SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2013-2014
Đề tài:
VẬN DỤNG KIẾN THỨC VẬT LÝ VÀO THỰC TẾ CUỘC SỐNG.
A.MỞ ĐẦU:
I. Đặt vấn đề:
1. Thực trạng:
- Qua thực tế giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp, chấm bài kiểm tra, tôi nhận thấy một
trong những điểm yếu của việc giảng dạy vật lý hiện nay ở trường THCS là tách rời lý
thuyết với thực tế cuộc sống. Học sinh không có thói quen vận dụng kiến thức vật lý để
giải quyết những gì gặp phải trong cuộc sống hằng ngày. Đối với đa số học sinh hiện
nay, quá trình học tập vật lý chỉ diễn ra trên lớp học. Sau khi rời khỏi lớp học và nhà
trường, thì quá trình học tập “ biến mất ”. Đặc biệt, sau những lần thi cử, kiến thức lưu
lại trong tâm trí học sinh không nhiều.
2. Ý nghĩa và tác dụng:
- Có thói quen vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống
hằng ngày.
- Kích thích hứng thú cho học sinh.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Xuất phát từ những lí do trên tôi quyết định chọn đề tài “ Vận dụng kiến thức vật lí
vào thực tế cuộc sống ” trong phạm vi môn Vật lý từ lớp 6 đến lớp 9.
II.Phương pháp tiến hành:
1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài:
1.1.Cơ sở lí luận:
Năm học 2013- 2014 là “ Năm học tiếp tục đổi mới quản lí và nâng cao chất lượng
giáo dục ”, tiếp tục thực hiện “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
gắn với cuộc vận động “ Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng
tạo ” và phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ” trong
toàn ngành nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
NGƯỜI THỰC HIỆN :ĐINH VĂN LÝ TRƯỜNG THCS HOÀI HƯƠNG
1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2013-2014
trong học tập có nghĩa là ta đã kích thích được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
của học sinh.
Hơn nữa, trong sách giáo khoa, bài tập định tính và câu hỏi liên hệ thực tế rất ít,
không đa dạng, phong phú và không thật sự gần gũi với thực tế đời sống hàng ngày của
các em. Từ thực tế đó tôi tập trung tìm hiểu và viết sáng kiến kinh nghiệm này với đề tài
“ Vận dụng kiến thức vật lý vào thực tế cuộc sống ” nhằm phần nào khắc phục bớt
những hạn chế nêu trên.
2. Biện pháp tiến hành và thời gian tạo ra giải pháp:
a. Biện pháp tiến hành:
* Đối với giáo viên: Nghiên cứu kĩ chương trình vật lý cấp THCS để ứng dụng các kiến
thức vật lý vào thực tế cuộc sống.
Nghiên cứu thực trạng giảng dạy của giáo viên, tình hình học tập của học sinh, thực tế
của nhà trường để xây dựng đề tài.
* Đối với học sinh: Tạo động cơ, thái độ học tập của các em tốt hơn.
b. Thời gian tạo ra giải pháp:
- Thời gian bắt đầu nghiên cứu từ năm học 2010 – 2011 đến nay.
- Địa điểm: Giảng dạy bộ môn Vật lý tại Trường THCS Hoài Hương- Hoài Nhơn –
Bình Định.
B.NỘI DUNG
I. Mục tiêu:
- Dạy học là một nghệ thuật, nó không chỉ đơn thuần là việc cung cấp kiến thức cho học
sinh, truyền cho các em những gì mình biết mà nó còn là cả một quá trình nghiên cứu,
sáng tạo để có được những con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất giúp học sinh tiếp cận
và chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện và nâng cao khả năng vận dụng tri thức vào cuộc
sống.
- Vận dụng kiến thức vật lý vào thực tế cuộc sống sẽ giúp cho người học môn vật lý trở
nên nhẹ nhàng hơn, kích thích được tư duy, hứng thú của học sinh, giúp học sinh có thói
NGƯỜI THỰC HIỆN :ĐINH VĂN LÝ TRƯỜNG THCS HOÀI HƯƠNG
3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2013-2014
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2013-2014
* Các tác dụng của từng đòn bẩy trên là:
- Các dụng cụ hoạt động dựa trên nguyên tắc của đòn bẩy có tác dụng cho ta lợi về
lực nhưng lại thiệt về đường đi: dùng búa để nhổ đinh, kéo cắt kim loại, xà beng để di
chuyển vật nặng.
