ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đề tài: Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán trong các Công ty
Chứng khoán trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Ngày nay, cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán,
các công ty chứng khoán đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc
tạo lập và điều hành thị trường tài chính. Với vai trò là một tổ chức
trung gian ở thị trường chứng khoán thực hiện trung gian tài chính
thông qua các hoạt động của mình, các công ty chứng khoán trở thành
tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung
và của thị trường chứng khoán nói riêng.
Tuy nhiên, là một định chế tài chính đặc biệt với đặc thù hoạt
động đa dạng, các công ty chứng khoán phải tuân theo những quy tắc
tài chính phức tạp. Việc tổ chức hạch toán kế toán tại các công ty
chứng khoán một cách khoa học và chính xác không chỉ giúp các công
ty chứng khoán khai thác năng lực của các nhân viên kế toán một cách
hiệu quả, các thông tin về kế toán được phản ánh một cách kịp thời
chính xác và đúng theo quy định mà còn đảm bảo quyền lợi của các
nhà đầu tư. Mặc dù đã có các văn bản hướng dẫn hạch toán kế toán tại
các công ty chứng khoán nhưng trong quá trình vận dụng vào công tác
tổ chức hạch toán kế toán của các công ty chứng khoán trên địa bàn
thành phố Hà Nội còn bộc lộ những mặt chưa phù hợp, còn có nhiều
điểm bất cập cần phải được nghiên cứu hoàn thiện. Xuất phát từ lý do
1
đó, tôi đã lựa chọn đề tài “ Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán trong
các công ty chứng khoán trên địa bàn thành phố Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
hạch toán kế toán trong các công ty chứng khoán trên địa bàn thành
phố Hà nội
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn gồm 03 chương:
Chương I. Lý luận chung về tổ chức hạch toán kế toán trong
các công ty chứng khoán.
Chương II. Thực trạng tổ chức hạch toán kế toán trong các công
ty chứng khoán trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Chương III. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức
hạch toán kế toán trong các công ty chứng khoán trên địa bàn Thành
phố Hà Nội.
CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC HẠCH TOÁN
KẾ TOÁN TRONG CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN
1.1.1
1.1.1.1
Khái niệm tổ chức hạch toán kế toán
Khái niệm chung về hạch toán kế toán
3
Trong bất cứ hình thái kinh tế xã hội nào, hoạt động sản xuất
luôn là cơ sở tồn tại và phát triển của con người, và nhu cầu phải thực
hiện chức năng quản lý hoạt động sản xuất là một nhu cầu tất yếu. Xã
hội càng phát triển thì sự quan tâm đến hoạt động sản xuất của con
người càng tăng và càng cần thiết phải tăng cường quản lý hoạt động
sản xuất. Để có được thông tin phục vụ cho quản lý hoạt động kinh tế,
học như phương pháp chứng từ, phương pháp đối ứng tài khoản,
phương pháp tính giá và phương pháp tổng hợp cân đối. Trong đó
phương pháp lập chứng từ là thủ tục hạch toán đầu tiên và bắt buộc
phải có đối với mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Nhớ đó mà số liệu do
kế toán cung cấp đảm bảo được tính chính xác và có cơ sở pháp lý
vững chắc.
Như vậy, với hai chức năng cơ bản là thông tin và kiểm tra,
hạch toán kế toán chính là một bộ phận quan trọng của hệ thống các
công cụ quản lý kinh tế tài chính, có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với
mỗi doanh nghiệp mà với toàn bộ nền kinh tế xã hội nói chung. Thông
tin hạch toán kế toán có một số đặc điểm nổi bật như:
+ Thông tin hạch toán kế toán là những thông tin động về tuần
hoàn của những tài sản.
+ Thông tin hạch toán kế toán luôn là những thông tin về hai
mặt của mỗi hiện tượng, mỗi qua trình: Vốn và nguồn, tăng và giảm,
chi phí và kết quả….. Những thông tin như thế có ý nghĩa rất lớn đối
với việc ứng dụng hạch toán kinh doanh
5
+ Mỗi thông tin thu được là kết quả của quá trình có tính hai
mặt: thông tin và kiểm tra.
