cảm nhận về thời gian của XD trong khổ 2 của vội vàng - Pdf 26

Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu và tuổi trẻ. Ông được mệnh
danh là “ông hoàng của thi ca tình yêu”. Trước cách mạng, với hai
tập “Thơ Thơ” và “Gửi hương cho gió”, Xuân Diệu đã chính thức
trờ thành “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh).
Bài thơ “Vội Vàng” nằm trong tập “Thơ Thơ” là bài thơ rất tiêu
biểu cho phong cách thơ tình yêu của Xuân Diệu viết về mùa
xuân, tuổi trẻ. Đoạn thơ ta sắp phân tích sau đây là đoạn thơ thể
hiện quan niệm nhân sinh của Xuân Diệu về thời gian và tuổi trẻ
và niềm khao khát được sống mãnh liệt, sống có ý nghĩa, sống hết
mình với mùa xuân tuổi trẻ, thời gian cuộc đời:
“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua

Mau đi thôi ! mùa chưa ngả chiều hôm”
II. THÂN BÀI
1. Khái quát: Bài thơ “Vội Vàng” nằm trong tập “Thơ Thơ”, xuất
bản năm 1938 là bài thơ tiêu biểu của tập thơ nói riêng, của hồn
thơ Xuân Diệu nói chung. “Vội vàng” là một trong những bài thơ
tiêu biểu của Xuân Diệu. Bài thơ thể hiện tập trung sở trường của
Xuân Diệu trong việc bộc lộ cái tôi và cách cảm nhận thiên nhiên,
sự sống. Cả bài thơ thể hiện một nhân sinh quan mang ý nghĩa
nhân bản sâu sắc. Đoạn thơ ta phân tích nằm ở phần giữa của bài
thơ “Vội vàng”. Ở đoạn này thi sĩ tập trung thể hiện quan niệm về
thời gian.
Thời gian trong thi ca trung đại là “thời gian tuần hoàn”, nghĩa là
thời gian được hình dung như một vòng tròn liên tục tái diễn, hết
một vòng lại quay về điểm xuất phát, cứ trở đi rồi trở lại mãi mãi.
Mà đã là vòng tuần hoàn thì thời khắc, thời đoạn có ra đi thì cũng
quay trở về. Quan niệm “thời gian tuần hoàn” xuất phát từ cái
nhìn tĩnh có phần siêu hình, lấy sinh mệnh vũ trụ để làm thước đo
thời gian.
Cách thức trình bày của Xuân Diệu là “chống đối”, “tranh cãi” lại

b. Xuân Diệu lấy sinh mệnh cá thể của mình làm thước đo thời
gian. Tức là lấy quỹ thời gian hữu hạn của cuộc đời mình ( sinh
mệnh cá thể ) ra để đo đếm thời gian trong vũ trụ. Thậm chí thi sĩ
lấy quãng ngắn nhất, giàu ý nghĩa nhất trong sinh mệnh của con
người là tuổi trẻ để làm thước đo:
“Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài tuổi trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời ”
Chữ “Xuân” được điệp đi điệp lại cả năm đến sáu lần (trong ba
câu đầu đã có tới năm lần). “Xuân” ấy vừa là xuân của đất trời
vừa là “xuân” của cuộc đời, của tuổi trẻ. Mỗi lần nhắc lại là mỗi
lần ta bắt gặp cái ngậm ngùi của thi nhân. Xuân của thiên nhiên
thì còn mãi mà “xuân” của đời người đã “hết” thì “tôi cũng mất”.
Dù lòng yêu có “rộng” đến bao nhiêu thì “lượng trời” vẫn cứ chật.
Nên “tuổi trẻ nhân gian” không thể “dài” thêm mãi. Ở đây, hệ
thống từ ngữ, hình ảnh được đặt trong thế tương phản đối lập cao
độ (tới – qua, non –già, rộng – chật, xuân tuần hoàn, – tuổi trẻ
chẳng hai lần, còn – chẳng còn) để làm nổi bật tâm trạng nuối tiếc
thời gian, cuộc đời. Vũ trụ có thể vĩnh viễn, mùa xuân rồi cũng
tuần hoàn nhưng tuổi xuân của con người chỉ có một lần, đã qua
là qua mãi. Cho nên Xuân Diệu đã nồng nhiệt phủ định:
“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !”
Thước đo thời gian của thi sĩ là tuổi trẻ. Tuổi trẻ một đi không trở
lại “chẳng hai lần thắm lại” thì làm chi có sự tuần hoàn ! Trong cái
mênh mông của đất trời, cái vô tận của thời gian, sự có mặt của