- Các dụng cụ hoạt động dựa trên nguyên tắc của đòn bẩy có tác dụng cho ta lợi về
đường đi nhưng lại thiệt về lực: dùng kéo cắt giấy, tay chèo thuyền.
- Bập bênh, cân đòn hay cân Rôbecvan hoạt động dựa trên nguyên tắc của đòn bẩy
không phải để lợi về lực hay lợi về đường đi mà có tác dụng tạo ra sự cân bằng.
Ví dụ 3: Bài 16 – Ròng rọc ( Vật lý 6 )
Hãy nêu một số ứng dụng của ròng rọc trong đời sống thực tế?
Trả lời : Một số ứng dụng của ròng rọc trong đời sống thực tế :
- Cần cẩu hàng hóa trong các cảng.
- Dùng để nâng các vật nặng lên cao ( đưa vôi, gạch, lên cao để xây nhà cao tầng )
- Dùng ở giếng để kéo nước từ dưới sâu lên.
- Dùng để kéo các tấm rèm ở cửa.
- Dùng ở đầu cần câu.
- Dùng ở đầu trụ cờ để kéo cờ lên.
Ví dụ 4: Bài 18 – Sự nở vì nhiệt của chất rắn ( Vật lý 6 )
Khi đi khám răng, bác sĩ thường hay khuyên chúng ta không nên ăn thức ăn quá nóng
hoặc quá lạnh. Tại sao ?
Trả lời: Vì nếu chúng ta ăn thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh thì răng của ta sẽ bị nở ra
hay co lại vì nhiệt nhiều dẫn đến hỏng men răng.
Ví dụ 5: Bài 21- Một số ứng dụng của sự nở vì nhiệt ( Vật Lý 6 )
a) Em hãy giải thích tại sao một số ngôi nhà sau khi xây dựng một thời gian thì hay bị
nứt trần nhà hoặc tường ?
Trả lời : Một số ngôi nhà sau khi xây dựng một thời gian thì trần hay tường bị nứt, có
thể do hai lí do:
NGƯỜI THỰC HIỆN :ĐINH VĂN LÝ TRƯỜNG THCS HOÀI HƯƠNG
5
6
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2013-2014
Trả lời: Một vài ứng dụng về sự bay hơi và ngưng tụ trong thực tế đời sống:
- Khi trồng cây người ta cắt bớt lá để giảm sự bay hơi của nước.
- Người ta thường làm muối vào mùa nắng.
- Nấu rượu: để tách rượu, người ta đun cho rượu hóa hơi,sau đó làm lạnh cho ngưng
tụ thành rượu.
- Chế tạo các lò sấy để làm cho sản phẩm chóng khô.
- Muốn quần áo mau khô thì phải trải rộng ra và phơi ở những chỗ nhiều nắng và
gió.
- Khi pha sơn ta nên pha bằng xăng hay dầu mà không pha nên pha bằng nước. Vì
pha xăng hay dầu thì sơn chóng khô hơn.
d) Một nhóm người đi vào sa mạc, không có nước uống. Họ đã phải làm thế nào để
khỏi bị chết khát?
Trả lời: Ta biết, ở sa mạc vào ban đêm rất lạnh, trong không khí tuy ít nhưng vẫn có
hơi nước, nên người ta có thể tạo ra nước bằng cách:
- Đắp cát lên tạo thành mặt phẳng nghiêng, phía dưới khoét một lỗ sâu.
- Trải tấm ni lông lên mặt phẳng nghiêng và đặt một cái ca vào lỗ sâu.
- Vào ban đêm hơi nước ở lớp không khí tiếp xúc với tấm ni lông gặp lạnh sẽ ngưng
tụ thành nước chảy dọc theo mặt phẳng nghiêng xuống ca. Như vậy ta có được một
ít nước để chống khát.
* Vật lý 7:
Ví dụ 1: Bài 8 – Gương cầu lõm
Để quan sát các phần bị che khuất của răng, các nha sĩ thường dùng một dụng cụ hình
tròn bằng kim loại. Theo em, đó là một gương phẳng, gương cầu lồi hay gương cầu
lõm?
Trả lời: Đó là gương cầu lõm, dùng để tạo ảnh ảo lớn hơn vật nhằm quan sát chi tiết
nhỏ trong răng.