Với bản chất như vậy, thông tin hạch toán kế toán phục vụ cho
rất nhiều đối tượng không chỉ cho các nhà quản lý doanh nghiệp trong
việc ra quyết định kinh doanh phù hợp mà còn cho các đối tượng bên
ngoài, có liên quan về lợi ích đối với doanh nghiệp như nhà đầu tư,
các cơ quan nhà nước…
Để thực hiện chức năng thông tin và kiểm tra của kế toán, đói
hỏi phải tiến hành việc tổ chức hạch toán kế toán, thiết kế một hệ
thống thu thập, xử lý, phân tích, tổng hợp số liệu của các quá trình
đối tượng của hạch toán kế toán là ghi chép, tính toán, xử lý, kiểm tra
và cung cấp thông tin về tình hình tài sản và mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh phục vụ cho công tác quản lý kinh tế tài chính của đơn vị,
quan điểm này cho rằng: Tổ chức hạch toán kế toán là việc thiết lập
mối quan hệ giữa các phương pháp kế toán trong từng nội dung hạch
toán cụ thể trong trong từng điều kiện cụ thể nhằm phản ánh chính
xác, kịp thời tình hình tài sản và các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại
đơn vị. Quan điểm này thể hiện cụ thể hơn về tổ chức hạch toán kế
toán, tuy nhiên lại chưa nêu rõ yếu tốt con người, là yếu tố đảm nhiệm
việc thực hiện các công việc và áp dụng các phương pháp hạch toán
kế toán, đó chính là bộ máy kế toán trong mỗi đơn vị, là một yếu tố
không thể thiếu được của hệ thống tổ chức hạch toán kế toán.
Quan điểm thứ ba: Xuất phát từ nội dung và nhiệm vụ của kế
toán là thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình kinh tế tài
7
chính của đơn vị, quan điểm này cho rằng: Tổ chức hạch toán kế toán
phải giải quyết cả hai phương diện: Tổ chức thực hiện các phương
pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán, các phương tiện tính toán nhằm
đạt được mục đích nghiên cứu của khoa học kế toán và tổ chức bộ
máy kế toán nhằm liên kết các cán bộ, nhân viên kế toán ở đơn vị để
thực hiện tốt công tác kế toán.
Tổng hợp từ những quan điểm trên, có thể nêu lên khái nhiệm
về tổ chức hạch toán kế toán như sau: Tổ chức hạch toán kế toán là
việc sắp xếp hợp lý các khối lượng công tác kế toán và bộ máy nhân
sự của kế toán theo một mô hình nào đó, trên cơ sở vận dụng hệ thống
phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán, các căn cứ nhất định và
trong những điều kiện, đặc điểm cụ thể của đơn vị nhằm thực hiện
chức năng thôngtin và kiểm tra của kế toán.
nghiệp, là một bộ phận cấu thành rất quan trọng trong hệ thống thông
tin kinh tế của doanh nghiệp, có ý nghĩa to lớn cả tầm vi mô và vĩ mô.
1.1.2
Nguyên tắc, nhiệm vụ của tổ chức hạch toán kế toán
trong các công ty chứng khoán.
1.1.2.1
Nguyên tắc tổ chức hạch toán kế toán trong các
Công ty Chứng khoán
Để tổ chức hạch toán kế toán một cách khoa học, hợp lý nhằm
phát huy vai trò là một công cụ quản lý kinh tế trong các công ty
chứng khoán, việc tổ chức hạch toán kế toán trong các công ty chứng
9
khoán phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định. Một số nguyên
tắc cơ bảo cần tuân thủ bao gồm:
- Nguyên tắc thống nhất:
Tổ chức hạch toán kế toán là một loại hình tổ chức đặc thù. Hệ
thhống tổ chức hạch toán kế toán không phải là sự lắp ghép tuỳ tiện
hoặc gộp lại một cách đơn giản các phần tử mà là sự kết hợp hữu cơ
giữa chúng. Vì vậy tổ chức hạch toán kế toán phải đảm bảo tính thống
nhất trong hệ thống kế toán giữa đối tượng và phương pháp, hình thức
và bộ máy kế toán trong đơn vị kế toán.
