Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
Lêi më ®Çu
Phát triển kinh tế luôn là mục tiêu trọng điểm và được đặt lên hàng đấu
của mỗi quốc gia. Nhưng làm thế nào để thực hiện tốt mục tiêu phát triển kinh
tế thì đó lại là câu hỏi rất khó giải đáp. Trong thời đại ngày nay để đưa đất
nước tiến lên mỗi quốc gia phải tự nỗ lực, phải cải cách toàn diện và phải phát
triển kinh tế. Song trên thực tế để làm được điều này không phải là dễ, Nhà
nước phải làm gì để điều tiết vĩ mô nền kinh tế giúp nền kinh tế phát triển
toàn diện đúng hướng mà một trong những công cụ không thể thiếu chính là
thuế. Quả vậy, Thuế là một công cụ tài chính quan trọng không chỉ tạo nguồn
thu cho ngân sách nhà nước mà còn là công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều tiết
vĩ mô nền kinh tế phát triển đúng hướng, đạt hiệu quả cao nhằm điều phối thu
nhập và thực hiện công bằng xã hội.
Trong tiến trình đổi mới để hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế
giới, việc đưa ra những sắc thuế phù hợp sẽ tạo ra điều kiện thu hút vốn đầu
tư, khuyến khích sản xuất phát triển tạo ra một nền kinh tế phát triển ổn định
cũng như tạo nên vị thế trên trường quốc tế. Luật thuế GTGT đã được Quốc
hội khóa IX thông qua tại kỳ họp lần thứ 11 ( từ 02/04/1997 đến 10/05/1997 )
và chính thức thi hành từ 01/01/1999 thay thế cho luật thuế doanh thu cũng
không nằm ngoài những mực tiêu trên. Đây chính là bước đi mới đúng hướng
mang tính chiến lược song nó cũng bao hàm những khó khăn thử thách đối
với một đất nước đang phát triển như Việt Nam.
Trên thực tế, việc thi hành luật thuế mới còn vấp phải nhiều vướng
mắc: sự thiếu đồng bộ của hệ thống phát luật, sự quản lý chồng chéo của các
cơ quan chức năng cũng như sự nhận thức của các cơ sở kinh doanh còn chưa
cao.
Đây còn là một vấn đề nan giải mà không thể giải quyết trong một thời
gian ngắn, và là vật cản trên con đường hội nhập của Việt Nam.
Lê Minh Tùng K44/02.01
1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
doanh nghiệp gần 6000, số lượng hộ kinh doanh gần 7000 hộ.
Qua hơn 20 năm đổi mới, bằng những giải pháp cụ thể Quận Ba Đình
đã thúc đẩy kinh tế phát triển, hợp lý hóa cơ cấu kinh tế, ước nộp ngân sách
nhà nước bình quân hàng năm tăng 12,95%. Kết quả thực hiện thu ngân sách
5 năm của Chi cục thuế Quận Ba Đình từ 2005 – 2009 đạt hơn 8 nghìn tỷ
đồng. Cơ cấu kinh tế hiện nay của quận là thương mại - dịch vụ , dịch vụ -
công nghiệp, cụ thể: thương mại đạt 37,85% lao động nộp ngân sách 69,97% ;
du lịch và dịch vụ đạt 17,53% lao động nộp vào ngân sách 11,76% ; công
nghiệp đạt 25,5% lao động nộp vào ngân sách 12,35%.
Cùng với sự phát triển sản xuất, lao động có tay nghề, kỹ thuật cao xuất
hiện ở một số ngành nghề mới như dầu khí, điện, điện tử… đa số dân cư trong
quận có việc làm và thu nhập ổn định, đời sống được cải thiện và nâng cao.
Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều hoạt động đạt chất lượng cao. Đến
Lê Minh Tùng K44/02.01
3
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
nay có 53 cơ sở GD-ĐT thuộc quận, 15 đơn vị thuộc sở ngành với 100% đội
ngũ nhân viên đạt chuẩn và vượt chuẩn. Công tác xã hội hóa giáo dục được
thực hiện tốt tư cơ sở với những mô hình trường bán công, dân lập, tư thục.
