LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Văn Thị Bích, học viên cao học lớp CH19A, chuyên ngành Kế toán.
Tôi xin cam đoan bài luận văn “Kế toán hàng tồn kho tại các công ty xây lắp trên địa
bàn thành phố Hà Nội” là bài nghiên cứu của tôi và số liệu, kết quả nghiên cứu trong
luận văn này là trung thực, không trùng lặp với các đề tài khác và các thông tin trích
dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, Ngày 03 tháng 09 năm 2014
Học viên
Văn Thị Bích
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý Thầy, Cô giáo trường Đại
Học Thương Mại những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng
hữu ích trong những năm học vừa qua làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Thây giáo Vũ Mạnh Chiến đã hướng dẫn, giúp đỡ tận
tình và trách nhiệm để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các vị lãnh đạo, các anh chị cán bộ công nhân viên
Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Hud; Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển nhà
Hà Nội số 5; Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng hạ tầng số 18 đã nhiệt tình giúp đỡ
trong quá trình thu thập dữ liệu và thông tin của luận văn.
Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã luôn
ủng hộ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này. Do
thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn
hạn chế, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy, Cô và các anh chị học viên.
Hà Nội, Ngày 03 tháng 09 năm 2014
Học viên
Văn Thị Bích
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Reference source not found
Sơ đồ 2.2. Quy trình tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp tự tổ chức
thi công Error: Reference source not found
Sơ đồ 2.3. Quy trình tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp khoán gọn
cho xí nghiệp, tổ, đội thi công Error: Reference source not found
Sơ đồ 2.4.Quy trình tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quản lý xây dựng
cơ bản Error: Reference source not found
Sơ đồ 2.5. Mô hình chung của các tổng công ty xây dựng Việt Nam Error: Reference
source not found
Sơ đồ 2.6. Mô hình chung của các công ty xây dựng Việt Nam Error: Reference source
not found
Sơ đồ 2.7: Tổ chức bộ máy kế toán tập trung Error: Reference source not found
Bảng 3.1: BÁO CÁO TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VẬT TƯ Error: Reference source not
found
Bảng 3.2 Error: Reference source not found
LỜI MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
luôn là mục tiêu cơ bản của các doanh nghiệp, chi phối mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Do vậy, để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp buộc phải nâng cao năng lực cạnh tranh
bằng nhiều cách khác nhau. Để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả thì các doanh
nghiệp phải tổ chức tốt các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ cung cấp, sản xuất
đến tiêu thụ sản phẩm sao cho khoa học, hợp lý, tiết kiệm được chi phí và giảm ứ đọng
vốn trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Để đạt được mục đích của mình,
doanh nghiệp phải xây dựng tổng hoà nhiều biện pháp khác nhau. Đứng trên góc độ
quản lý, để hạ thấp giá thành, những nhà quản lý cần phải tìm hiểu nguồn gốc và nội
dung chi phí, đồng thời phân tích được ảnh hưởng của các nhân tố cụ thể tới sự tăng
giảm của giá thành để từ đó có những biện pháp điều chỉnh thích hợp. Một trong các
biện pháp được nhiều nhà quản lý đặc biệt quan tâm đó là công tác kế toán nói chung
và công tác kế toán hàng tồn kho (nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở
là Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Hud; Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển
nhà Hà Nội số 5; Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng hạ tầng số 18.
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về mặt lý luận cũng như thực tế công tác kế
toán hàng tồn kho tại các công ty này, tôi nhận thấy rằng các công ty cũng đã có nhiều
cố gắng trong việc hoàn thiện công tác kế toán hàng tồn kho và cũng đã đạt được một
số hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, công tác kế toán hàng tồn kho tại ba công ty trên nói
riêng và các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung vẫn còn
tồn tại một số bất cập như đã nêu trên. Do đó, Luận văn nghiên cứu về kế toán nguyên
vật liệu nhằm hoàn thiện những hạn chế trên như: Vấn đề xử lý kế toán đối với NVL
2
thừa, thiếu; Vấn đề kiểm kê NVL cuối kỳ; Vấn đề kiểm tra, kiểm soát hàng tồn kho
dưới góc độ của kế toán quản trị.
