Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Du lịch Hương Giang Chi nhánh Hà Nội - Pdf 26

Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong nền kinh tế thị trường việc các doanh nghiệp tồn tại và phát triển
trong sự cạnh tranh gay gắt là điều tất yếu. Hiện nay, du lịch được coi du lịch là
ngành công nghiệp không khói đem lại nguồn thu rất lớn cho ngân sách Nhà
nước, giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động, góp phần bảo tồn
và phát triển nền văn hoá mang đậm đà bản sắc dân tộc. Nhận thức được điều
này, Nghị quyết đại hội Đảng IX đã khẳng định “Phát triển du lịch trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn”. Ngành du lịch phát triển mạnh mẽ, đồng nghĩa với
việc các doanh nghiệp kinh doanh du lịch ra đời hàng loạt. Sự phát triển về quy
mô cũng như số lượng các doanh nghiệp du lịch nói chung và các công ty lữ
hành nói riêng một mặt đã tạo ra bước ngoặt trưởng thành của ngành du lịch,
mặt khác tạo nên áp lực cạnh tranh rất lớn giữa các công ty lữ hành. Chính vì
vậy, để có thể tồn tại và phát triển được các công ty lữ hành luôn luôn phải tìm
mọi cách để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình so với các đối thủ cạnh
tranh khác.
Nhận thức được vấn đề này, sau khi thực tập tại Công ty Du lịch Hương
Giang Chi nhánh Hà Nội, thấy được áp lực cạnh tranh của các công ty lữ hành
trên địa bàn Hà Nội lên Chi nhánh là rất lớn. Đồng thời thấy được những lợi thế,
điểm mạnh của Chi nhánh. Em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình là “Các
giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Du lịch Hương
Giang Chi nhánh Hà Nội” để góp phần giảm bớt áp lực cạnh tranh của Chi
nhánh trên thị trường du lịch Hà Nội.
2. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu đề tài.
Phạm vi đề tài này chỉ giới hạn trong việc đưa ra các giải pháp nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh của Công ty Du lịch Hương Giang Chi nhánh Hà Nội so
với các đối thủ cạnh tranh tại thị trường du lịch Hà Nội.
1
Phương pháp nghiên cứu đề tài: Trong đề tài này em đã sử dụng những
phương pháp sau để nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích

Chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa về khách du lịch như sau:
Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình
đến một nơi nào đó, quay trở lại với mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm
công và nhận thù lao nơi đến, có thời gian lưu trú ở nơi đến từ 24 giờ trở
lên(hoặc có sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm) và không quá một khoảng thời gian
quy định tuỳ từng quốc gia.
Khách du lịch có thể chia làm các loại sau:
3
1.1.1.1. Khách du lịch quốc tế ( Internation Tourist )
Khách du lịch quốc tế là khách du lịch mà có điểm xuất phát và điểm đến
thuộc phạm vi lãnh thổ của 2 quốc gia khác nhau.
Khách du lịch quốc tế bao gồm 2 loại:
- Khách du lịch quốc tế đi vào ( Inbound Tourist )
Khách du lịch quốc tế đi vào là khách du lịch là người nước ngoài và người
của một quốc gia nào đó định cư ở nước ngoài vào quốc gia nào đó đi du lịch.
- Khách du lịch quốc tế đi ra (Outbound Tourist).
Khách du lịch quốc tế đi ra bao gồm những khách du lịch là công dân của
một quốc gia và những người nước ngoài đang cư trú tại quốc gia đó đi ra nước
ngoài du lịch.
1.1.1.2. Khách du lịch trong nước (Domestic Tourist).
Khách du lịch trong nước là tất cả những người đang đi du lịch trong phạm
vi lãnh thổ của một quốc gia.
1.1.1.3. Khách du lịch nội địa (Internal Tourist).
Khách du lịch nội địa là những công dân của một quốc gia và những người
nước ngoài đang định cư của quốc gia đó đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ quốc
gia đó.
1.1.1.4. Khách du lịch quốc gia (National Tourist).
Khách du lịch quốc gia là tất cả các công dân của một quốc gia nào
đó đi du lịch(kể cả đi du lịch trong nước và nước ngoài)
Ngoài ra người ta còn phân khách du lịch ra thành các loại như khách du