Có thể nói, quận Ba Đình có rất nhiều thuận lợi trong việc phát triển
sản xuất kinh doanh, thương mại, dịch vụ… Tuy nhiên bên cạnh đó nảy sinh
rất nhiều khó khăn, phức tạp do dân số đông, địa bàn rộng… Vì vậy nảy sinh
những vướng mắc trong công tác quản lý xã hội và quản lý thu thuế.
Dưới sự lãnh đạo của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, quận ủy –
hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân quận cùng Cục thuế thành phố Hà Nội đã
có nhiều giải pháp đồng bộ khai thác những tiềm năng thế mạnh, nên Chi cục
thuế Quận Ba Đình ngày càng củng cố và có vị trí vững chắc, đóng góp rất
nhiều trong công tác thu ngân sách và quản lý công tác của toàn thành phố.
Trong những năm qua, được sự hỗ trợ tích cực và có hiệu quả của
thành phố, của các ngành, các cơ quan hữu quan cũng như sự giúp đỡ của
riêng và nền kinh tế đất nước nói chung.
1.1.2. Cơ cấu tổ chức của Chi cục thuế Quận Ba Đình
Tháng 10/1990, Chi cục thuế Quận Ba Đình được thành lập theo quyết
định số 315/ QĐ- TCCB ngày 21/08/1990 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính.
Là một chi cục đóng trên địa bàn thủ đô, chi cục thuế Quận Ba Đình
nằm trong hệ thống thu thuế Nhà nước chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành
thuế và cơ quan chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương. Là cơ sở
trực tiếp tổ chức thu thuế dựa vào kế hoạch được giao, quyết toán thuế và
đánh giá kết quả, kiểm tra xử lý các trường hợp được giao, giải quyết các đơn
theo khiếu nại theo thẩm quyền.
Tổ chức bộ máy của Chi cục thuế Quận Ba Đình gồm 162 công chức
(tính đến ngày 31/12/2009 ). Cơ cấu tổ chức được sắp xếp như sau:
- Ban lãnh đạo gồm 4 người trong đó:
Lê Minh Tùng K44/02.01
5
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
+ Một chi cục trưởng : điều hành toàn bộ các công tác của Chi cục: ký
các văn bản liên quan đến việc thực thi các nhiệm vụ, quyền hạn của
Chi cục.
+ Ba Chi cục phó : chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các đội được phân công
theo các nội dung được thống nhất trong ban lãnh đạo Chi cục; Chịu
trách nhiệm trước Chi cục trưởng về công tác được giải quyết.
- Các đội thuế bao gồm:
+ Đội Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế ( 3 người )
+ Đội kê khai- kế toán thuế và tin học ( 28 người )
+ Đội quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế (8 người )
+ Đội kiểm tra thuế:
• Đội kiểm tra thuế 1 ( 20 người )
• Đội kiểm tra thuế 2 ( 13 người )
• Đội kiểm tra thuế 3 ( 9 người )
thuế thực hiện công tác quản lý nợ thuế, cưỡng chế thu tiền nợ thuế, tiền phạt
đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của chi cục thuế Quận ba Đình.
4. Đội kiểm tra thuế: giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế thực hiện công
tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế; giải quyết tố cáo liên quan đến người nộp
thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu thuộc phạm vi quản lý của Chi
cục thuế.
Lê Minh Tùng K44/02.01
7
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
5. Đội quản lý thuế thu nhập cá nhân: giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế
quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân có thu nhập thuộc diện phải
nộp thuế thu nhập cá nhân thuộc phạm vi Chi cục thuế Quận Ba Đình quản lý.
6. Đội nghiệp vụ dự toán: giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế hướng dẫn
về nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, pháp luật thuế cho cán bộ, công chức
thuế trong Chi cục thuế; xây dựng và tổ chức thực hiện dự toán thu NSNN
được giao của Chi cục thuế Quận Ba Đình.
