PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Đối tượng nghiên cứu đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Thông qua quá trình giảng dạy một số văn bản trong chương trình lớp 7 và
quá trình lĩnh hội của học sinh để rút ra những vấn đề mang tính lý thuyết và
thể nghiệm kết quả nghiên cứu.
II. Lý do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp giảng dạy là yêu cầu cấp bách thiết thực, góp
phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng giáo dục. Đối mới phương pháp
giảng dạy môn Ngữ văn nói chung, phân môn Tiếng Việt nói riêng cần tuân
thủ theo định hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh. Nghĩa là
làm cho học sinh được nghĩ nhiều, làm việc nhiều, thảo luận nhiều, qua đó
được rèn luyện kỹ năng và phương pháp học tập bộ môn. Việc đổi mới
phương pháp dạy học là vấn đề cấp bách của nền giáo dục nước nhà. Từ năm
học 2000-2001 trở lại đây Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai chương trình
sách giáo khoa mới, ngay từ những ngày đầu tôi luôn tìm tòi, suy ngẫm để
hình thành phương pháp dạy học mới, sự sáng tạo mới, thiết kế bài giảng sao
cho giờ dạy có thể để lại những dư vị ngọt ngào, những dấu ấn không thể
quên trong lòng các em.
Đã là người thầy dạy văn, ai chẳng mong ước có những bài giảng hấp
dẫn, để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn học trò, góp phần bồi đắp nhân
cách, thắp sáng lên trong các em niềm tin, hi vọng, ước mơ và những tình cảm
tốt đẹp. Bởi, học văn là học nhân cách làm người. Muốn làm được điều đó,
người thầy phải tìm ra phương pháp tốt nhất để giảng dạy sao cho có hiệu
quả. Việc làm này không dám ví cao như núi, rộng như biển nhưng cũng vô
cùng khó khăn phức tạp, các tài liệu, hướng dẫn, dự giờ, hội thảo…. chỉ có
tính chất định hướng.
Năm học 2011-2012, tôi may mắn được nhà trường, tổ chuyên môn
phân công giảng dạy 2 lớp 7. Trong quá trình giảng dạy, tôi đã cố gắng sử
dụng phương pháp đổi mới, sử dụng đồ dùng trong những giờ dạy Tiếng Việt
và đã thu được những kết quả nhất định. Vì vậy trong sáng kiến kinh nghiệm
1
học sinh .
3
Bốn định hướng này có liên quan chặt chẽ , trong đó định hướng đầu tiên là
căn bản .
Để học sinh lĩnh hội được tri thức một cách tốt nhất , cần hướng học
sinh vào hoạt động tích cực . Tức là học sinh phải được trực tiếp tìm hiểu ,
khám phá về vấn đề . Mỗi vấn đề được làm sáng tỏ sẽ mở ra những chân trời
mới về sự sáng tạo . Bộ môn ngữ văn nói chung và phân môn Tiếng Việt đang
trên con đường đổi mới ấy phải tuân theo quy luật đó .
Dạy học theo phương pháp đổi mới phải thực sự lấy “học sinh làm
trung tâm”, coi hoạt động của học sinh là một hoạt động có ý nghĩa thiết thực
nhất trong dạy và học . Học sinh được hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo
viên . Để lĩnh hội tri thức, học sinh có thể đọc , phân tích văn bản thông qua
hoạt động chỉ đạo của giáo viên . Bên cạnh đó , học sinh được mở rộng , khắc
sâu kiến thức bằng các phương tiện dạy học của giáo viên như : máy chiếu ,
tranh ảnh, biểu bảng , phiếu thảo luận ,…
Giữa văn bản , phương tiện dạy học với học sinh có tác động qua lại
với nhau tạo nên mối liên hệ chặt chẽ , hoàn chỉnh , thống nhất ( học sinh là
người khám phá , tìm hiểu . Văn bản là cánh cửa : phương tiện dạy học là chìa
khóa ).
II. Cơ sở thực tiễn
1. Thuận lợi
Là giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn, tôi cho rằng phân môn Tiếng
Việt thuộc nhóm môn khoa học Xã hội.
Song đi sâu vào từng bài dạy, ta nhận thấy nó có những điểm nhất định
giống với các môn khoa học Tự nhiên. Bởi, mục tiêu của bài học là những
đơn vị kiến thức rất rõ ràng. Trong mỗi giờ học, từ việc phân tích các ví dụ
sau đó rút ra các định nghĩa, khái niệm cho từng đơn vị kiến thức nhất định.