được hình dung như một cuộc chia lìa. Khoảnh khắc nào cũng là
một chia lìa, một mất mát. Và dòng thời gian được nhìn như một
chuỗi vô tận của những mất mát, chia phôi. Cho nên, thời gian
thẫm đẫm hương vị của sự chia lìa. Dậy lên đó đây khắp không
gian là lời than thở tiễn biệt “khắp sông núi vẫn than thầm tiễn
biệt”. Nó là lời thở than của vạn vật, là không gian đang tiễn biệt
thời gian, mà sâu xa hơn là mỗi sự vật thời gian đang ngậm ngùi
tiễn biệt một phần đời của chính nó.
Những phần đời của sinh mệnh cá thể đang ra đi không thể nào
cưỡng lại, nó tạo nên sự trôi chảy không ngừng, tạo nên sự phôi
pha, phai tàn của từng cá thể:
“Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?”
Gió đùa trong lá không phải là những âm thanh của thiên nhiên
tươi vui của mùa xuân, mà là lời “thì thào” về nỗi hờn giận, buồn
thương. Gió phải chia tay với cây lá mà bay đi; chim chóc trên cây
đang ca hát rộn ràng chào xuân bỗng ngừng bặt, chẳng phải có sự
đe dọa nguy hiểm nào, mà chỉ vì chúng buồn tiếc cho mùa xuân
sắp trôi qua. Thế là chẳng riêng gì Xuân Diệu mà cả vạn vật trong
thiên nhiên cũng thức nhận về cái quy luật nghiệt ngã, cái một đi
không bao giờ trở lại của thời gian ấy. Có phải vậy mà Xuân Diệu
đưa ra một quyết định hợp lí cho mình và cho tất cả mọi người
“Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”.
d. Kết thúc đoạn thơ là một tiếng thốt:
“Chẳng bao giờ ôi! chẳng bao giờ nữa
Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm”
Thi sĩ bỗng thốt lên lời than. Tiếc nuối, lo lắng và chợt tỉnh vì
“mùa chưa ngả chiều hôm”, nghĩa là vẫn còn trẻ trung, chưa già.

dấu ấn Xuân Diệu.
III. KẾT BÀI:
Tóm lại, đoạn thơ thể hiện tâm trạng nuối tiếc thời gian và cuộc
đời của một nhà thơ vốn khao khát sống, sống mãnh liệt hết
mình. Qua đoạn thơ, người đọc thêm trân trọng quan niệm nhân
sinh mới mẻ, tích cực, cảm xúc chân thành của một tâm hồn nghệ
sĩ luôn cháy bỏng niềm yêu cuộc sống. Nói như Giáo Sư Nguyễn
Đăng Mạnh: “Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống
đến cuồng nhiệt. Nhưng đằng sau những tình cảm ấy, có một quan
niệm nhân sinh mới mẻ chưa thấy trong thơ ca truyền thống”.
ĐỀ2:Hãy phân tích sự cảm nhận về thời gian của xuân Diệu qua
đoạn thơ sau đây trong bài “Vội vàng”.
Xuân đang tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…”
BÀI LÀM
“Vội vàng” là một trong những bài thơ đặc sắc nhất trong tập
“Thơ thơ” (1938). Vượt qua dòng chảy thời gian hơn 60 năm rồi,
mà những ý tưởng mới mẻ về thời gian, về tuổi xuân, về tình yêu
đời, yêu cuộc sống… cùng với một giọng thơ nồng nhiệt, đắm say
vẫn lôi cuốn chúng ta một cách kì lạ. Đây là đoạn thơ trích trong
phần 2 bài “Vội vàng” nói lên sự cảm nhận về thời gian của thi sĩ