7. Đội kiểm tra nội bộ: giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế thực hiện
công tác kiểm tra việc tuân thủ pháp luật, tính liêm chính của cơ quan thuế,
công chức thuế; giải quyết khiếu nại ( bao gồm cả khiếu nại các quyết định xử
lý về thuế của cơ quan thuế và khiếu nại liên quan trong nội bộ cơ quan thuế,
công chức thuế ), tố cáo liên quan đến việc chấp hành công vụ và bảo vệ sự
liêm chính của cơ quan thuế, công chức thuế thuộc thẩm quyền của Chi cục
trưởng Chi cục thuế.
8. Đội quản lý thu lệ phí trước bạ và thu khác: giúp chi cục trưởng chi
cục thuế quản lý thu lệ phí trước bạ, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền cấp
quyền sử dụng đất, các khoản đấu giá về đất, tài sản, tiền thuế đất, phí, lệ phí
và các khoản thu khác phát sinh trên địa bàn thuộc phạm vi Chi cục thuế quản
lý.
9. Đội hành chính- nhân sự- tài vụ- ấn chỉ: giúp chi cục trưởng chi cục
thuế thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản lý nhân
toán pháp lệnh, so với cùng kì đạt 76,78%
e. Số thu từ thuế ngoài quốc doanh ước đạt 378.500 triệu đồng, đạt
113,23% dự toán pháp lệnh, so với cùng kì đạt 103,69%
f. Số thu từ tiền sử dụng đất ước đạt 2.003.500 triệu đồng, đạt 173,01%
dự toán pháp lệnh.
g. Số thu thuế chuyển quyền sử dụng đất ước đạt 20.802 triệu đồng.
h. Số thu từ thuế thu nhập cá nhân ước đạt 204.450 triệu đồng
Lê Minh Tùng K44/02.01
9
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
Để thấy rõ hơn tỷ lệ thu vượt mức của các loại thuế trên, ta so sanh số thu
qua 3 năm 2007, 2008, 2009 qua bảng sau:
Biểu 02: Số thu cụ thể phần chi cục đảm nhiệm thu trong 3 năm (2007,
2008, 2009 ) :
Đơn vị tính: triệu đồng
Lê Minh Tùng K44/02.01
10
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
STT Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Kế
hoạch
Thực
hiện
Thực hiện so với
Kế hoạch
Thực
hiện
Thực hiện so với
Kế hoạch
16.000 31.377 196,11 112,48 12.000 13.893 115,78 44,28 16.500 20.802 126,07 149,73
8 Thuế TNCN 28.000 68.000 242,86 118,92 82.000 136.541 166,51 200,80 148.700 204.450 137,49 149,74
Tổng 976.000 2.192.450 224,64 187,97 1.320.200 1.974.44
1
149,56 90,06 1.943.00
0
3.015.252 155,19 152,71
Tổng hợp
Lê Minh Tùng K44/02.01
11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
Theo bảng trên ta thấy: Chi cục thuế Quận Ba Đình năm nào cũng hoàn
thành vượt mức so với kế hoạch đã đặt ra, số thu của năm sau bao giờ cũng
tăng cao hơn so với cùng kì năm trước cụ thể: gần đây nhất là trong năm 2009
kế hoạc của chi cục đặt ra là thu 1.943 tỷ đồng trong khi đó thực hiện thu
được là hơn 3.015 tỷ đồng, số tuyệt đối tăng là hơn 1.072 tỷ đồng, số tương
đối tăng là 155,19% so với kế hoạch và 152,71% so với cùng kì như thế là
tăng 55% so với kế hoạch và 52% so vơi cùng kì. Số thu đối với khu vực
ngoài quốc doanh trong năm 2009 đạt 113,23% so với kế hoạch, so với cùng
kì tăng 103,69%. Như vậy có thể nói cùng với sự gia tăng phát triển của khu
vực ngoài quốc doanh thì công tác quản lý thu thuế của Chi cục trên địa bàn
cũng bám sát kịp thời để tổ chức quản lý thu thuế nhằm tăng thu cho NSNN
và hạn chế thất thu.
