, theo dõi sự tiếp thu và vận dụng
kiến thức của học sinh tôi đã áp dụng một số phơng pháp nh đã trình bày ở trên
có hiệu quả tích cực. Chắc chắn sẽ có nhiều kinh nghiệm của đồng nghiệp trong
đơn vị kiến thức này. Rất mong sự góp ý của đồng nghiệp!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thọ Nghiệp, ngày 10 tháng 04 năm 2009
Ngời thực hiện
11
§inh ThÞ
Nhµn
12