nghiên cứu khác nhau về công ty lữ hành. Mặt khác bản thân hoạt du lịch nói
chung và hoạt động lữ hành nói riêng có nhiều biến đổi theo thời gian. ở mỗi
một giai đoạn phát triển của hoạt động này luôn có những nội dung và hình thức
mới.
Trong thời kỳ đầu tiên, các công ty lữ hành tập chung vào các hoạt động
trung gian, làm đại lý bán cho các nhà cung cấp như khách sạn, hãng hàng
không …khi đó các công ty lữ hành được định nghĩa như một pháp nhân kinh
5
doanh chủ yếu dưới hình thức là người đại diện, đại lý cho các nhà sản
xuất( khách sạn, nhà hàng, hãng ôtô tầu biển…) bán các sản phẩm đến tay người
tiêu dùng với mục đích thu tiền hoa hồng.
Khi đã phát triển ở mức độ cao hơn so với việc làm trung gian thuần thuý,
các công ty lữ hành đã tạo ra các sản phẩm bằng cách tập hợp các sản phẩm
riêng lẻ như dịch vụ khách sạn, vé máy bay, ôtô, tầu thuỷ, các phương tiện khác
và các chuyến tham quan thành một chương trình du lịch hoàn chỉnh và bán cho
khách với mức giá gộp. ở đây, công ty lữ hành không chỉ dừng lại ở người bán
mà còn trở thành người mua sản phẩm của các nhà cung cấp dịch vụ du lịch.
ở Việt Nam theo Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị Định 09/CP của
chính phủ về tổ chức và quản lý Doanh nghiệp du lịch TCDL-số715/TCDL ngày
9/7/1994 đã định nghĩa công ty lữ hành như sau:
“Doanh nghiệp lữ hành là một đơn vị có tư cách pháp nhân, hạch toán độc
lập, được thành lập với mục đích sinh lời bằng việc giao dịch, ký kết hợp đồng du
lịch và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch đã bán cho khách du lịch”
Theo cách phân loại của Tổng Cục du lịch Việt Nam thì các công ty lữ
hành được phân ra thành hai loại: Công ty lữ hành quốc tế và công ty lữ hành
nội địa (Theo quy chế quản lý lữ hành TCDL ngày 29/4/1995).
♦ Công ty lữ hành quốc tế:
Có trách nhiệm xây dựng và bán các chương trình du lịch chọn gói hoặc
từng phần theo yêu cầu của khách để trực tiếp thu hút khách đến Việt Nam và
đưa công dân là người Việt Nam đi du lịch nước ngoài, thực hiện các chương