Muốn đạt được kết quả trên đòi hỏi lãnh đạo Quận phải tập trung lãnh
đạo, chỉ đạo công tác thu thuế rất chặt chẽ, sát sao, các phường, các ngành
phải tích cực hỗ trợ và toàn thể cán bộ công nhân viên chi cục thuế Quận phải
quyết tâm phấn đấu cao độ mới hoàn thành nhiệm vụ.
Từ biểu trên ta có thể thấy số thu chiếm tỷ trọng lớn nhất là số thu từ
tiền sử dụng đất là 2.003.500 ( 66% tổng số thu ) sau đấy là số thu khu vực
ngoài quốc doanh là 378.500 ( 12% tổng số thu ).
pháp kê khai. Bên cạnh đó tình trạng nợ đọng, trốn lậu thuế vẫn tồn tại đòi hỏi
phải có những biện pháp chặt chẽ hơn nữa để khắc phục tình trạng này, đồng
thời phấn đấu đạt hiệu quả cao hơn nữa trong công tác thu thuế thời gian tới.
Lê Minh Tùng K44/02.01
13
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
1.2. Tình hình quản lý thuế GTGT đối với hộ cá thể trên địa bàn Quận
Ba Đình
1.2.1. Tình hình quản lý đối tượng nộp thuế
Trong quy trình thu thuế, việc xác định đối tượng nộp thuế luôn là khâu
quan trọng, có tính tiền đề trong quản lý. Do đó vấn đề quản lý mỗi loại đối
tượng nộp thuế nên có những quy định cụ thể phù hợp với thực trạng công tác
quản lý.
Theo luật thuế GTGT thì tất cả các cơ sở kinh doanh đều phải kê khai
đăng kí thuế. Công tác này không chỉ để thực hiện quy trình thu nộp vào ngân
sách mà còn thực thi kiểm tra, kiểm soát quá trình vận động của nền kinh tế.
Qua đó, Nhà nước và cơ quan thuế có thể nắm bắt được số hộ sản xuất kinh
doanh, phân loại và có những chính sách quản lý phù hợp.
Đối với việc quản lý đối tượng nộp thuế thuế GTGT đối với khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn quận Ba Đình chúng ta có thể xem xét
biểu sau:
Biểu 03: Công tác quản lý ĐTNT của hộ cá thể
Ngành nghề Số đăng kí
kinh doanh
Số thực tế
kinh doanh
So sánh
Số tuyệt đối Số tương đối
(%)
Hộ khấu trừ 25 20 -5 80
đồng. Kiểm tra hộ có đơn xin nghỉ kinh doanh nhưng vẫn kinh doanh được
215 hộ, đã truy thu thuế và phạt được 124 triệu . Đồng thời thực hiện ý kiến
chỉ đạo của liên ngành quận, hàng tháng chi cục thuế cung cấp danh sách các
hộ có đơn xin nghỉ kinh doanh cho đội quản lý thị trường quận thay mặt liên
ngành kiểm tra, đến cuối tháng đội quản lý thị trường quận có thông báo
(bằng văn bản ) về kết quả kiểm tra trong tháng để chi cục phối hợp xử lý trốn
lậu thuế.
Tuy nhiên với lực lượng mỏng nên việc thực hiện quản lý gặp rất nhiều
khó khăn. Bên cạnh đó nhận thức của các hộ kinh doanh lại chưa cao, chưa
Lê Minh Tùng K44/02.01
15
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
thấy được ý nghĩa mục đích của việc cấp mã số thuế, do đó có những trường
hợp không trả lại mã số thuế cho cơ quan thuế sau khi ngừng hoạt động, thiếu
ý thức tự giác và hợp tác trong quy trình thu hồi mã số thuế.
*Nguyên nhân khách quan:
Số lượng các cơ sở chi cục quản lý là rất nhiều trong khi đó lực lượng
cán bộ lại quá mỏng nên việc bám sát địa bàn rất khó khăn.