Tổ chức hạch toán kế toán còn phải đảm bảo tính thống nhất
giữa kế toán và quản lý. Doanh nghiệp là một hệ thống gồm nhiều bộ
kế toán, tránh rập khuôn máy móc, đảm bảo sự hài hoà giữa tính thống
nhất và tính đặc thù, để có thể phát huy đầy đủ vai trò của kế toán
trong hệ thống quản lý đơn vị. Hơn nữa, tuỳ tính phức tạp của đối
tượng để tính các bước của quy trình kế toán và lựa chọn hình thức kế
toán, bộ máy kế toán thích hợp với đặc thù của đơn vị.
- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả:
Tổ chức hạch toán kế toán là việc vân dụng hệ thống phương
pháp, các nguyên tắc kế toán, các căn cứ nhất định vào trong từng đơn
vị cụ thể nhằm thực hiện chức năng thông tin và kiểm tra của kế toán.
Vì vậy tổ chức hạch toán kế toán phải đảm bảo tính hiệu quả, nghĩa là
phải tổ chức hạch toán kế toán một cách khoa học, hợp lý nhằm thực
hiện chức năng của nó được tốt nhất với chi phí thấp nhất. Theo
11
nguyên tắc này, khi tổ chức hạch toán kế toán phải luôn xem xét mối
quan hệ giữa chi phí bỏ ra với kết quả về thông tin kế toán phục vụ
cho quản lý.
Trên đây là những nguyên tắc cơ bản mang tính bao quát toàn
bộ quá trình tổ chức hạch toán kế toán. Trong quá trình triển khai tổ
chức hạch toán kế toán, các doanh nghiệp phải tuân thủ và thực hiện
một cách đầy đủ các nguyên tắc này nhằm tổ chức hạch toán kế toán
khoa học, hợp lý và hiệu quả nhất. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào từng điều
kiện cụ thể, doanh nghiệp còn phải tuân thủ vào những nguyên tắc
cũng như dựa vào những căn cứ cụ thể trong từng nội dung tổ chức để
đảm bảo tính khoa học của tất cả các nội dung trong tổ chức hạch toán
kế toán.
1.1.2.2
Nhiệm vụ của tổ chức hạch toán kế toán trong các
chức hạch toán kế toán. Bộ máy kế toán là những con người sẽ thực
hiện các công việc từ tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ sách, báo cáo
cho đến tổ chức các bộ phận kế toán. Nhiệm vụ của tổ chức bộ máy kế
toán là xây dựng mô hình bộ máy kế toán phù hợp và phân công các
kế toán viên thực hiện các phần kế toán của đơn vị, đảm bảo cho công
việc luôn trôi chảy, công việc của người này không gây cản trở việc
thực hiện nhiệm vụ của người khác.
Công việc tổ chức bộ máy kế toán sẽ xác định các vấn đề: số
lượng nhân viên kế toán, bộ phận kế toán, nhiệm vụ của từng nhân
viên, từng bộ phận kế toán, mối quan hệ giữa các bộ phận kế toán gắn
13
với việc phân chia các bộ phận kế toán. Theo đó những nhân viên kế
toán sẽ đảm nhiệm một hoặc nhiều công việc kế toán của đơn vị mình.
Tổ chức bộ máy kế toán khoa học, hợp lý, gọn nhẹ, hoạt động
có hiệu quả là điều kiện vô cùng quan trọng để thu nhập, xử lý và
cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho các đối tượng sử dụng
thông tin. Hơn nữa, tổ chức tốt bộ máy kế toán còn tạo điều kiện cho
việc phát huy và nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán.
Lựa chọn hình thức tổ chức hạch toán kế toán của đơn vị cũng
phải dựa trên các căn cứ sau:
-
Đặc điểm, quy mô và địa bàn hoạt động của đơn vị
-
Tình hình phân cấp quản lý tài chính trong đơn vị
Trong số lao động kế toán có chức danh cao nhất là kế toán
trưởng. Kế toán trưởng là người có chức năng tổ chức bộ máy kế toán
trên cơ sở xác định đúng khối lượng công tác kế toán nhằm thực hiện
hai chức năng cơ bản của kế toán là: thông tin và kiểm tra hoạt động
kinh doanh, thông qua trưởng phòng kế toán để điều hành và kiểm
soát hoạt động của bộ máy kế toán ở đơn vị do mình phụ trách; chịu
trách nhiệm về nghiệp vụ chuyên môn kế toán, tài chính của đơn vị,
kiểm tra việc thực hiện chế độ, thể lệ quy định của nhà nước về lĩnh
vực kế toán tài chính. Với chức năng này, kế toán trưởng là người
giúp việc trong lĩnh vực chuyên môn kế toán, tài chính cho Ban điều
hành và Hội đồng quản trị.