hành ra thành ba nhóm cơ bản sau:
1.1.4.1. Các dịch vụ trung gian.
Sản phẩm dịch vụ trung gian chủ yếu do các đại lý du lịch cung ứng. Các
đại lý lữ hành không trực tiếp sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ trung gian mà
các đại lý lữ hành chỉ hoạt động như là một đại lý bán hoặc một điểm bán sản
phẩm của các nhà cung cấp du lịch.
Các dịch vụ trung gian chủ yếu bao gồm:
7
- Đăng ký đặt chỗ và bán vé máy bay.
- Đăng ký đặt chỗ và bán vé trên các phương tiện giao thông khác như: tầu
thuỷ, ôtô…
- Mối giới cho thuê xe ôtô.
- Môi giới và bán bảo hiểm.
- Đăng ký đặt chỗ và bán các chương trình du lịch.
- Đăng ký đặt chỗ trong khách sạn.
- Các dịch vụ môi giới,8 dịch vụ trung gian khác.
1.1.4.2. Các chương trình du lịch trọn gói.
Kinh doanh các chương trình du lịch trọn gói là hoạt động cơ bản của công
ty lữ hành. Các Công ty lữ hành liên kết các sản phẩm của các nhà sản xuất
riêng lẻ thành một sản phẩm hoàn chỉnh và bán cho khách du lịch với mức giá
gộp. Khi tổ chức các chương trình du lịch trọn gói các công ty lữ hành có trách
nhiệm đối với khách du lịch và với nhà cung cấp sản phẩm ở mức độ cao hơn
nhiều so với các dịch vụ trung gian.
1.1.4.3. Các hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành tổng hợp.
Ngày nay các công ty lữ hành hoặc tập đoàn lớn thường hoạt động rất
nhiều lĩnh vực có liên quan đến du lịch. Họ không những là người bán, người
mua các sản phẩm dịch vụ của nhà cung cấp du lịch mà họ còn là người trực tiếp
sản xuất ra các sản phẩm du lịch.
Các hoạt động kinh doanh lữ hành tổng hợp trong du lịch bao gồm:
- Kinh doanh khách sạn nhà hàng.

Theo diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và
phát triển kinh tế (OECD) thì định nghĩa về cạnh tranh như sau “Cạnh tranh là
khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc
làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.”
Từ những định nghĩa trên về cạnh tranh ta có thể đưa ra một định nghĩa về
cạnh tranh của các công ty lữ hành như sau:
9
Cạnh tranh của các công ty lữ hành là cuộc đấu tranh giữa các công ty lữ
hành nhằm mục đích tranh dành thị trường mục tiêu, khách hàng, để tăng doanh
thu, lợi nhuận cao hơn.
1.2.2. Phân loại cạnh tranh.
Như trên đã nói việc phân loại cạnh tranh quốc gia và cạnh tranh doanh
nghiệp là rất khó. Việc phân loại chỉ mang tính chất tương đối, nhiều khi cạnh
tranh doanh nghiệp lại đồng nghĩa với cạnh tranh quốc gia.
1.2.2.1. Cạnh tranh quốc gia.
Theo Uỷ Ban canh tranh công nghiệp của Tổng Thống Mỹ sử dụng định
nghĩa cạnh tranh cho một quốc gia như sau: “Cạnh tranh của một quốc gia là
mức độ mà ở đó dưới những điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản
xuất các hàng hoá dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường quốc tế đồng thời
duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế nước đó”
Theo báo cáo về cạnh tranh toàn cầu định nghĩa về cạnh tranh của một
quốc gia như sau :” Cạnh tranh của một quốc gia là khả năng của nước đó đạt
được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống. Nghĩa là đạt được tỷ lệ
tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng cách thay đổi tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) trên đầu người theo thời gian.
1.2.2.2. Cạnh tranh doanh nghiệp.
Cũng giống như quốc gia các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế
cũng chịu sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp với nhau.
Cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể được định nghĩa như sau:
Cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp đó trong

Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh của công ty lữ hành có ý nghĩa vô cùng quan
trọng. Nó xác định cho các công ty lữ hành đâu là các công ty có khả năng cạnh
tranh với mình ở hiện tại cũng như trong tương lai.
11
Đối thủ cạnh tranh của công ty lữ hành là các doanh nghiệp cùng loại có
những đặc điểm giống nhau hoặc gần giống nhau về vị trí địa lý, nguồn lực, thị
trường mục tiêu và cùng kinh doanh một loại sản phẩm du lịch chính.
Dựa vào thị trường mục tiêu và sản phẩm của công ty lữ hành có thể phân
loại đối thủ cạnh tranh của công ty lữ hành ra thành 2 loại:

Đối thủ cạnh tranh trực tiếp.
Là tất cả các doanh nghiệp lữ hành có cùng thị trường mục tiêu, cùng nằm
trong một khu vực, có quy mô nguồn lực tương tự nhau, có cùng hình thức sở
hữu và cung cấp các sản phẩm dịch vụ là các chương trình du lịch trọn gói hoặc
không trọn gói với các điểm du lịch trong chương trình giống nhau.