Các cơ sở kinh doanh khi chuyển đổi ngành nghề, lĩnh vực hoạt động
không tiến hành kê khai đăng kí lại nên thực tế hộ kinh doanh cao hơn đăng
kí, trong khi số hộ nghỉ lại quá nhiều. Những hộ kinh doanh với quy mô nhỏ
lại chuyển lĩnh vực hoạt động rất nhanh nên rất khó quản lý nếu cơ quan thuế
phát hiện họ mới chịu ra kê khai đăng kí thuế.
Tính tự giác của các hộ sản xuất kinh doanh còn rất kém, do động đến
lợi ích kinh tế của họ nên họ không nhận thức được tầm quan trọng của công
tác quản lý thuế dẫn đến hiện tượng trốn lậu thuế, không kê khai đăng ký
thuế. Mặt khác công tác tuyên truyền luật thuế mới chỉ diễn ra một cách đơn
lẻ không có họp báo, gặp gỡ trao đổi với nhân dân, đại biểu nhân dân nên
nhận thức của người dân còn hạn chế, hiểu biết sơ qua lại có cái nhìn không
mấy thiện cảm đối với ngành thuế và cán bộ thuế, do vậy đôi khi không chịu
Chi cục quản lý 6640 hộ sản xuất kinh doanh, đây là một con số lớn,
trong đó có các hộ nộp thuế theo phương pháp khấu trừ, kê khai, khoán doanh
thu. Nhưng phần lớn các hộ nộp thuế theo phương pháp kê khai và khoán là
chủ yếu còn theo phương pháp khấu trừ là rất ít (20 hộ). Vì vậy công tác quản
lý đòi hỏi phải quản lý giá tính thuế, các hóa đơn chứng từ, sổ sách liên quan
tới doanh thu tính thuế.
1.2.2.1 Quản lý căn cứ tính thuế đối với các hộ nộp thuế theo phương
pháp khấu trừ
Đối với các hộ nộp thuế theo phương pháp khấu trừ, đơn vị sản xuất
kinh doanh đã thực hiện việc mua bán hàng hóa dịch vụ có hóa đơn chứng từ,
Lê Minh Tùng K44/02.01
17
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
ghi chép sổ sách kế toán. Việc quan trọng trong công tác quản lý căn cứ tính
thuế là giá tính thuế ghi trên hóa đơn thuế GTGT. Trong thực tế có rất nhiều
trường hợp các đơn vị kinh doanh cấu kết với nhau để kê khai giá tính thuế
GTGT đầu vào tăng lên làm tăng chi phí đầu vào hoặc ghi giảm so với thực tế
để giảm doanh thu tính thuế. Như vậy có thể nói quản lý chặt chẽ hóa đơn
chứng từ là điều hết sức quan trọng, do đó các cán bộ thuế ngoài chuyên môn
vững chắc còn phải nắm bắt được tình hình thực tế cũng như về kiến thức
thực tế.
Năm 2009 Chi cục quản lý 20 ĐTNT theo phương pháp khấu trừ với số
thuế là 85.167.500 đồng. Do đối tượng quản lý ít nên việc quản lý căn cứ tính
thuế đối với đối tượng này là tương đối tốt. Việc quản lý tờ khai, các hộ đã kê
khai đầy đủ đúng mẫu tờ khai Thuế GTGT và việc kê khai là hoàn toàn chính
xác, không có sự vi phạm về việc sử dụng hóa đơn chứng từ cũng như việc
ghi chép sổ sách kế toán.
