Trờng đại học s phạm hà nội
Khoa giáo dục mầm non
Bài tập nghiệp vụ cuối khoá
Tìm hiểu khả năng phát âm đúng của
trẻ mâũ giáo lớn
Trờng mầm non dị nậu - tam nông- phú thọ
Ngời hớng dẫn : T.s Đinh Hồng Thái
Ngời thực hiện : Hán Thị Sinh
Lớp ĐHTC Việt trì - Khoa GDMN
Phú thọ tháng 3 năm 2004
Lời cảm ơn
Để hoàn thành bài tập nghiệp vụ cuối khoá này tôi đã đợc sự giúp đỡ tận tình
của thầy giáo Đinh Hồng Thái cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục
mầm non, Trờng Đại học s phạm I Hà Nôị; Sự giúp đỡ của các cô giáo ở các lớp
mẫu giáo lơn, đặc biệt là Ban giám hiệu trờng mẫu giáo Dị Nậu
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo khoa giáo dục mầm non,
Trờng Đại học s phạm I Hà Nội. Đặc biệt xin cảm ơn thầy Đinh Hồng Thái - Ngời
đã trực tiếp hớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành bài tập nghiệp vụ cuối khoá này.
Kính chúc các thầy, cô giáo luôn mạnh khoẻ, công tác tốt; Chúc khoa Giáo
dục mầm non đạt nhiều thành tích hơn nữa trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Hán Thị Sinh
Sinh viên lớp đại học mẫu giáo
Phần I : Mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
Từ ngàn đời xa cha ông ta đã dạy :
Uốn cây từ thuở còn non
Dạy con từ thuở con còn thơ ngây.
Thấm nhuần lời dạy đó của ông cha, ngày nay thế hệ trẻ Việt Nam nói chung và
thế hệ mầm non nói riêng đang nhận đợc sự quan tâm chăm sóc của toàn xã hội
với tinh thần hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em Bởi vì trẻ em không
4. Kết luận s phạm.
IV. Phơng pháp nghiên cứu
1. Đọc tài liệu
2. Quan sát ghi chép
3. Thực nghiệm s phạm
4. Xử lý số liệu
V. Đối tợng và khách thể nghiên cứu
1. Đối tợng nghiên cứu : Khả năng phát âm của trẻ mẫu giáo và biện pháp rèn
phát âm cho trẻ.
2. Khách thể : 30 cháu ở độ tuổi mẫu giáo lớn của trờng mầm non
Dị Nậu - Tam Nông - Phú Thọ
Phần II
Nội dung nghiên cứu
Chơng I
I. Cơ sở lý luận ngữ âm
1. Đặc điểm của âm tiết tiếng Việt :
Là tính phân tiết cao, mỗi âm tiết nó đứng cách nhau. Mỗi âm tiết bao giờ
cũng gắn liền với thanh điệu cũng làm thay đổi ý nghĩa của âm tiết.
Vì vậy : Lời nói của con ngời bao giờ cũng là lời nói thành tiếng. Khi nói
chúng ta phải phát âm ra thành từ, thành câu, thành văn bản để truyền đạt nội dung
thông báo. Khi nghe chúng ta tiếp nhận các âm thanh ngời nói phát ra, từ đó hiểu
đợc nội dung của lời nói. Trong âm thanh của lời nói do một cá nhân phát ra,
ngoài những đặc điểm cụ thể còn có một cái chung nhất mang chức năng xã hôị.
Những âm thanh cụ thể của lời nói, của mỗi cá nhân là những thực thể mang chức
năng xã hội.
2. Hệ thống ngữ âm của âm tiết tiếng Việt
Có 5 thành phần : Sắp xếp theo sơ đồ sau :
Âm đầu
1
Thanh điệu
Bậc 2 : Âm đệm Âm chính Âm cuối
* Thanh điệu là sự thay đổi độ cao những âm tiết : la, lá, lã đối lập với là, lả,
lạ. Các âm tiết trớc đều đợc phát âm với cao độ cao, các âm tiết sau phát âm với
cao độ thấp.
* Thanh điệu là sự thay đổi về âm điệu, trong những âm tiết trên thì những
âm tiết cùng thuộc độ cao lại đối lập nhau về sự biến thiên của độ cao, trong thời
gian âm tiết la đợc phát âm với cao độ hoàn toàn bằng phẳng; còn lã với đờng
nét biến thiên, cao độ không bằng phẳng, âm điệu là những đờng nét biến thiên về
cao độ.
* Nguyên âm trong Tiếng Việt đợc coi là âm chính, nguyên âm là khi nói âm
vị phát ra luồng hơi đi tự do không có gì cản trở.