Từ kế toán trưởng, kế toán tổng hợp đều là các lao động kế toán
trong bộ máy kế toán. Giữa các loại lao động trong bộ máy có quan hệ
qua lại mật thiết với nhau, được thể hiện trong ba cách tổ chức sau:
- Bộ máy kế toán tổ chức theo kiểu trực tuyển:
15
Với kiểu tổ chức theo quan hệ trực tuyển, bộ máy kế toán hoạt
động theo phương pháp trực tiếp, tức là kế toán trưởng trực tiếp điều
hành các nhânviên kế toán không thông qua khâu trung gian nhận
lệnh. Theo cách này mối quan hệ phụ thuộc trong bộ máy kế toán trở
nên đơn giản, thực hiện trong một cấp kế toán tập trung, hoạt động
quy mô nhỏ.
- Bộ máy kế toán tổ chức theo kiểu trực tuyển tham mưu:
Theo kiểu tổ chức này, bộ máy kế toán được hình thành bởi
mối liên hệ trực tuyến như phương thức trực tiếp và mối liên hệ có
tính chất tham mưu giữa kế toán trưởng với các nhân viên kế toán và
giữa kế toán trưởng với các bộ phận tham mưu. Trong điều kiện bộ
không có sự phân tán quyền lực quản lý hoạt động kinh doanh cũng
như hoạt động tài chính.
Ưu điểm của mô hình này là đảm bảo sự lãnh đạo tập trung,
thống nhất thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát và báo cáo kế toán
đồng thời thuận tiện cho việc phân công công tác kế toán, trang bị
máy móc, kỹ thuật hiện đại.
Tuy nhiên mô hình này không thích hợp với những doanh
nghiệp hoạt động trên địa bàn phân tán, trình độ trang bị, sử dụng
phương tiện kỹ thuật chưa cao, bởi vì sẽ gây khó khăn cho công tác
kiểm tra của kế toán trưởng và của lãnh đạo doanh nghiệp đối với các
hoạt động sản xuất kinh doanh ở các đơn vị trưc thuộc.
17
Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung
Kế toán trưởng
KT vật
tư và
TSCĐ.
Kế toán
vốn
bằng
tiền và
ta thanh
tán
Kế toán
phân cấp.
Kế toán ở đơn vị trực thuộc phải mở sổ kế toán, thực hiện toàn
bộ khối lượng công tác kế toán phần hành từ giai đoạn hạch toán ban
đầu tới giai đoạn lập báo cáo kế toán lên kế toán trung tâm theo sự
phân cấp quy định. Kế toán trung tâm là nơi thực hiện khâu tổng hợp
số liệu báo cáo của cơ sở, lập báo cáo tài chính cho các cơ quan tổ
chức quản lý, chịu trách nhiệm cuối cùng về toàn bộ hoạt động của
đơn vị trực thuộc trước nhà nước, các bạn hàng, nhà cung cấp…
18
Điều kiện áp ụng: Mô hình này phù hợp với những doanh
nghiệp có mô hình kinh doanh lớn, cơ cấu kinh doanh phức tạp và địa
bàn hoạt động rộng, phân tán. Trong điều kiện kinh doanh như vậy,
các doanh nghiệp thường phải phân cấp kinh doanh, phân cấp quản lý
điều hành do vậy buộc phải phân cấp trong tổ chức kế toán.
Ưu điểm của mô hình này là tạo điều kiện cho việc kiểm tra, chỉ
đạo hoạt động sản xuất kinh doanh về công tác kế toán ở các đơn vị
trực thuộc được nhanh nhạy kịp thời. Đồng thời, phát huy được chức
năng, vai trò của kế toán ở các đơn vị trực thuộc.
Mô hình này có nhược điểm là công việc tổng hợp số liệu, cung
cấp thông tin, lập báo cáo toàn doanh nghiệp thường bị chậm, không
tập trung trong khâu chỉ đạo kiểm tra nghiệp vụ của kế toán trưởng, bộ
máy kế toán cồng kềnh, không thuận tiện cho việc cơ giới hoá công
tác kế toán.