(“Quả sấu non trên cao”)
2. Bảy câu thơ tiếp theo nói lên nghịch lí giữa tuổi trẻ, đời người
với thời gian và vũ trụ. Và đó cũng là bi kịch của con người, đời
người. Khi “xuân hết”, tuổi trẻ đi qua “nghĩa là tôi cũng mất”.
Mất ý vị cuộc đời. Tuổi trẻ đáng yêu biết bao! Mỗi người chỉ có
một thời son trẻ. Cũng như thời gian trôi qua, tuổi trẻ một đi
không trở lại:
“Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất”.
“Lượng trời cứ chật” mà “lòng tôi rộng”, muốn trường sinh bất tử,
muốn trẻ mãi không già. Quy luật của sự sống thật vô cùng nghiệt
ngã: “Không cho dài thời trẻ của nhân gian”. “Hảo hoa vô bách
nhật – Nhân thọ vô bách tuế” (Nguyễn Du). “Mỗi năm một tuổi
như đuổi xuân đi…” (tục ngữ). Một lần nữa thi sĩ lại đặt ngôn ngữ
trong thế tương phản giữa “rộng” với “chật”, để nói lên cái
nghịch lý của đời người. Cũng là một cách cảm nhận thời gian rất
thơ:
“Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật
Không cho dài thời trẻ của nhân gian”.
Xuân của bốn mùa thì tuần hoàn (xuân khứ, xuân lai, xuân bất
tận) nhưng đời người chỉ có một thời thanh xuân. Tuổi trẻ “chẳng
hai lần thắm lại”. Vũ trụ đất trời thì vĩnh hằng, vô hạn, trái lại đời
người thì hữu hạn. Kiếp nhân sinh nhiều bi kịch. Ai cũng muốn trẻ
mãi không già, ai cũng muốn được sống mãi với tuổi xanh, tuổi
hoa niên. Tiếng thơ cất lên như một lời than tiếc nuối:
“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”.
“Tiếc cả đất trời” vì không được trẻ mãi để tận hưởng mọi cái đẹp
của thiên nhiên và cuộc đời. Đó là lòng yêu đời và ham sống, khao

cũ và có mới sáng tác, như Nguyễn Đình Thư, Phạm Hầu, Phan
Khắc Khoan, Thu Hồng, Huyền Kiêu, Yến Lan, Tế Hanh… Họ làm
thành dòng chính của “Thơ mới” thời kỳ này. Bên cạnh dòng chính
đó, có hai xu hướng thơ mới đáng chú ý hơn cả: “ Thơ điên”( còn
gọi là “Trường thơ loạn” của nhóm thơ Bình Định tập hợp xung
quanh Hàn Mặc Tử) và xu hướng thơ được gọi là “tả chân”, chuyên
tả cảnh – trừ Nam Trân đi vào cảnh xứ Huế, còn thì đều tả cảnh
quê: Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ. Đi vào đồng quê nhưng
không chỉ để tả cảnh quê mà còn với cả hồn thơ “chân quê” thì
chỉ có Nguyễn Bính, thi sĩ “thơ mới” có công chúng rộng rãi nhất.
Với Xuân Diệu – nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới, tiêu biểu
đầy đủ nhất cho thời đại (thời đại chữ “tôi”- NHK thêm) –
cái “tôi” đã thật sự được giải phóng. Nó không còn dáng vẻ bỡ
ngỡ, dè dặt trước đó, mà nó phát triển hết sức thành thật, táo bạo
những cảm xúc, khát khao của trái tim đang tràn đầy, cháy bỏng
của nó. Thơ Xuân Diệu là niềm khát khao sống, khát khao đến
cuồng nhiệt. Con người ấy muốn uống cạn, một cách vồ vập, “cái
ly tràn đầy sức sống”, – lời Tagore. Vội vàng là bản tuyên ngôn sôi
nổi của quan niệm nhân sinh mới mẻ đó. Nhưng đồng thời, Xuân
Diệu hiểu rất rõ sự trôi chảy của thời gian, sự tàn phai của tuổi
trẻ, nỗi bất trắc của cuộc đời. Vì vậy, con người yêu sống nồng
nàn ấy luôn “vội vàng”, “giục giã” để tận hưởng cuộc sống. Xuân
Diệu muốn đốt lên ngọn lửa trái tim và tuyên chiến quyết liệt với
tình trạng “chết mòn” mà ông gọi là “nỗi đìu hiu của cái Ao Đời
bằng phẳng”:
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
Không thể không coi đó là một thái độ nhân sinh tích cực: dứt
khoát không chấp nhận cuộc sống tẻ nhạt, mù tối, vô danh vô
nghĩa.