Cho nên nếu người giáo viên tổ chức không khéo sẽ dẫn đến giờ học trở nên
4
các phương tiện dạy học khác nhau : phiếu thảo luận , sơ đồ , biểu bảng ,… tự
giáo viên chuẩn bị . Để có được các phương tiện dạy học bổ sung , buộc giáo
viên phải tự sáng chế ( Ví dụ : máy chiếu được thay thế bảng phụ , giấy khổ
to , và thêm một số bức tranh minh họa …
III. Thực trạng
1. Thực trạng của việc học văn hiện nay
Nhà văn hóa lớn của nhân loại Lê-nin từng nói : “ Văn học là nhân học
“ vậy mà một thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ không còn thích học
văn . Trực trạng này lâu nay đã được báo động . Ban đầu chỉ đơn thuần là
những lời than thở với nhau của những người trực tiếp giảng dạy môn văn và
nay đã trở thành vấn đề của báo chí và dư luận… Ai đã trực tiếp dạy và chấm
bài làm văn của học sinh trong những năm gần đây mới thấy cần thiết phải có
những thay đổi về phương pháp dạy văn và học văn hiện nay . Qua công tác
giảng dạy cũng như chấm trả các bài kiểm tra Ngữ Văn , tôi nhận thấy có rất
nhiều những biểu hiện thể hiện tâm lý chán học của học sinh , cụ thể là :
- Học sinh thờ ơ với môn Văn : Những năm gần đây , nhiều người
quan tâm đến công tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng , đó
là tâm lý thờ ơ với việc học văn ở các trường phổ thông . Điều đáng buồn nhất
cho các giáo viên dạy văn là những học sinh có năng khiếu văn cũng không
muốn tham gia đội tuyển văn . Các em còn phải dành thời gian học các môn
khác . Hơn nữa , phần lớn phụ huynh khi đã dịnh hướng cho con mình sẽ đi
khối A thì chỉ chủ yếu chú trọng ba môn : Toán , Lý , Hóa . Họ chọn hướng
cho con từ khi học tiểu học
- Khả năng trình bày : Khi học sinh tạo lập một văn bản , giáo viên có
thể dễ dàng nhận ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như : dùng từ sai , viết
câu sai , viết chính tả sai , bố cục bài văn hết sức lủng củng , thiếu lôgíc . Đặc
biệt có những bài văn diễn đạt ngô nghê , đối nghĩa , lủng củng… Đây là một
thực trạng đã trở nên phổ biến và thậm chí là đáng báo động trong xã hội ta .
6
Mục tiêu của bậc học phổ thông là đào tạo côn người toàn diện , những
được trang bị rất nhiều đồ dùng, tranh ảnh hấp dẫn nên khi học Tiếng Việt
các em thấy không hấp dẫn lắm, dẫn tới nhiều học sinh không thích học
Tiếng Việt.
Kỹ năng đọc, nói, viết của nhiều học sinh con chưa tốt nên việc khai
thác, khám phá, phát hiện kiến thức chỉ dựa vào sách giáo khoa sẽ gặp nhiều
khó khăn.
IV. Các giải pháp thực hiện
1. Nhận thức
Cần đổi mới nhận thức của giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của
phân môn Tiếng Việt trong nhà trường. Đặc biệt đối với giáo viên Ngữ Văn
cần xác định rõ mục tiêu, phương pháp của một giờ Tiếng Việt để có sự đầu
tư thích đáng cho giờ dạy, không chỉ ở khâu thiết kế bài giảng, tổ chức các
hoạt động trên lớp, mà cần đặc biệt chú ý sử dụng đồ dùng dạy học. Có như
vậy chất lượng giờ dạy Tiếng Việt mới hiệu quả.
Đối với những trường có phòng học chức năng, cơ sở vật chất tốt,
chúng ta có thể sử dụng giáo án điện tử, dạy trên máy vi tính. Còn trường
THCS Nguyễn Trường Tộ, nơi tôi công tác, đã có phòng học chức năng, cơ
sở vật chất tương đối tốt nên đồ dùng dạy học trong giờ dạy Tiếng Việt
thường có bảng phụ, phiếu học tập, hoặc tuỳ theo từng tiết học tôi sử dụng
giấy trong dạy trên máy chiếu hắt.
Một số đồ dùng đơn giản như ô chữ, giấy A3 ép plastic tôi phân côngg
các nhóm học sinh làm; khi được giao việc, các em rất hào hứng, say mê.