VD : Khi phát âm a, á â hơi thoát ra tự do không bị cản ở chỗ nào cho nên
 cũng là nguyên âm. Xét về mặt cấu tạo ngời ta phân chia phân biệt nguyên
âm đơn và nguyên âm đôi.
+ Nguyên âm đôi là âm vị gồm 2 nguyên âm ghép lại liền nhau. Khi phát âm
thì đọc nhanh, đọc lớt từ âm này sang âm kia đầu mạnh sau yếu hơn, do đó âm sắc
chủ yếu của các nguyên âm đôi là do âm đầu quyết định. Có 3 nguyên âm đôi đó
là : uô, ơ, ie. Xét về độ dài, cần phân biệt nguyên âm ngắn và nguyên âm dài,
nguyên âm ngắn khi phát ra không thể kéo dài, nếu kéo dài có thể ảnh hởng đến
nghĩa.
+ Phụ âm : Các âm vị đảm nhiệm thành phần âm đầu của âm tiết Tiếng Việt
bao giờ cũng là các phụ âm. Phụ âm là âm vị khi phát âm luồng hơi đi ra bị cản ở
chỗ nào đó trong bộ máy phát âm, phụ âm có loại bị cản ở môi; có loại bị cản ở
răng, có loại bị cản ở lỡi; có loại bị cản ở thanh hầu. Về phơng thức phát âm ngời
ta chia phụ âm thành :
- Phụ âm tắc : Hơi bị cản lại sau thoát ra đờng miệng vào mũi : b, d, t, s c, k,
m,r, p, ng.
- Phụ âm sát : Hơi đi qua kẽ hở miệng : p, v, s, z, l, x, y, h
- Phụ âm vang : Hơi thoát ra đầu lỡi và bên lỡi : m, n, nh.
- Phụ âm ồn : Hơi thoát ra đằng miệng có tiếng ồn : b, d, t, c, k, p, f, v, x, z,
khó đối với trẻ. Trẻ thay thế bằng cách phát âm đơn giản hơn tức là với âm điệu
không gãy ở giữa. Vì vậy dễ đồng nhất với âm điệu của thanh sắc.
VD : Phát âm ngã thành ngá hoặc giã thành giá.
- Sự chuyển đổi hớng đi của đờng nét âm điệu thanh hỏi không diễn ra đột
ngột nh thanh ngã, quá trình phát âm kéo dài trở thành khó đối với trẻ nhỏ có hơi
thở ngắn.
- Khi phát âm, trẻ thay thế âm điệu gãy bằng âm điệu không gãy, điều này
làm cho thanh hỏi ở trẻ gần nh đồng nhất với thanh nặng.
- Phát âm hỏi thành họi hoặc phát âm hổ thành hộ. Đến hết tuổi mẫu
giáo lỗi sai về hai thanh này sẽ đợc khắc phục hầu nh hoàn toàn.
2. Lỗi về âm chính :
Lỗi về âm chính tập trung vào việc trẻ phát âm nguyên âm đôi này thành
nguyên âm đôi kia.
Ví dụ : Trẻ phát âm con hơu thành con hiêu, con Ngỗng thành Con
Ngống
Trẻ phát âm sai là do tập quán của địa phơng hoặc do nghe cha chính xác,
các âm tiết có âm chính là nguyên âm đôi làm cho cấu tạo của âm tiết phức tạp
hơn, phát âm khó khăn hơn.
3. Lỗi phụ âm đầu :
Trẻ thờng hay nói lẫn lộn : l , n
Ví dụ : Con lợn thành con Nợn; Cái nồi thành cái lồi.
- Lỗi lẫn tr thành ch ; s - x; r - d
Gà trống phát âm thành gà chống.
Hoa sen thành Hoa xen
Con rùa thành Con dùa.
- Lỗi lẫn r thành d; gi thành d : cái rổ thành cái dổ; cô giáo thành cô dáo.
Một số trẻ khi phát âm phụ âm P trẻ lẫn sang phụ âm b
VD : Đèn pin thành đèn bin
4. Lỗi về âm đệm :
Âm đệm chỉ đợc đọc lớt qua nên trẻ khó ghi nhận những âm chính vì thế âm
đồ vật và cho cháu đoán hoặc bày lên bàn những đồ chơi là con vật hay đồ vật có
tiếng kêu mà các cháu sẽ đố nhau, cô bảo các cháu nhìn lên tranh và lên đồ chơi
rồi gọi tên chúng sau đó cô bắt chớc tiếng kêu của từng con vật hoặc đồ chơi và
yêu cầu trẻ nói đúng tên con vật và đồ vật đó.