Xuân Diệu, tâm trạng cô đơn không còn âm thầm, lặng lẽ như ở
người xưa, mà trở thành một cảm giác rất nhục thể, đặc biệt sâu
sắc, da diết, thấm thía tận xương tủy:
Em sợ lắm, giá băng tràn mọi nẻo
Trời đầy trăng lạnh lẽo buốt xương da.
Cái “tôi” đã đào tới tận đáy của nó, nó bỗng cảm thấy tất cả sự
nhỏ bé, trơ trọi của nó trong một thế giới bao la xa lạ. Cuối cùng,
nó sợ bắt gặp chính nó:” Chớ để riêng em phải gặp lòng em” – tức
là nó mơ hồ hiểu rằng không thể lấy cá nhân là cứu cánh cho cá
nhân. Vậy là, với Xuân Diệu, “Thơ Mới” đã lên tới đỉnh cao để rồi
bắt đầu đi vào khủng hoảng bế tắc.
Khó nói hết vai trò cách tân to lớn của Xuân Diệu đối với thơ ca
Việt Nam khi đó. Đúng là “Xuân Diệu là người đã đem đến cho thơ
ca Việt Nam nhiều cái mới nhất” (Vũ Ngọc Phan). Cái mới ấy trước
hết là ở một nguồn sống mới, một cách cảm xúc mới, được diễn
đạt bằng một giọng điệu, một ngôn ngữ nồng nàn, trẻ trung chưa
từng có. Đồng thời ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng Pháp để
đi sâu vào cái huyền diệu bên trong “của cái tôi”, Xuân Diệu có
những rung cảm tinh tế để cảm thụ và diễn tả những biến thái tế
vi của trái tim và ngoại cảnh. Không ít câu chữ trong thơ Xuân
Diệu còn sượng, quá “Tây”, nhưng dần dần, với bút lực sáng tạo
dồi dào, Xuân Diệu đã nhanh chóng đạt đến độ nhuần nhị, tinh tế,
vừa mới mẻ thanh tân vừa Việt Nam. Nhà nghiên cứu Phạm Thế
Ngũ nhận xét: “ Sau 1940, người ta không còn mè nheo Xuân Diệu
về tật ngô nghê, người ta ngâm nga và bắt chước. Thi sĩ qúa đà
với tác động mầu nhiệm của thiên tài, vừa giáo hóa mình vừa cảm
hóa người, lôi công chúng vào chia sẻ và thưởng ngoạn ngôn ngữ
của mình, biến nó thành mẫu mực của thưởng thức”
*
.

như một đứa trẻ. Điệp tức “dừng” được lặp lại hai lần trong khổ
thơ diễn tả sự níu kéo, van nài. Chỉ qua khổ thơ đầu, ta có thể
thấy quan niệm nhân sinh mới mẻ của Xuân Diệu: ông muốn tận
hưởng cuộc đời. Nhưng ngay sau đó, nhà thơ như bừng tỉnh khi
chợt nhận ra rằng không cần “tắt nắng”, “buộc gió”, con người
vẫn có thể tận hưởng được mùa xuân cuộc đời. Mùa xuân cuộc đời
ở ngay trong hiện tại:
Của ong bướng này đây tuần tháng
mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Mọi vẻ đẹp của mùa xuân cuộc đời hiện ra ngay trước mắt người
đọc. Vẫn nghệ thuật điệp cú pháp, điệp từ nhưng ở đây những câu
thơ tám tiếng trải dài ra vừa tạo cảm giác mê đắm của tác giả
tước mùa xuân cuộc đời vừa để liệt kê cỏ cây, chim chóc, ong
bướm trong mùa xuân, thời kì đẹp đẽ nhất, rực rỡ nhất. Từ “ này
đây” được điệp lại hai lần trong khổ thơ như chào mời, vẫy gọi
mọi người đến tận hưởng vẻ đẹp của mùa xuân, cuộc đời. Trong
cái nhìn trẻ trung của Xuân Diệu, cái trần gian hấp dẫn như một
bữa tiệc lớn và ông hào phóng mời mọc mọi người. Ở đây ong
bướng trong tuần tháng mật, khoảng thời gian ngọt ngào nhất,
đẹp đẽ nhất; có hoa đồng nội với sắc màu thắm tươi nhất; có lá
non đang ở độ non tơ nhất và chim muông đang ca những khúc ca
hạnh phúc nhất. Đọc những câu thơ của Xuân Diệu ta cứ ngỡ mặt
đất đã hóa thiên đường mà còn đẹp hơn cả thiên đường bởi thiên
đường của chúa làm gì có tình yêu còn thiên đường trên mặt đất
qua trái tim nồng nhiệt, đắm say của Xuân Diệu thì thấm đẫm một
màu yêu. Ở đây hoa lá, chim chóc, ong bướm đều là của nhau, đều
đắm say nhau như trong tuần tháng mật. Đối với Xuân Diệu, hạnh