2. Hành động
Từ nhận thức đến hành động đòi hỏi giáo viên phải có sự cố gắng, tức
là chúng ta phải đầu tư soạn thảo giáo án, thiết kế bài giảng.
8
Soạn giáo án là khâu vô cùng quan trọng, quyết định sự thành công của
giờ dạy. Khâu này đòi hỏi giáo viên phải tìm tòi, học hỏi, đầu tư một cách tích
cực.
Giáo án Tiếng Việt theo yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy phải
Đọc kỹ yêu cầu của bài tập, đề ra cách thức hoạt động cho từng bài.
+ Bài tập 1: Nhận diện từ trái nghĩa. Bài tập này tôi cho học sinh hoạt
động độc lập.
Đồ dùng: Phiếu học tập (hoặc giấy A3 ép plastic), bút dạ.
+ Bài tập 2: Tìm các từ trái nghĩa với các từ cho trước. Bài tập này tôi
cho trước. Bài tập này tôi cho học sinh hoạt động nhóm (2 học sinh/1 nhóm).
Đồ dùng: Bảng, giấy A3 ép plastic, bút dạ, nam châm.
+ Bài tập 3: Điền từ trái nghĩa vào các chỗ trống trong một số thành
ngữ. Bài tập này tôi cho học sinh thi tiếp sức, thời gian 3 phút.
Đồ dùng: Giấy A0 có ghi các thành ngữ, có chỗ trống, nam châm, giấy
keo dính một mặt có viết sẵn các từ cần điền.
Học sinh chia thành 3 nhóm lớn, các nhóm theo thứ 1, 2, 3 nên chọn
điền các từ viết sẵn vào chỗ trống của thành ngữ sao cho hợp lý. Nhóm nào
xong trước, nhóm đó chiến thắng.
+ Bài 4: Viết đoạn văn. Học sinh hoạt động độc lập. Giáo viên nêu yêu
cầu, học sinh viết và giáo viên gọi một số học sinh đọc, giáo viên nhận xét.
Vậy là với việc thiết kế bài giảng, tôi đã hình thành các đồ dùng:
- Giấy trong, sử dụng máy chiếu hắt
- Giấy A3 ép plastic (dùng trong cả năm học), bút dạ, nam châm.
10
Nội dung các ví dụ đưa lên máy chiếu hắt, lên giấy A0, tôi trình bày như sau:
1. Tìm các cặp từ ngược nghĩa trong
các văn bản sau:
Tĩnh dạ tứ
Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng suong
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương
Lý Bạch
Hồi hương ngẫu thư
5. ……luồn….cúi…
6. Buôn…… bán……
7. Đầu………cuối……
8. Kính… nhường……
Nhóm 3
1. Vô…….….vô………
2. Bước…… bước…….
3. … thác ghềnh…
4. Chân……….đá……
5. ………xuôi… lọt
6. ……nhà…………ngõ
7. Chạy…….chạy.…
8. Nửa…… nửa……
3. Thiết kế đồ dùng
11
Đồ dùng dạy học phân môn Tiếng Việt nhằm phát huy tính tích cực của
học sinh. Đồ dùng phải đảm bảo tính khoa học: Viết to, rõ, đẹp, đúng chính
tả; đảm bảo tính trực quan, dễ sử dụng và sử dụng được nhiều lần. Đồ dùng
phải đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh. Các bài tập Tiếng Việt trong sách
giáo khoa Ngữ Văn 7, thông thường các mẫu câu, bài tập được trích từ những
văn bản trước hoặc sau đó. Chúng ta khai thác tối đa các mẫu câu, các bài tập
đó vừa nhằm mục đích giúp học sinh xác định đơn vị kiến thức bài học vừa
đảm bảo tích hợp.
4. Giải pháp thực hiện
Đồ dùng được sử dụng như một phương tiện trực quan để khai thác
nguồn tri thức.
Tôi xin nêu một ví dụ cụ thể:
Khi tổ chức hoạt động 1: Hình thành khái niệm từ trái nghĩa trong bài
Từ trái nghĩa, tôi đã sử dụng giấy trong ghi hai bài thơ Đường là Tĩnh dạ tứ
và Hồi hương ngẫu thư (viết bằng chữ Hán có dịch nghĩa) rồi chiếu trên máy
chọn điền vào ô trống của thành ngữ; bút dạ; giấy A3 ép plastic.
2. Học sinh: Học bài; làm bài tập “Từ đồng nghĩa”
Đọc trước để tìm hiểu bài “Từ trái nghĩa”
C. Tiến trình bài dạy
* Ổn định lớp (1 phút): Giáo viên giới thiệu đại biểu; học sinh chào
mừng đại biểu.