Đối thủ cạnh tranh gián tiếp.
Là tất cả các doanh nghiệp lữ hành không có những đặc điểm giống như
đối thủ cạnh tranh trực tiếp nhưng lại góp phần làm giảm thị phần, doanh thu và
lợi nhuận của công ty lữ hành.
1.2.5. Những nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của công ty lữ hành.
Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty lữ hành bao
gồm tổng thể các nhân tố khách quan và chủ quan, vận động và tương tác lẫn
nhau, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới các hoạt động kinh doanh của từng
công ty lữ hành. Sự tác động này có thể thuận lợi hay gây khó khăn hoặc trở
ngại cho kinh doanh. Những nhân tố này người ta gọi chung là môi trường kinh
doanh.
Như vậy, nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty lữ hành
bao gồm các yếu tố vừa cụ thể vừa trừu tượng. Chúng có mối quan hệ trực tiếp
hay gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung và công ty

của công ty, vị thế của công ty, thực trạng tài chính của công ty, thực trạng
nguồn nhân lực của công ty, thực trạng cơ cấu tổ chức của công ty.
Nhân tố bên trong công ty lữ hành có mối liên hệ chặt chẽ với quá trình
phát triển và đồng thời phản ánh sức mạnh tiềm lực hiện tại của công ty. Tất cả
những khía cạnh đó tạo nên một sức mạnh tinh thần len lỏi và tác động đến từng
13
thành viên và tập thể của công ty. Nếu môi trường bên trong mà thuận lợi thì
công việc kinh doanh sẽ thuận buồm xuôi gió và ngược lại nó sẽ là yêú tố cản
trở đến sự nghiệp kinh doanh.
Giữa nhân tố bên trong và bên ngoài có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và
ràng buộc với nhau trong một thể thống nhất. Các công ty lữ hành muốn hoạt
động có hiệu quả phải tổ chức tốt các mối quan hệ bên trong, tranh thủ tận dụng
các mối quan hệ bên ngoài và làm cho điều kiện bên trong thích ứng với môi
trường bên ngoài để tạo cơ sở thuận lợi cho công ty. Nhân tố bên trong không
thể tồn tại tách rời độc lập với các nhân tố bên ngoài. Các nhân tố bên ngoài là
cơ sở cho sự tạo lập và biến đổi cho các nhân tố bên trong bởi lẽ:
Thứ nhất việc tổ chức xây dựng và phát triển môi trường bên trong trước
hết nhằm mục đích kinh doanh thích ứng với những đòi hỏi của môi trường bên
ngoài và thoả mãn nhu cầu của xã hội.
Thứ hai bản thân các yếu tố đầu vào mà công ty sử dụng để tạo thành môi
trường bên trong cũng phụ thuộc vào môi trường bên ngoài.
1.2.5.2. Các nhân tố bên ngoài.
Các nhân tố bên ngoài bao gồm tất cả những yếu tố bên ngoài công ty lữ
hành mà công ty không thể kiểm soát được nó. Công ty lữ hành chỉ có thể điều
chỉnh những hoạt động kinh doanh của mình để lợi dụng những thời cơ, thuận
lợi mà các yếu tố này mang lại và hạn chế bớt những rủi ro mà công ty sẽ phải
gánh chịu do tác động của những yếu tố thuộc môi trường kinh doanh bên ngoài.
Các nhân tố bên ngoài của công ty lữ hành được chia ra làm 2 loại:
♦ Các nhân tố cạnh tranh trực tiếp
Đây là nhân tố thường xuyên cọ sát đối với sự phát triển của doanh nghiệp.