Xuân Diệu. Đang ngây ngất tận hưởng vẻ đẹp của cuộc đời trong
niềm vui hân hoan, phấn khởi thì cảm xúc bất ngờ chuyển đổi bởi
nhà thơ nhận ra bước đi nghiệt ngã của thời gian:
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
Dấu chấm giữa dòng ngắt câu thơ thành hai phần, mạch cảm xúc
bị đứt đoạn diễn tả cảm giác ngỡ ngàng, sững sờ của nhà thơ:
đang ngây ngất tận hưởng vẻ đẹp của cuộc đời thì ông bỗng nhận
ra cuộc đời sao mà ngắn ngủi, mong manh đến thế. Nhưng với
một con người khao khát sống như Xuân Diệu, ông không chịu
khuất phục trước bước đi của thời gian:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoàI XUÂN
Nhà thơ không hoài xuân khi tuổi xuân đã tàn, đã hết mà ông hoài
xuân khi tuổixuân đang mơn mởn, tràn đầy.
Nhà thơ ý thức sâu sắc được cái hữu hạn của mùa xuân – tuổi trẻ
trong dòng thời gian trôi chạy nên càng tiếc nuối, xót xa. Xuân
DIệu có một cái nhìn mới mẻ về thời gian, kiếp người. Các nhà thơ
xưa cho rằng cuộc sống tuần hoàn, hết ngày lại dêm, xuân qua hễ
lại như một điệp khúc, con người là một phần nhỏ bé của vũ trụ,
tuần hoàn cùng vũ trụ nên con người không sợ già, sợ chết, cứ
sống ung dung, thanh thản:
Ai bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai
Đến thời Xuân Diệu, do sự bừng tỉnh của ý thức cá nhân nên ông
đã có những quan niệm mới mẻ về thời gian và kiếp người. Với
ông, thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại, mất thời gian là
mất tuyệt đối:
Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mùa xuân là danh từ chỉ thời gian trừu tượng nhưng đã được cụ
thể hóa, vật chất hóa bằng các cụm từ: đương tới – đương qua,

ta liên tưởng đến một vòng tay lớn như muốn quấn quýt, níu giữ
cả đất trời. Cách xưng hô của Xuân Diệu cũng thay đổi từ “tôi”
sang “ta”. Nhà thơ như muốn bứt ra khỏi giới hạn của cái tôi chật
chội để trở thành cái ta rộng lớn sánh ngang cùng trời đất đầy
kiêu hãnh, tự hào. Tiếp theo là những câu thơ dài với nhịp gấp
gáp như giục giã những khát vọng cháy bỏng trong tâm hồn nhà
thơ. Vẫn là ước muốn sống hòa nhập với cuộc đời, tận hưởng vẻ
đẹp của cuộc đời nhưng ở đây đó không chỉ là ước muốn của cá
nhân mà là của cả cộng đồng. Nếu như ở đoạn đầu bài thơ, điệp từ
“này đây” như sự chào mời, vẫy gọi, khẳng định vẻ đẹp nơi trần
gian là có thật thì ở đoạn cuối bài thơ, điệp từ “ta muốn” như sự
hưởng ứng đầy hăm hở, nhiệt tình. Từ “ta muốn” lại kết hợp với
những động từ chỉ trạng thái yêu đương trong quan hệ tăng tiến:
ôm, riết, say, thâu, cắn diễn tả sự thụ hưởng ngày càng đê mê,
say đắm. Trái tim nhà thơ như muốn mở căng ra để thu hết vào đó
cả thiên nhiên, đất trời và như thế, ông trở thành một tình nhân
cương tráng của cuộc đời. Với nhà thơ Xuân Diệu, cuộc đời không
chỉ được định nghĩa bằng tốc độ mà còn định nghĩa bằng cường
độ, một cường độ hừng hực chất Xuân Diệu. Trong cái nhìn xanh
non, biếc rờn của nhà thơ, cuộc đời như một thiếu nữ trẻ trung với
đôi môi, đôi má hồng xinh xắn mà nhà thơ không nén nổi lòng
yêu:

Hỡi xuân hồng! Ta muốn cắn vào ngươi

Từ cắn được dùng hết sức táo bạo, mới mẻ diễn tả sự thụ hưởng
đến tuyệt đối. Nhà thơ đã chiễm lĩnh được cái đẹp trong ngây
ngất, đắm say.
Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới. Ông đã
để lại cho kho tàng văn học Việt Nam nhiều tác phẩm hay, có giá

tươi vui này. Nó bộc lộ niềm ham sống, khát sống, tận hưởng đến
vô biên và tuyệt đích của thi nhân:

“Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn
Làm dây đa quấn quít cả mình xuân
Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần
Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất”

Đoạn thơ mở đầu bằng bốn câu thơ ngũ ngôn chứa đựng những
khát vọng mãnh liệt và táo bạo của thi nhân:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi”

Bốn câu đầu có lẽ là độc đáo nhất trong bài thơ vì chỉ riêng nó là
thể ngũ ngôn. Nó là thể thơ phù hợp cho việc thể hiện những
cảm xúc vồ vập của Xuân Diệu bởi câu thơ ngắn lại giàu nhịp điệu.
Điệp ngữ “tôi muốn” được nhắc lại hai lần cùng với đó là hai động
từ mạnh “tắt, buộc” đã làm nổi bật khao khát của nhà thơ. Đó là
khao khát “tăt nắng, buộc gió” để giữ lại màu hoa “Cho màu đừng
nhạt mất” để giữ lại sắc hương “ cho hương đừng bay đi”. Đó là
khát vọng chiếm đoạt quyền năng của tạo hóa để buộc hương hoa
tươi thắm mãi bên đời. Ngông cuồng hơn cả là nhà thơ muốn vũ
trụ ngừng quay, thời gian dừng lại để thi nhân tận hưởng được
những phút giây tuổi trẻ của đời mình. Bởi nhà thơ sợ” tuổi trẻ
chẳng hai lần thắm lại”, sợ ”đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh
viễn”. Suy cho cùng khát vọng ấy của Xuân Diệu thật ngông
cuồng nhưng cũng rất hợp lí.
3. Bảy câu thơ tiếp theo, với tâm hồn khát sống, khát yêu, tận

chồi tạo nên những “cành tơ” với những chiếc lá tươi non phất
phơ tình tứ. Điểm vào phong cảnh ấy là tiếng hót đắm say của loài
chim yến anh đã tạo nên “khúc tình si” say đắm lòng người.

Cặp mắt “xanh non biếc rờn” của Xuân Diệu còn mang đến cho
người đọc một nguồn năng lượng mới từ mùa xuân: ”Và này đây
ánh sáng chớp hàng mi/ Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa”.
Ánh sáng buổi sớm mai như phát ra từ cặp mắt đẹp vô cùng của
nàng công chúa có tên là Bình Minh. Nàng vừa tỉnh giấc nồng suốt
một đêm qua, mắt chớp chớp hàng mi rồi bừng nở ra muôn vàn
hào quang. Chính ánh sáng ấy đã tưới lên cảnh vật càng làm cho
bức tranh thiên nhiên giống như một nguồn nhựa sống chảy dào
dạt xung quanh cuộc sống của con người. Thế mới hiểu những
khao khát của Xuân Diệu là đúng:

“Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần
Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất”
Hoặc có khi ông khao khát đến cháy bỏng:
“Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời
Kẻ đựng trái tim trìu máu đất
Hai tay chín móng bám vào đời”

Xuân Diệu đã kết lại bức tranh mùa xuân bằng một câu thơ đầy
gợi cảm “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Đây là một
cách so sánh đầy gợi cảm, có một chút nhục cảm. Tháng giêng
thanh tân, diễm lệ, đầy ánh sáng, màu sắc, âm thanh và hương
thơm trờ thành “cặp môi gần” rất “ngon, ngọt” của người tình
nhân. Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm. Tuổi trẻ là tuổi đẹp
nhất của đời người. Và chắc chắn phần ngon nhất của người thiếu
nữ là bờ môi chín mọng kia.

trong mùa xuân “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”.

Đoạn thơ để lại dấu ấn nghệ thuật sâu sắc. Thể thơ tự do, sử dụng
nhiều điệp ngữ, điệp từ, so sánh ẩn dụ… Ngôn ngữ thơ chọn lọc.
Tất cả đã tạo nên một đoạn thơ hay mang đậm phong cách thơ
Xuân Diệu.