VD : Cô nói tu tu, xình xịch các cháu phải nói tàu hoả; cô nói vịt vịt thì trẻ
nói vịt con; chiếp chiếp thì nói gà con, cô nói ò ó o thì nói gà trống gáy Hoặc cô
có thể cho một cháu ra ngoài lớp, sau đó cô và cháu ở trong lớp chọn một con vật
cất đi, cho cháu đó vào thì cô và cháu ở trong lớp bắt chớc tiếng kêu của con vật
đó hoặc tiếng động cơ của đồ chơi, sau đó cô bảo cháu đó nói tên con vật tên đồ
chơi.
Trong mẫu giáo lớn để hoàn chỉnh cách phát âm thờng sử dụng bài tập, đặc
biệt học thuộc lòng các bài thơ, những câu nói nhanh là một hay nhiều câu khó
phát âm mà trong đó một âm có thể đợc nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Đầu tiên cô
đọc mẫu, cô chọn những câu nói nhanh cần thiết trong một thời hạn dài, nếu trong
một tháng trẻ học thuộc 1 trong 2 câu thì trong 1 năm cần chọn 10 -15 câu có mức
độ phức tạp khác nhau. Cho trẻ làm quen với những câu dễ trớc, câu khó sau. Trẻ
sử dụng câu nói nhanh trong giờ học, trong khi chơi và các giờ hoạt động ngoài
trời.
Những câu có thể dùng cho các cháu nói nhanh nh :
Hoa sen, hoa súng
Hoa súng, hoa sen
Buổi sáng mặt trời mọc
Mặt trời mọc buổi sáng
Nồi đồng nấu ốc
Nồi đất nấu ếch
Mục đích của việc sử dụng những câu nói nhanh là tập luyện bộ máy phát
âm. Trớc khi cho trẻ tập nói cô giáo phải nói mẫu, cô đọc chậm rõ ràng sau đó nói
nhanh dần rồi cho trẻ tự nói thầm một mình để nhắc lại câu nói nhanh, lúc đầu cô
gọi các cháu có trí nhớ tốt và có cách phát âm đúng. Đầu tiên cho trẻ nói chậm rõ
ràng sau đó nói nhanh dần cô gọi tiếp các cháu còn lại nhắc lại câu nói nhanh.
địa phơng khác, tác dụng của môi trờng xung quanh rất quan trọng. Vì vậy phải
tạo một môi trờng với cách phát âm đúng quy cách. Trong các gia đình, cha mẹ và
những ngời lớn tuổi chú ý đến cách phát âm của mình; ở trờng mẫu giáo cô phải
phát âm đúng làm mẫu cho các cháu học nói, ngôn ngữ của cô giáo trong việc
giáo dục trẻ có thể gọi là ngôn ngữ hoàn chỉnh, khi nói chuyện với nhau ngời ta ít
chú ý đến sự chính xác của các âm và thờng có lỗi về phát âm đó là ngôn ngữ cha
hoàn chỉnh. Còn trong trờng mẫu giáo cô phải sử dụng ngôn ngữ hoàn chỉnh, ngôn
ngữ hoàn chỉnh có đặc điểm khi nói các âm nghe rõ ràng chính xác và âm điệu
chậm rãi. Trong đời sống hàng ngày thỉnh thoảng cô có thể sử dụng ngôn ngữ cha
hoàn chỉnh. Cô mẫu giáo nên tổ chức cho các cháu nghe đài phát thanh , xem vô
tuyến, nghe băng, nghe đĩa. Cô hớng trẻ chú ý nghe các phát thanh viên phát âm
rõ ràng, chính xác. Cô giáo cần bỏ thời gian công sức học tập để đạt tới ngôn ngữ
văn học.
Chơng II
Khảo sát thực trạng khả năng phát âm của trẻ mẫu giáo lớn
I. Cơ sở tiến hành khảo sát
Khảo sát thực trạng khả năng phát âm của 30 cháu ở trờng Mầm non Dị Nậu
- Tam Nông - Phú Thọ. Trờng thuộc một xã vùng nông thôn miền núi. Các cháu
chủ yếu là con em nông thôn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy
và học còn thiếu thốn. Các lớp học xây dựng không đúng tiêu chuẩn. Hiện nay nhà
trờng có 3 lớp 5 tuổi đang tiến hành chơng trình thực nghiệm về Đổi mới hình
thức tổ chức giáo dục trẻ trong trơng mầm non cho nên các cháu có rất nhiều
thuận lợi trong học tập.
- Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên không đồng đều. Tổng số giáo
viên của trờng là 6 ngời.
1 Hiệu trởng : Cao đẳng
1 hiệu phó : Trung cấp (trực tiếp giảng dạy)
4 giáo viên trực tiếp giảng dạy.
- Trang thiết bị và đồ dùng dạy học : Còn thiếu thốn nhiều. Hàng năm nhà tr-
ờng thờng xuyên mua thêm đồ dùng, đồ chơi mới và phát động thi đua làm đồ