- Mức độ đàn hồi về nhu cầu của hàng hoá hoặc dịch vụ so với mức giá là
khá cao.
Sự tín nhiệm của khách hàng là tài sản quý giá của công ty lữ hành. Công
ty lữ hành phải biết tạo dựng duy trì và phát triển nó bằng cách thoả mãn tối đa
nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng so với các đối thủ cạnh tranh của mình.
15
• Thế lực của các nhà cung cấp.
Nhà cung cấp có thể là các tổ chức hay cá nhân cung cấp các yếu tố đầu
vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp du lịch. Các nhà cung
cấp có thể tác động đến tương lai, lợi nhuận của doanh nghiệp vì họ liên quan
đến chi phí đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh. Các nhà cung cấp có thể
ép các công ty lữ hành bằng cách tăng giá bán, hạ thấp chất lượng các sản phẩm
mà họ cung cấp và họ không cung cấp thường xuyên.
Những điều kiện thuận lợi để các nhà cung cấp tăng cường sức ép của họ
là:
- Chỉ có một số lượng rất hạn chế các nhà cung cấp.
- Mức độ tập trung hàng hoá cao hơn mức độ tập trung hàng hoá của các
công ty lữ hành.
- Không có các sản phẩm thay thế.
- Các công ty lữ hành có vai trò rất yếu đối với các nhà cung cấp.
- Mức độ quan trọng của sản phẩm dịch vụ đối với công ty lữ hành.
- Các nhà cung cấp có khả năng đa dạng hoá sản phẩm.
-Trong tương lai các nhà cung cấp có khả năng liên kết mạnh hơn.
- Công ty lữ hành phải chịu tổn thất lớn khi phải chuyển đổi các nhà cung
cấp.
Như vậy, công việc của các công ty lữ hành là làm sao phải hạn chế bớt sức
ép của nhà cung cấp đối với mình. Muốn vậy mỗi công ty lữ hành không nên chỉ
có một nhà cung cấp mà cần có nhiều cung cấp khác nhau. Tuy nhiên, nhà cung
cấp trong du lịch bao gồm rất nhiều bộ phận hữu quan như: Các công ty vận tải
đường không, đường bộ, các công ty gửi khách, các đầu mối cung ứng sản phẩm

• Thế lực từ sản phẩm thay thế.
Sản phẩm thay thế là các sẩn phẩm có cùng công dụng, có thể thay thế cho
sản phẩm đang tồn tại trên thị trường. Sức ép từ các sản phẩm thay thế làm hạn
chế bớt tiềm năng lợi nhuận của ngành do mức giá cao bị khống chế. Nếu không
17
chú ý đến các sản phẩm thay thế tiềm ẩn, các doanh nghiệp có thể bị tụt hậu so
với các doanh nghiệp khác. Phần lớn các sản phẩm thay thế xuất hiện do kết quả
của sự bùng nổ nhờ công nghệ kinh doanh tốt hơn. Khách hàng có thể chuyển
sang sử dụng các sản phẩm thay thế nếu như giá cả và chất lượng tốt hơn so với
sản phẩm hiện tại trên thị trường. Để chống trọi với các sản phẩm thay thế các
doanh nghiệp thường chọn các phương án như: Đa dạng hoá sản phẩm hay tạo
ra những cản trở đối với khách hàng khi thay đổi các nhà cung cấp…
Nhìn chung trong kinh doanh du lịch thì sự đe doạ của các sản phẩm thay
thế sẩy ra trong lĩnh vực kinh doanh lữ hành quốc tế là chính vì giữa các quốc
gia khác nhau thì mới có sự phân biệt giữa các sản phẩm du lịch, còn trong lữ
hành quốc tế nội địa thì có hạn chế hơn.
• Thế lực từ cường độ cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh.
Cường độ cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh ngày càng tăng lên nó
biểu hiện ở những cuộc chiến về giá, các chiến dịch khuyến mại, các sản phẩm
mới liên tục được tung ra…
Mức độ cạnh tranh thường bắt nguồn từ các yếu tố sau:
- Có nhiều doanh nghiệp, đối thủ ngang sức ngang tài.
- Tốc độ phát triển của các ngành thấp.
- Chi phí cố định cao.
- Khả năng đa dạng hoá, phân biệt sản phẩm thấp.
- Chỉ có thể tăng khối lượng sản xuất ở mức độ lớn.
- Các đối thủ cạnh tranh rất đa dạng từ chiến lược, điểm xuất phát, truyền
thống…
- Rời bỏ thị trường là một điều khó khăn.
Biểu hiện của cường độ cạnh tranh:

- Các cuộc cạnh tranh về khuyến mại.
Từ khi suất hiện mầm mống của nền sản xuất hàng hoá đến nay khuyến
mại trở thành một thứ vũ khí quan trọng và sắc bén để “móc túi “ người tiêu
19
dùng, tạo lòng trung thành với nhãn hiệu sản phẩm của họ, khuyến khích họ mua
hàng nhiều lần với khối lượng lớn hoặc cả hai.
Các doanh nghiệp du lịch lớn thường có nhiều đại lý phân bố tại nhiều
vùng khác nhau. Cơ sở của mối quan hệ này là một khoản tiền hoa hồng nhất
định và khi các đại lý bán được nhiều chương trình du lịch hơn so với kế hoạch
thì họ được hưởng một khoản tiền hoa hồng khuyến khích. Đây có thể coi là
một khoản hoa hồng khuyến mại của các công ty lữ hành dành cho hệ thống
phân phối của mình. Mức khuyến khích cao thì càng có tác dụng thúc đẩy hệ
thống phân phối hoạt động có hiệu quả hơn.
Còn đối với khách du lịch thì các công ty lữ hành thường áp dụng các hình
thức khuyến khích chính như giảm giá cho đoàn khách có số lượng lớn, tặng các
vật lưu niệm nhỏ, tặng hoa và tổ chức sinh nhật cho khách hoặc ngày lễ tết của
đất nước họ.Tất cả đều tăng hiệu quả kinh doanh của công ty so với đối thủ cạnh
tranh nếu biết cách vận dụng tốt các chính về khuyến mại.
- Các cuộc cạnh tranh về việc tạo ra các sản phẩm mới
Chính sách sản phẩm luôn là xương sống của hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Không có sản phẩm thì không có khách hàng và không có những
sản phẩm mới thì không thể giữ được khách hàng tại thị trường mục tiêu của
doanh nghiệp vì nhu cầu của con người có xu hướng ngày càng đa dạng và
phong phú đặc biệt là nhu cầu về du lịch. Người ta luôn đòi hỏi phải có những
sản phẩm mới có tính năng và công dụng ngày càng cao. Công ty lữ hành càng
phân biệt hoá sản phẩm của mình bao nhiêu thì càng có cơ hội cạnh tranh với
đối thủ cạnh tranh bấy nhiêu.
Trong du lịch việc thiết kế sản phẩm mới là việc làm rất khó khăn bởi vì
bên cạnh chi phí bỏ ra rất tốn kém, công ty lữ hành còn phải lường trước những
vấn đề xảy ra như an ninh, môi trường, luật lệ, phong phục tập quán…của dân