Xuất phát từ thực trạng công tác kế toán hàng tồn kho tại các công ty xây lắp
trên địa bàn thành phố Hà Nội, và việc thực hiện theo hướng dẫn của chế độ kế toán
Việt Nam số 02 về kế toán hàng tồn kho hiện nay, nhận thức rõ tầm quan trọng của
công tác kế toán hàng tồn kho trong việc giúp cho nhà quản lý đưa ra các quyết định
kinh doanh hiệu quả. Do vậy học viên quyết định chọn đề tài: “Kế toán hàng tồn kho
tại các công ty xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
của mình với hy vọng sẽ góp phần giúp các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Hà Nội
hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán hàng tồn kho trong doanh nghiệp.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Về mặt lý luận:
• Hệ thống hóa, phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về hàng tồn kho và tổ
chức kế toán hàng tồn kho theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và chế độ kế toán
Việt Nam hiện hành trong các doanh nghiệp xây lắp.
• Giúp doanh nghiệp có cái nhìn đầy đủ hơn về kế toán hàng tồn kho dưới góc độ
kế toán quản trị và kế toán tài chính.
• So sánh kế toán hàng tồn kho được quy định, hướng dẫn theo chế độ, chuẩn
mực kế toán Việt Nam (VAS 2) với quốc tế (IAS 2), làm cơ sở cho việc xây
dựng và hoàn thiện hệ thống kế toán Việt Nam theo xu thế phù hợp và hội nhập.
4
+ Nội dung nghiên cứu: Kế toán hàng tồn kho tại các công ty xây lắp trên địa bàn
Hà Nội dưới góc độ kế toán tài chính.
1.6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Về mặt lý luận, luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết về kế toán hàng
tôn kho. Cụ thể, luận văn làm rõ cơ sở lý luận về kế toán hàng tồn kho trong các doanh
nghiệp xây lắp đã được ban hành trong các văn bản của Nhà nước.
Về mặt thực tiễn và ứng dụng, luận văn nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực
trạng kế toán hàng tồn kho tại các công ty xây lắp trên địa bàn Hà Nội. Qua đó đánh
giá những điểm đạt được và hạn chế còn tồn tại và tìm hiểu nguyên nhân của những
hạn chế này. Trên cơ sở các mô hình lý thuyết về kế toán hàng tồn kho, đặc điểm tổ
chức hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng kế toán hàng tồn kho tại các công ty
xây lắp trên địa bàn Hà Nội để đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán hàng
tồn kho tại các công ty xây lắp trên địa bàn Hà Nội.
1.7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn ngoài Lời mở đầu, Kết luận, phần phụ lục và danh mục tài
liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu kế toán hàng tồn kho
Chương 2. Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu thực trạng kế toán
hàng tồn kho trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Hà Nội
Chương 3. Các kết luận và một số ý kiến đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện
công tác kế toán hàng tồn kho tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Hà Nội
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU KẾ TOÁN
HÀNG TỒN KHO
5
1.1. Lý luận chung về hàng tồn kho
1.1.1. Khái niệm, phân loại hàng tồn kho
* Khái niệm hàng tồn kho:
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 02 (IAS 02) "Hàng tồn kho là những tài sản
được giữ để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường trong quá trình sản xuất ra
thường, đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang: nguyên liệu, vật liệu, công
cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ"
2
.
Như vậy, khái niệm hàng tồn kho trong chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 02 là
sự chuẩn hoá về khái niệm hàng tồn kho trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
và đã đưa ra được phạm vi, đặc điểm, cũng như điều kiện về tài sản hàng tồn kho của
doanh nghiệp. Đó là sự tổng kết, kế thừa có chọn lọc các quan điểm về hàng tồn kho
trong các văn bản, tài liệu pháp lý của Việt Nam và quốc tế từ trước tới nay.
Tóm lại, hàng tồn kho là tài sản lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,
tồn tại dưới hình thái vật chất, bao gồm hàng tồn kho, công cụ, dụng cụ, thành phẩm,
hàng hóa đang ở trong kho hoặc đang đi trên đường, đang được gửi đi gia công chế
biến hoặc đang được gửi bán và sản phẩm dở dang đang trong quá trình sản xuất, kinh
doanh.