Tóm lại, đoạn thơ ta vừa phân tích ở trên là đoạn thơ hay nhất
trong bài thơ “Vội vàng”. Bằng ngôn ngữ rất đỗi Tây phương,
nhưng tình cảm của nhân vật trữ tình lại rất gần gũi, thân quen.
Xuân Diệu đã mang đến cho người đọc một giọng thơ lạ, một cách
cảm nhận về mùa xuân rất đỗi nồng nàn. Qua đó thấy được lòng
yêu đời và khát vọng sống mãnh liệt của thi nhân. Đúng như nhà
phê bình Thế Lữ đã nhận xét “Như một tấm lòng sẵn sàng ân ái,
Xuân Diệu dang tay chào đón nhựa sống rào rạt của cuộc đời”.
Đề6:Cảm nhận của anh chị về cái tôi trữ tình qua đoạn thơ(CUỐI)
sau trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu:
“Ta muốn ôm

Hỡi Xuân Hồng ta muốn cắn vào ngươi”
Bài làm
Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu đời tha thiết. Cái “say
đắm đuối” và “non xanh” mơn mởn đã hòa vào nhau thành những
bản tình ca réo rắt. Đó không phải đơn giản là tình ca của ình yêu
mà còn là khúc hát giao hòa của con người và thiên nhiên, cuộc
sống “vội vàng”, mà đặc biệt là những câu cuối dài, bằng bút
pháp sôi nổi và đầy biến hóa, đã thể hiện rõ cái chất mãnh liệt
nồng nàn rất riêng của Xuân Diệu:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

sống”. Sự sống đã bắt đầu từ lâu, từ triệu triệu năm trước, nhưng
với Xuân Diệu sự sống “mới bắt đầu”.Mới bắt đầu bởi chỉ hôm nay
đây, lúc này đây, Xuân Diệu mới nhìn được hết từng khía cạnh
từng chi tiết nhỏ của cuộc sống. Vì “mới bắt đâu” nên cái gì cũng
non xanh, tất cả đều mang một dáng vẻ hồn nhiên, ngây thơ, trữ
tình” “mây đưa gió lượn”, “cánh bướm của tình yêu”… Cảnh vật
không quá động mà cũng không quá tĩnh: “mây đưa”, “bướm
lượn”… Những chuyển động nhẹ nhàng, rất nhẹ nhàng. Xuân Diệu
sợ cái bình yên tẻ nhạt bởi vì nó khơi dậy nỗi cô đơn ẩn náu trong
nhà thơ, Xuân Diệu cũng sợ cái gì quá mạnh mẽ phá vỡ “thiên
đường trần thế”. Nỗi ám ảnh đó dườn như luô luôn tồn tại trong
suy nghĩ của nha thơ.
Đúng như người ta nói: thơ không có tình yêu thì không phải
la thơ Xuân Diệu. “Cánh bướm tình yêu” khẽ khàng xuất hiện,
dường như vô tình se duyên co Xuân Diệu và cuộc sống. Để rồi
lòng Xuân Diệu chuyển sang đắm say mãnh liệt: “thâu”, “một cái
hôn nhiều”… Thiên nhiên hiện lên từng chi tiết sắc sảo: non nước,
cây, cỏ rạng… Hạnh phúc như tràn ngập tuôn ra bắt đâu từ “cái
hôn nhiều”. Đó cũng là nghệ thuật thể hiện của Xuân Diệu. Xuân
Diệu thật sự “say”: “chuếch choáng mùi thơm”, “đã đầy ánh
sáng”, “no nê thanh sắc của đời tươi”. Xuân Diệu đã hoàn tất bức
tranh thiên nhiên đường hạnh phúc bằng ánh sáng rực rỡ mà dịu
dàng lan tỏa khắp nơi. Đó cũng là lúc khép lại bức tranh theo cách
riêng của Xuân Diệu. Ông kết thúc vào đúng lúc thiên nhiên đẹp
nhất vì như vậy vẻ đẹp sẽ như vĩnh cửu không bao giờ phai nhạt.
Xuân Diệu thiếu thốn hạnh phúc nên ông nâng niu từng phút giây
hạnh phúc. Ông xúc động thốt lên:
Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
Từ “cắn” làm cho lòng thơ trở nên độc đáo, nó in thành dấu ấn
của riêng Xuân Diệu, dấu ấn của niềm khát khao hạnh phúc mãnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status