Từ ví dụ này giáo viên có thể liên hệ thực tế thêm cho học sinh như sau:
NGƯỜI THỰC HIỆN :ĐINH VĂN LÝ TRƯỜNG THCS HOÀI HƯƠNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2013-2014
c) Khi xuống dốc nên bóp thắng sau, bánh sau dừng lại đột ngột còn bánh trước vẫn
chuyển động theo quán tính. Xuống dốc bánh trước có vị trí thấp hơn bánh sau nên
có thể kéo lê bánh sau trượt thêm một đoạn nữa chứ không làm lật nhào xe được.
Ví dụ 2: Bài 6 – Lực ma sát
Một số người khi đếm tiền thường có thói quen chấm tay vào lưỡi để làm ướt ngón tay.
- Tại sao người ấy phải làm như vậy?
- Việc làm này có mất vệ sinh không? Khắc phục bằng cách nào?
Trả lời:
- Làm tăng lực ma sát giữa tay và tờ bạc để dễ đếm hơn.
- Làm như thế rất nguy hiểm vì giấy tiền chứa nhiều vi trùng do luân chuyển từ
người này sang người kia. Để khắc phục, đặt một đĩa nước nhỏ bên cạnh và nhúng
đầu ngón tay vào đĩa nước khi đếm.
Ví dụ 3: Bài 23- Đối lưu – Bức xạ nhiệt
a) Ngồi gần lò than, lò sưởi, bóng đèn điện em cảm thấy nóng. Vậy sự truyền nhiệt đã
xảy ra theo con đường nào?
b) Vào những ngày trời nắng, nếu sờ vào yên xe, em thấy yên xe nóng hơn các bộ
phận khác. Tại sao?
Trả lời:
a) Trong ngọn lửa than, lò sưởi, bóng đèn điện có một loại bức xạ nhiệt không nhìn
thấy ( tia hồng ngoại ). Chính bức xạ này truyền tải nhiệt năng đến ta.
b) Màu đen hấp thụ bức xạ nhiệt nhiều hơn màu khác, nên nóng hơn bộ phận khác.
* Vật lý 9.
Ví dụ 1: Bài 2- Điện trở của dây dẫn- Định luật Ôm.
Tại sao khi có sấm sét, các tia chớp thường có dạng ngoằn ngoèo?
Trả lời: Lớp không khí không đồng chất, vì vậy điện trở không khí tại mọi điểm là khác
nhau. Khi có sấm sét, dòng điện phóng từ đám mây này đến đám mây kia hoặc từ đám
mây xuống mặt đất. Chúng sẽ chọn con đường nào dễ đi nhất, tức là con đường có điện
trở thấp nhất.
NGƯỜI THỰC HIỆN :ĐINH VĂN LÝ TRƯỜNG THCS HOÀI HƯƠNG
10
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2013-2014
quyết, bài tập có tính giáo dục tư tưởng, đạo đức của học sinh, kể một số câu chuyện
liên quan đến kiến thức đã học hoặc nêu ra một số ứng dụng.
3.Lợi ích kinh tế - xã hội:
* Kết quả học tập bộ môn vật lý từ năm học 2011- 2012 đến năm 2012 – 2013 so với
kết quả năm học 2010 – 2011 như sau:
Năm học Dưới T. bình Trên T.bình Khá, giỏi
2010 -2011 15% 85% 37%
2011- 2012 11% 89% 40%
2012- 2013 10% 90% 45%
C. KẾT LUẬN:
- Trong giảng dạy hiện nay, ngoài việc truyền thụ các kiến thức cơ bản thì việc rèn
luyện một số kĩ năng cho học sinh cũng được coi trọng và đưa vào tất cả các môn học.
Trong thực tế có rất nhiều cách để hướng dẫn học sinh “ Biết ” và “ Hiểu ”vấn đề, đối
tượng. Đối với bộ môn Vật lý thực nghiệm thì cách tốt nhất để hiểu được bàn chất, cấu
tạo và nguyên lý vận hành của đối tượng là phải làm. “ Làm ” tức là “ Hành”,khi “ Hành
”được thành thạo sẽ có thể dẫn đến sáng tạo ra cái mới.
- Khi viết đề tài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, rất mong sự
đóng góp ý kiến nhiệt tình của các đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn.
. Người thực hiện
Đinh Văn Lý
* Cam kết: Đề tài trên là kết quả tìm tòi nghiên cứu trong quá trình giảng dạy của chính
bản thân, không sao chép bất cứ nguồn sáng kiến nào khác. Nếu sai tôi sẽ chịu hoàn
toàn trách nhiệm.
* ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC:
……………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………
NGƯỜI THỰC HIỆN :ĐINH VĂN LÝ TRƯỜNG THCS HOÀI HƯƠNG
13