Hàng tồn kho là những tài sản được doanh nghiệp nắm giữ để bán hoặc để sản
xuất ra sản phẩm để bán trong tương lai. Vì vậy, tất các sản phẩm được mua vào và để
bán ra thường là một phần của hàng tồn kho; công trình xây dựng dở dang của đơn vị
nhận thầu là hàng tồn kho của doanh nghiệp xây lắp; Tương tự như vậy, các máy móc,
thiết bị, đôi khi sẽ là bộ phận hàng tồn kho của các nhà sản xuất và cung cấp. Qua đó
có thể cho thấy rằng hàng tồn kho là loại tài sản khá phức tạp và quan trọng của doanh
nghiệp, cho nên cần thiết phải đề cập tới các nội dung của nó để thực hiện kế toán hàng
tồn kho đảm bảo theo đúng quy định.
2
Bộ tài chính, Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính
7
Theo kế toán Việt Nam: chuẩn mực kế toán số 02 (VAS 02) quy định
- Hàng hoá mua về để bán: Hàng hoá tồn kho, hàng mua đang đi trên đường, hàng gửi
đi bán, hàng hoá gửi đi gia công chế biến;
- Thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán;
- Hàng tồn kho đang đi trên đường: là hàng tồn kho doanh nghiệp mua ngoài đã
thuộc quyền sơ hữu của doanh nghiệp nhưng còn đang trên đường vận chuyển về
doanh nghiệp hoặc đã về đến doanh nghiệp nhưng chưa được kiểm nhận nhập kho.
- Hàng tồn kho: là những hàng tồn kho đang được bảo quản trong các kho, quầy
của doanh nghiệp.
- Hàng tồn kho đang trong quá trình sản xuất: là những hàng tồn kho đang trong
quá trình sản xuất chế tạo chưa tạo thành sản phẩm.
- Hàng gửi bán: là những hàng tồn kho được doanh nghiệp gửi đi cho khách hàng
hoặc gửi các đại lý bán nhưng chưa xác định đươc tiêu thụ.
Cách phân loại này giúp quản lý hàng tồn kho gắn với trách nhiệm vật chất của
từng bộ phận, cá nhân trong quá trình bảo quản và sử dụng hàng tồn kho.
Phân loại căn cứ vào mối liên hệ với các quá trình kinh doanh hàng tồn kho chia
thành:
- Hàng tồn kho liên quan đến quá trình mua hàng: là những hàng tồn kho được
hình thành từ quá trình mua hàng như nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hóa mua
ngoài;
- Hàng tồn kho liên quan đến quá trình sản xuất: là những hàng tồn kho vẫn nằm
trong quá trình sản xuất như sản phẩm dở dang.
- Hàng tồn kho liên quan đến quá trình bán hàng: là những hàng tồn kho đang ở
vị trí sẵn sàng để bán như thành phẩm, hàng hóa.
9
Cách phân loại này giúp quản lý hàng tồn kho kho với quản lý các quá trình sản
xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
Đối với đơn vị xây lắp thì phân loại nguyên, vật liệu căn cứ vào tiêu thức nào
đó, tùy theo yêu cầu quản lí để sắp xếp từng thứ, loại vật liệu vào theo cùng một nhóm.
Trong các doanh nghiệp xây lắp, việc phân loại nguyên, vật liệu cũng được thực
hiện như các doanh nghiệp sản xuất. Để có thể quản lí chặt chẽ và thuận tiện cho việc
tổ chức hạch toán nguyên, vật liệu tới từng loại, từng thứ phục vụ cho nhu cầu quản lí
doanh nghiệp, căn cứ vào nội dung kinh tế, vai trò của từng loại NVL và yêu cầu kế
toán quản trị trong doanh nghiệp, NVL được chia thành những loại sau:
điểm NVL được sử dụng thống nhất trong phạm vi toàn doanh nghiệp nhằm đảm bảo
cho các bộ phận, đơn vị sử dụng không bị nhầm lẫn với nhau
Ngoài những yếu tố trên đối với những công ty xây dựng thì hàng tồn kho còn
chính là những công trình thi công dở dang. Đó chính là những hàng tồn kho lớn nhất
của những đơn vị xây lắp.