* Kiểm tra bài cũ (5 phút):
1. Kiểm tra bài tập, chuẩn bị bài của học sinh.
2. Cho các từ “biếu”, “tặng”, “cho”. Hãy phân biệt sắc thái ý nghĩa của
chúng? Có mấy loại từ đồng nghĩa?
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên nhận xét, bổ sung.
* Bài mới:
Giới thiệu bài (1 phút):
Trong diễn đạt, khi dùng từ muốn cho lời văn chính xác, sinh động ta
phải có vốn từ phong phú. Chúng ta đã biết việc hiểu và sử dụng từ đồng
nghĩa rất quan trọng. Nhưng cũng có nhiều trường hợp cần dùng từ trái nghĩa
để tạo sự tương phản hoặc gây ấn tượng mạnh. Vậy từ trái nghĩa là những từ
như thế nào? Cần hiểu và dùng nó ra sao? Đó chính là nội dung bài học mà
chúng ta cần tìm hiểu.
Tiến trình bài dạy: Giáo viên ghi tiêu đề - Học sinh lấy vở ghi bài.
14
Hoạt động của Thầy Hoạt động của trò Nội dung cần đạt
* Hoạt động 1(15 phút)
Sử dụng giấy trong, đưa
2 văn bản “Tĩnh dạ tứ”
và “Hồi hương ngẫu
thư” lên máy chiếu hắt.
? Em hãy đọc bài 1 và
tìm cặp từ ngược nghĩa?
? Em hãy đọc bài 2 và
HS 4: Từ “bút” –
“bảng” không gọi là cặp
từ trái nghĩa, vì không
I. Bài học
1. Từ trái nghĩa
- Cặp từ: Cử đầu – đê
đầu ngược nghĩa
- Các cặp từ ngược
nghĩa
+ Thiếu – Tiểu
+ Lão – đại
+ Ly – hồi
Từ trái nghĩa: Là từ có
nghĩa trái ngược nhau.
15
nghĩa không? Vì sao?
GV nhấn mạnh:
Cặp từ trái nghĩa phải
xét trên cơ sở chung nào
đó.
GV đưa bài tập:
Tìm từ trái nghĩa với các
từ in đậm trong tổ hợp
từ sau:
Giấy trong trên máy
chiếu hắt
- Quả Chín
- Cơm Chín
- Vị thuôc lành
- Rau già
- Người già – người trẻ.
* Ghi nhớ 1: SGK tr.
16
để khắc sâu kiến thức.
GV đưa bài tập 1 –
SGK, tr. 129 lên máy
chiếu hắt.
? Em hãy đọc yêu cầu
của bài tập 1?
? Việc sử dụng cặp từ
trái nghĩa đúng chỗ có
tác dụng gì? (5 phút)
GV đưa lại bài “Hồi
hương ngẫu thư” trên
máy chiếu hắt.
? Phát hiện các cặp từ
trái nghĩa sử dụng trong
phép đối của bài thơ
Đường?
GV nhận xét (3 phút)
Cùng với thể thơ
Đường trang nghiêm,
mực thước, sử dung cặp
từ trái nghĩa, trong lời
ăn tiếng nói hàng ngày
nhân dân ta cũng sử
dụng rất sáng tạo cặp từ
trái nghĩa.
HS quan sát bài tập và
đọc yêu cầu bài tập:
nghĩa?
GV chữa bài tập, biểu
dương nhóm làm bài tốt.
* Hoạt động2:(15 phút)
GV chữa bài của HS.
GV nhận xét các bài làm
tốt.
HS thảo luận nhóm:
Làm bài trên giấy A3 ép
plastic. GV thu bài tập,
dùng nam châm gắn các
bài tập đó lên bảng.
HS làm bài trên giấy
trong.
HS theo dõi, bổ sung
kiến thức (nếu cần).
II. Luyện tập
Bài tập 1 – bài tập 2:
Tìm từ trái nghĩa và nêu
tác dụng.
Bài 1: Yêu cầu xác định
được các cặp từ trái
nghĩa.
a. Cặp từ trái nghĩa:
Lành – rách.
Tác dụng: Cách nói có
hình ảnh để nhấn mạnh
sự giúp đỡ giữa những
người thân trong gia
đình.
nhân vật cậu Cai. D.
Cặp từ trái nghĩa: Đêm
– ngày, sáng – tối.