Về cơ bản công tác quản lý căn cứ tính thuế đối với các hộ khấu trừ là
tương đối thuận lợi, có được những kết quả trên là do những nguyên nhân chủ
yếu như:
đơn chứng từ chưa đảm bảo quy định. Mặt khác tính tự giác của các hộ kinh
doanh chưa cao, lợi dụng quá trình quản lý thuế tự kê khai, tự tính thuế không
đúng với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là các nhà hàng,
karaoke, khách sạn…
Qua quá trình điều tra, xác minh chi cục đã tiến hành lập biên bản một
số đối tượng có hành vi trốn lậu thuế như: khai báo sai hóa đơn chứng từ, cố
tình vi phạm chế độ sổ sách kế toán… Tất cả những trường hợp trên đều bị
truy thu thuế và được áp dụng những mức phạt thỏa đáng. Điển hình như:
Lê Minh Tùng K44/02.01
19
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
Biểu 04: Quản lý doanh thu tính thuế một số trường hợp điển hình nộp thuế
theo phương pháp kê khai.
Đơn vị tính: 1.000 đồng
Tên Ngành nghề
Doanh thu
kê khai
Doanh thu
điều tra
Doanh thu
tính thuế
Lê Viết Linh Dịch vụ 12.452 17.459 17.459
Trần Đăng Khoa Thương nghiệp 18.490 25.815 25.815
Phạm Thu Thủy Khách sạn 14.526 19.465 19.465
Đinh Văn Giàu Ăn uống 8.412 10.652 10.652
Bảng số liệu trên cho ta thấy doanh thu thực tế cao hơn nhiều so với
doanh thu kê khai. Đây mới chỉ là những trường hợp điển hình. Còn có những
hành vi trốn thuế khác rất khó nhận biết với thủ đoạn ngày càng tinh vi, bất
chấp thủ đoạn vì mục tiêu lợi nhuận. Trong tình hình hiện nay đòi hỏi các cán
bộ thuế phải có năng lực và cố gắng hơn nữa mới có thể phát hiện và xử lý
Trích:
STT Ngành nghề
Tỷ lệ
GTGT/DT
Quận Huyện
V Dịch vụ ăn uống 33 23
VI Dịch vụ lưu trú và dịch vụ khác
1 Dịch vụ lưu trú
a Cho thuê nhà làm văn phòng, cửa hàng; cho người nước
ngoài thuê nhà; cho các đối tượng khác thuê nhà để ở; cho
thuê máy móc, thiết bị.
38 33
b Cho học sinh, sinh viên, công nhân khu lao động thuê
nhà; kinh doanh nhà trọ.
30 25
c Kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ. 38 33
2 Dịch vụ cầm đồ 38 38
3 Dịch vụ khác 33 28
Xuất phát từ công thức trên, công việc đặt ra cho cán bộ thuế là phải
nắm bắt mức độ chuyển biến hoạt động sản xuất kinh doanh của các đối
tượng nộp thuế trong một thời gian nhất định, từ đó có mức điều chỉnh doanh
thu một cách hợp lý, giải quyết hài hòa lợi ích giữa những người nộp thuế,
đồng thời tránh thất thu cho ngân sách nhà nước. Thực tế hiện nay chi cục
đang áp dụng hai phương pháp kiểm tra: kiểm tra theo ngành nghề và kiểm tra
toàn diện kết hợp ra soát các đối tượng kinh doanh trong kỳ để lập danh sách,
kiểm soát doanh thu đối với đối tượng này.
Kết thúc năm 2009 chi cục thuế quận Ba Đình đã thực hiện kiểm tra rà
soát mức doanh thu ấn định và đã tiến hành điều chỉnh cho hơn 1000 hộ, số
thuế tăng 85.546.000đồng. Tuy còn nhiều vấn đề vướng mắc song chi cục đã
Lê Minh Tùng K44/02.01
Lê Minh Tùng K44/02.01
22
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
lợi riêng gây thất thu lớn cho ngân sách và tạo nên thái độ không tốt đối với
các hộ kinh doanh hợp pháp.
Qua phân tích đánh giá ngoài những ưu điểm, lợi thế đã đạt được vẫn
còn những tồn tại đòi hỏi các cấp lãnh đạo ngành thuế và các ban ngành liên
quan sớm tìm ra giải pháp khắc phục, đưa quản lý thuế GTGT đối với khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh đi vào nề nếp và có hiệu quả.