1.1.2. Nguyên tắc kế toán hàng tồn kho
* Thứ nhất, nguyên tắc giá gốc:
Hàng tồn kho phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của hàng tồn kho không
được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể.
Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên
quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và trạng thái hiện tại.
- Chi phí mua: bao gồm giá mua, các loại thuế không được hoàn lại, chi phí vận
chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng và các chi phí khác có liên quan
11
trực tiếp tới việc mua hàng tồn kho. Các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá
hàng mua không đúng quy cách, phẩm chất được trừ khỏi chi phí mua.
- Chi phí chế biến: bao gồm những chi phí có liên quan trực tiếp đến sản phẩm
sản xuất, như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản
xuất chung biến đổi phát sinh trong quá trình chuyển hoá nguyên liệu, vật liệu thành
thành phẩm.
- Chi phí liên quan trực tiếp khác: bao gồm các khoản chi phí khác ngoài chi phí
mua và chi phí chế biến hàng tồn kho.
Chi phí không tính vào giá gốc hàng tồn kho gồm:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công và các chi phí sản xuất, kinh
doanh khác phát sinh trên mức bình thường;
- Chi phí bảo quản hàng tồn kho trừ các khoản chi phí bảo quản hàng tồn kho
cần thiết cho quá trình sản xuất tiếp theo và chi phí bảo quản trong quá trình mua hàng.
- Chi phí bán hàng.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp.
* Thứ hai, nguyên tắc nhất quán:
hiện là phù hợp với nguyên tắc tài sản không được phản ánh lớn hơn giá trị thực hiện
ước tính từ việc bán hay sử dụng chúng. Cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể
thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá hàng
tồn kho. Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của
hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng. Việc lập dự phòng
giảm giá hàng tồn kho được thực hiện trên cơ sở từng mặt hàng tồn kho. Đối với dịch
vụ cung cấp dở dang, việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được tính theo từng loại
dịch vụ có mức giá riêng biệt.
13
Nguyên tắc này đòi hỏi trên bảng cân đối kế toán, giá trị hàng tồn kho phải
được phản ánh theo giá trị ròng:
Giá trị tài sản ròng = Giá trị tài sản - Khoản dự phòng
Nguyên liệu, vật liệu và công cụ, dụng cụ dự trữ để sử dụng cho mục đích sản
xuất sản phẩm không được đánh giá thấp hơn giá gốc nếu sản phẩm do chúng góp phần
cấu tạo nên sẽ được bán bằng hoặc cao hơn giá thành sản xuất của sản phẩm. Khi có sự
giảm giá của nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ mà giá thành sản xuất sản phẩm
cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện được, thì nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ
tồn kho được đánh giá giảm xuống bằng với giá trị thuần có thể thực hiện được của
chúng.
Cuối kỳ kế toán năm tiếp theo phải thực hiện đánh giá mới về giá trị thuần có
thể thực hiện được của hàng tồn kho cuối năm đó. Trường hợp cuối năm kế toán năm
nay, nếu khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập thấp hơn khoản dự phòng
giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối kỳ kế toán năm trước thì số chênh lệch lớn hơn
phải được hoàn nhập để đảm bảo cho giá trị hàng tồn kho phản ánh trên báo cáo tài
chính là theo giá gốc (nếu giá gốc nhỏ hơn giá trị thuần có thể thực hiện được) hoặc
theo giá trị thuần có thể thực hiện được (nếu giá gốc lớn hơn giá trị thuần có thể thực
hiện được).