Tác dụng: Tạo sự tương
phản về mặt thời gian.
Bài 2: HS tìm được
những từ trái nghĩa với
từ in đậm:
- Cá tươi – cá ươn.
- Ăn yếu – ăn khoẻ
- Học lực yếu – học lực
giỏi.
- Đất xấu – đất tốt
Bài tập 3: Tìm các từ
điền vào chỗ trống trong
các thành ngữ sau: 3 tờ
giấy A0 ghi các thành
ngữ có chỗ trống và
được dính lên bảng băng
nam châm.
Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3
1. Chân…….chân……
2. Buổi……buổi………
3. Bể…… ao………
4. Ăn……….ăn………
1. Bên…… bên………
2. Ba……….ba….…….
3. Chân… chân …
4. Có.……….có……
Trên/dưới
Vào/ra
Xuôi/ngược
Mày/mắt
Cứng/mềm
Thấp/cao
Đầu/đuôi
Ngược/xuôi
Xa/gần
Úp/mở
Lên/xuống
Thưởng/phạt
Kết thúc cuộc thi, GV
biểu dương nhóm làm
tốt.
Đây là bài tập tích hợp
với phần văn sau khi các
em đã được học bài thơ
Đường trước đó.
?Nêu hướng viết của
em?
HS quan sát, nhận xét.
HS trả lời:
+ Hình thức: Viết đoạn
văn 7 – 8 câu.
+ Nội dung: Nói rõ tình
cảm của em đối với quê
hương. Đoạn văn có sử
dụng cặp từ trái nghĩa.
Bài số 4: Viết đoạn văn
nói, viết.
- Tích hợp với phân môn văn và tập làm văn
3. Thái độ
- Cẩn trọng, tracnhs gây nhầm lẫn hoặc khó hiểu do hiện tượng đồng
âm.
- Yêu thích, học tập và tìm hiểu Tiếng việt.
B, Chuẩn bị:
1. Giáo viên:
+ Bài soạn
+ Những tài liệu tham khảo môn Tiếng việt.
+ Máy chiếu hắt + phim trong + bút dạ.
+ Máy chiếu đa năng.
2. Học sinh
Đọc và chuẩn bị bài ở nhà.
C, Hoạt động dạy học:
1. Ổn định tổ chức lớp
Sĩ số: 40
Vắng: 0
2. Kiểm tra bài cũ (4 phút)
a, nhắc lại khái niệm từ trái nghĩa
b, xác định cặp từ trái nghĩa trong bài thơ “bánh trôi nước” của Hồ Xuân
Hương:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
3. Bài mới
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Nội dung kiến thức
22
HĐ1: Khởi động (1 phút)
Vậy em hiểu thế nào về từ
đồng âm?
HS: Đọc ví dụ SGK
(135)
HS: Xác định từ loại –
giải nghĩa
HS nhận xét
- âm
I. Thế nào là từ đồng âm:
1.Ví dụ: (SGK – T 135)
2.Nhận xét.
-Lồng (1): chỉ hoạt động
-Lồng (2): chỉ sự vật
Âm giống nhau; nghĩa
khác nhau
23
GV: chốt kiến thức – khái
niệm từ đồng âm
GV: Ra bài tập nhanh. (đưa
lên máy)
Bài tập: tìm từ đồng âm và
giải thích nghĩa của từ ấy
trong câu sau:
“con ngựa đá con ngựa đá”
GV: nhận xét
H. Em hãy tìm những câu thơ
hoặc ca dao có sử dụng từ
đồng âm?
(giáo viên nói ngay tác dụng
GV: Giảng
H. Vậy nhờ đâu mà em phân
biệt được nghĩa của các từ
lồng trong hia câu văn trên?
GV: Cũng tương tự như vậy
một bạn đọc phần 2.
H. EM hiểu nghĩa của câu
“đem cá về kho!” như thế
nào?
(GV đưa hình ảnh lên máy)
H. hãy thêm một vài từ vào
câu “đem cá về kho!” để câu
này có nghĩa là:
+một cách làm chín thực
phẩm
+nơi chứa đồ
H. Vậy để tránh những hiểu
lầm do hiện tượng đồng âm
gây ra, ta cần phải chú ý điều
gì khi giao tiếp?
HS trả lời
HS đọc
HS nêu cách hiểu
HS tìm từ đặt câu với
hai nghĩa trên.
(HS tự ghi ví dụ vào vở)
HS trả lời
2.Nhận xét:
-Dựa vào văn cảnh
“đem cá về kho”