1.2.3. Tình hình quản lý công tác thu nộp thuế
Công tác thu nộp thuế là công đoạn cuối cùng của chu trình tính thuế.
Vấn đề quản lý khâu nộp thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được
thực hiện tốt hay không tốt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả động viên vào
ngân sách và phản ánh xu hướng của nền kinh tế.
Theo luật định, hạn nộp tờ khai thuế GTGT cho cơ quan thuế chậm
nhất vào ngày 20. Sau đó cán bộ quản lý xem xét kiểm tra tờ khai, nếu đúng
sẽ kí xác nhận vào tờ khai và chuyển cho bộ phận nghiệp vụ của chi cục để
tính toán số thuế phải nộp. Sau khi tính toán số thuế phải nộp, bộ phận nghiệp
vụ trình lãnh đạo chi cục rồi ra thông báo cho cơ sở phải nộp số tiền thuế phải
nộp vào kho bạc theo một thời hạn nhất định
Công tác tổ chức quản lý thu nộp thuế tại chi cục trong thời gian qua:
Biểu 05: Tình hình quản lý thu nộp thuế GTGT đối với hộ cá thể trên
địa bàn quận Ba Đình thời gian qua:
Đơn vị: 1.000.000 đồng
Số thuế nộp vào kho
bạc
Số thuế ghi thu So sánh
Tuyệt đối Tương đối
Lê Minh Tùng K44/02.01
23
người dân về việc chấp hành luật ngày càng một nâng cao.
Lê Minh Tùng K44/02.01
24
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện tài chính
Có thể kể đến một số biện pháp chủ yếu mà chi cục thuế đã sử dụng để
đạt được kết quả đáng khích lệ trên :
Chi cục đã chủ động cử cán bộ xuống tận địa bàn nhằm tăng cường kiểm tra
địa bàn, nhằm phát hiện hộ mới chống bỏ sót và phối hợp với hội đồng tư vấn
thuế phường tích cực bám sát địa bàn. Tiến hành kiểm tra các hộ kinh doanh
trong việc chấp hành chính sách thuế như: Kê khai thuế, bảo quản và sử dụng
hóa đơn chứng từ, báo cáo nghỉ, xử phạt theo đúng pháp luật. Cán bộ thuế
tích cực đôn đốc các đối tượng nộp thuế thong qua tuyên truyền giải thích,
động viên các hộ nộp thuế theo đúng thời hạn quy định… do vậy ý thức chấp
hành của người dân ngày càng được nâng cao. Chi cục cố gắng đẩy mạnh việc
thu hết số ghi thu trong tháng, hạn chế nợ đọng mới phát sinh và tăng cường
thu hồi số nợ đọng trong tháng. Chi cục phối hợp chặt chẽ với kho bạc trong
việc tiếp nhận, quản lý việc nộp thuế của các hộ, qua đó giúp cho việc cán bộ
theo dõi, quản lý tình hình thu nộp được tốt hơn.
1.2.4. Công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu.
Công tác chông thất thu và công tác liên ngành đã được quận quan tâm.
Hàng tháng, hàng quý, năm đều có sơ kết tổng kiểm điểm các ngành.
Công tác chống thất thu thuế của Chi cục đã được quận chỉ đạo, quyết
tâm thực hiện đúng chỉ thị 15/2005/CT-TTg ngày 15/04/2005 của Thủ tướng
chính phủ về xử lý nợ đọng và chống thất thu ngân sách nhà nước. Nên kết
quả chống thất thu năm 2009 đã thu được tổng số thuế và tiền phạt là
2.105.600.000 đồng góp phần hoàn thành vượt mức kế hoạch thu thuế năm
2009. Trong đó có một số khoản chống thất thu lớn điển hình cụ thể sau:
- Thu của hộ mới ra kinh doanh được : 1.472 hộ với số tiền tương ứng
là 1.642.500.000 đồng.
- Kiểm tra hộ có đơn xin nghỉ kinh doanh nhưng vẫn tiếp tục kinh