* Thứ tư, nguyên tắc phù hợp:
Khi bán hàng tồn kho, giá gốc của hàng tồn kho đã bán được ghi nhận là chi phí
sản xuất, kinh doanh trong kỳ phù hợp với doanh thu liên quan đến chúng được ghi
=
Giá mua
ghi trên
hóa đơn
+
Chi phí
thu mua
+
Thuế nhập
khẩu(nếu
có)
-
Chiết khấu
thương mại
(nếu có)
+ Do tự gia công chế biến
Giá thực tế NVL
nhập kho
=
Trị giá vốn vật liệu xuất
gia công chế biến
X
Chi phí gia công chế
biến (nhân công, KH)
15
+ Do thuê ngoài gia công chế biến
Giá thực tế
NVL nhập
kho
trường tương đương
+
Chi phí vận chuyển, bốc
dỡ (nếu có)
+ Đối với phế liệu thu hồi từ sản xuất:
Giá trị thực tế của phế liệu thu
hồi
=
Giá có thể sử dụng lại hoặc có thể
bán
- Phương pháp tính giá hàng xuất kho:
Hiện nay, các đơn vị xây dựng sẽ thu mua nguyên vật liệu từ nhiều nguồn khác
nhau và với đơn giá khác nhau, vì vậy các đơn vị xây lắp cần phải lựa chọn một
phương pháp để tính trị giá hàng xuất kho. Việc lựa chọn phương pháp nào là tùy thuộc
vào đặc điểm hàng hóa, trình độ quản lý Tuy nhiên, yêu cầu phải sử dụng phương
pháp tính giá nhất quán trong suốt niên độ kế toán, khi thay đổi phải thuyết minh, giải
trình.
+ Phương pháp giá bình quân:
16
Theo phương pháp này giá trị của từng loại hàng hóa tồn kho được tính theo giá
trị trung bình của từng loại hàng hóa tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng hóa tồn
kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Phương pháp giá bình quân có thể được tính
theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng về, phụ thuộc vào tình hình của doanh
nghiệp.
Theo giá bình quân cả kỳ dự trữ (giá bình quân gia quyền):
Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng hóa tồn kho.
Tùy theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho căn cứ vào giá
mua và lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị bình quân:
=
Phương pháp này đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ. Tuy
tạo ra bởi giá trị NVL nhập vào từ cách đó rất lâu. Đồng thời, nếu số lượng chủng loại
mặt hàng nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán
cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên rất nhiều.
+ Phương pháp nhập sau - xuất trước (Last In First Out - LIFO):
Phương pháp này giả định là hàng hóa được mua sau hoặc sản xuất sau thì được
xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là những NVL được mua hoặc sản xuất
trước đó. Theo phương pháp này thì giá trị NVL xuất kho được tính theo giá của NVL
nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của NVL đầu
kỳ hoặc gần đầu kỳ.
Việc thực hiện phương pháp này sẽ đảm bảo được yêu cầu của nguyên tắc phù
hợp trong kế toán. Tuy nhiên trị giá vốn của hàng hóa tổn kho cuối kỳ có thể không sát
với giá thị trường của hàng hóa thay thế.
Phương pháp hệ số giá cho phép kết hợp chặt chẽ hạch toán chi tiết và hạch toán
tổng hợp về NVL trong công tác tính giá, nên công việc tính giá được tiến hành nhanh
18
chóng do chỉ phải theo dõi biến động của NVL với cùng, một mức giá và đến cuối kỳ
mới điều chỉnh và không bị phụ thuộc vào số lượng danh điểm NVL, số lần nhập, xuất
của mỗi loại nhiều hay ít.
Phương pháp này phù hợp với các doanh nghiệp có nhiều chủng loại NVL và đội
ngũ kế toán có trình độ chuyên môn cao.
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, giá thực tế của NVL nhập kho luôn biến
động phụ thuộc vào các yếu tố thị trường, các chính sách điều tiết vi mô và vĩ mô, cho
nên việc sử dụng giá hạch toán cố định trong suất kỳ kế toán là không còn phù hợp
nữa.
Nhìn chung mỗi phương pháp tính giá nêu trên đều có ưu nhược điểm riêng, vì
vậy trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc chung của kế toán và tùy theo điều kiện cụ thể
về số lượng NVL, số lần nhập, xuất, trình độ nhân viên kế oán, điều kiện kho bãi mà
doanh nghiệp lựa chọn phương pháp tính giá hàng hóa tồn kho cho hợp lý và hiệu quả.
1.2. Kế toán hàng tồn kho trong doanh nghiệp xây lắp theo quan điểm của kế
toán tài chính.