lạm phát thất nghiệp của tầng lớp dân cư, tỷ lệ lãi suất ngân hàng, chính sách thu
hút đầu tư bên ngoài của Nhà nước, chính sách phát triển du lịch quốc gia, khu
vực qua các thời kỳ.
21
- Yếu tố tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên có thể tạo ra những thuận lợi hay khó khăn ban đầu
trong việc phát triển hoạt động kinh doanh của các công ty lữ hành. Trong du
lịch các yếu tố tự nhiên là tài sản vô giá đối với sự phát triển của ngành. Trước
hết phải kể đến các danh lam thắng cảnh, cảnh quan môi trường, điều kiện địa
lý…Đây là cốt lõi của các điểm du lịch, là sức thu hút mạnh mẽ khách du lịch
đến thăm quan. Với Việt Nam thì yếu tố này có một tiềm năng đáng kể so với
khu vực và thế giới với nhiều danh lam thắng cảnh, cảnh quan nổi tiếng đã được
xếp hạng trải dài khắp đất nước như Vịnh Hạ Long, Tam Cốc Bích Động, nhiều
bãi biển đẹp…
- Yếu tố về văn hoá.
Nhóm yếu tố này có tác động chậm chạp vào môi trường kinh doanh.
Nhưng một khi nó đã tác động thì nó lại ảnh hưởng đối với môi trường kinh
doanh một cách sâu sắc.
Trong du lịch nền văn hoá của mỗi một dân tộc và quốc gia là nhân tố quan
trọng tạo nên động cơ đi du lịch của người bản sứ đặc biệt với người nước
ngoài. Nhóm các yếu tố văn hoá có thể chia ra làm 2 nhóm nhỏ sau:
+ Nhóm thứ nhất: Bao gồm các phong tục, lối sống thói quen tiêu dùng, kết
cấu dân cư, trình độ dân trí, tôn giáo, tín ngưỡng. Các nhân tố này có ảnh hưởng
sâu sắc đến môi trường kinh doanh.
+ Nhóm thứ hai: Bao gồm các di tích lịch sử văn hóa như những làng nghề
truyền thống, những lễ hội dân gian…Những nhân tố này chiếm giữ một vai trò
ngày càng cao trong phát triển hoạt động kinh doanh du lịch.
Việt Nam có một nền văn hoá phong phú đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc
với nhiều di tích văn hoá lịch sử như cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội
An, văn hoá cồng chiêng Hoà Bình, Văn Miếu Quốc Tử Giám, lễ hội dân gian…

- Năng lực tài chính hiện tại của công ty lữ hành. Nó có đủ khả năng để
thực hiện những mục tiêu đề ra hay không. Cần lưu một số vấn đề sau:
23
+ Số lượng và cơ cấu vốn sản xuất kinh doanh hiện có của công ty lữ hành.
+ Khả năng huy động từ các nguồn khác nhau.
+ Hiệu quả tài chính từ các hoạt động kinh doanh.
- Thực trạng nguồn nhân lực của công ty lữ hành có hợp lí và đủ năng lực để
thực hiện tốt công việc hay không. Chúng ta cần quan tâm đến một số vấn đề sau:
+ Số lượng lao động hiện tại và trình độ bình quân của từng lao động của công ty
lữ hành.
+ Cơ cấu lao động theo giới tính và độ tuổi…
+ Các nguồn tài trợ và các điều kiện cho đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực
của công ty lữ hành.
- Cơ cấu tổ chức hiện tại của công ty lữ hành.
+ Cơ cấu tổ chức hiện tại của công ty lữ hành có phù hợp không? những vấn đề
cần tiếp tục sửa đổi cho hợp lí.
+ Khả năng linh hoạt của cơ cấu tổ chức trước những biến động nhanh tróng của
môi trường kinh doanh.
- Hiệu quả của chiến lược marketing mà công ty lữ hành đang triển khai trên thị
trường bao gồm: Chính sách sản phẩm , chính sách giá cả, chính sách phân phối, chính
sách khuyếch trương.
1.3.2. Căn cứ vào khả năng tận dụng những cơ hội thuận lợi và hạn chế những
khó khăn mà các yếu tố khách quan mang lại cho công ty lữ hành.
Những yếu tố khách quan luôn tác động tạo ra những thuận lợi và khó khăn. Để
nâng cao năng lực cạnh tranh thì công ty lữ hành buộc phải có những biện pháp nhằm
biến các cơ hội đó để tăng doanh thu và lợi nhuận của công ty lữ hành đồng thời phải
khống chế những khó khăn, bất lợi mà yếu tố khách quan đưa đến.
Cụ thể bao gồm: các yếu tố kinh tế, chính trị luật pháp, điều kiện văn hoá - tự
nhiên, các sự kiện quan trọng có lợi cho ngành du lịch nói chung và công ty lữ hành
nói riêng…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status