19
Sơ đồ 1.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán
theo kiểu hỗn hợp.
Theo mô hình này, doanh nghiệp tổ chức phòng kế toán tập
trung, ngoài ra ở các đơn vị trực thuộc lớn xa văn phòng có tổ chức
phòng, bộ phận kế toán của đơn vị trực thuộc
Điều kiện áp dụng: mô hình này phù hợp với các doanh nghiệp
có quy mô lớn, hoạt động trên địa bàn vừa tập trung vừa phân tán.
Ưu điểm của mô hình là khắc phục được những hạn chế của hai
hình thức trên, tạo điều kiện tăng cường công tác kế toán ở các đơn vị
20
trực thuộc lớn, cũng như toàn bộ doanh nghiệp, phù hợp với việc phân
công kế toán và phân cấp quản lý – tài chính.
Nhược điểm của mô hình này là bộ máy kế toán cồng kềnh
Sơ đồ 1.3: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán hỗn hợp
Kế toán đơn vị cấp trên
Kế toán trưởng
Kế toán các
hoạt động tại
cấp trên
Kế toán các đơn
vị trực thuộc
hạch toán tập trung
Bộ phận tổng
hợp báo cáo từ
đơn vị trực thuộc
tổ chức thực hiện và vận dụng theo đúng quy định của Nhà nước về
Chế độ chứng từ.
Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán tại doanh nghiệp bao gồm:
Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán và tổ chức luân chuyển chứng từ
kế toán.
Tổ chức hệ thống chứng từ là việc lựa chọn số lượng, chủng
loại chứng từ căn cứ vào hệ thống biểu mẫu chứng từ thống nhất do
Nhà nước ban hành, đồng thời phù hợp với cơ cấu tài sản, nguồn vốn,
đặc điểm hoạt động và trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Chứng từ là phương pháp đầu tiên quan trọng của hệ thống
phương pháp hạch toán kế toán. Phương pháp chứng từ là: phương
pháp thông tin và kiểm tra về trạng thái và sự biến động của đối tượng
hạch toán kế toán cụ thể nhằm phục vụ kịp thời cho lãnh đạo nghiệp
vụ và làm căn cứ phân loại, ghi sổ và tổng hợp kế toán.
Chứng từ kế toán phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
- Tên và số hiệu của chứng từ kế toán
- Ngày tháng năm của chứng từ kế toán.
- Tên, địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân lập chứng từ kế toán.
- Tên địa chỉ của đơn vị hoặc cá nhân nhận chứng từ kế toán.
- Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh;
22
- Số lượng, đơn giá và số tiền của nghiệp vụ kinh tế, tài chính ghi
bằng số, tổng số tiền của chứng từ kế toán dùng để thu, chi ghi bằng
số và bằng chữ
- Chữ ký, họ và tên của người lập, người duyệt và những người có
liên quan đến chứng từ kế toán.
Ngoài những nội dung chủ yếu trên, chứng từ kế toán có thể có
thêm những nội dung khác theo từng loại chứng từ.
tổ chức vận dụng chế độ hợp lý, hợp pháp là căn cứ pháp lý để ghi sổ
kế toán và thông tin cho quản lý.
- Tổ chức vận dụng chứng từ kế toán phải căn cứ vào yêu cầu quản
lý tài sản và tình hình biến động của chúng để tổ chức sử dụng chứng
từ thích hợp và luân chuyển giữa các bộ phận liên quan.
- Tổ chức vận dụng chứng từ phải căn cứ vào nội dung và đặc điểm
của từng loại chứng từ.
Tổ chức luân chuyển chứng từ:
Chương trình luân chuyển chứng từ là sự vận động của chứng
từ từ giai đoạn lập cho đến giao đoạn lưu trữ, bảo quản chứng từ, thực
hiện chức năng truyền thông tin về các hoạt động kinh tế tài chính
phản ánh trong chứng từ kế toán. Do chứng từ có nhiều loại với đặc
tính luân chuyển khác nhau nên các giai đoạn cụ thể của quá trình
cũng khác nhau, song chung quy lại luân chuyển chứng từ thường bao
gồm các giai đoạn sau:
24
Giai đoạn thứ nhất: lập, tiếp nhận và xử lý chứng từ. Tuỳ thuộc
theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ mà sử dụng chứng từ thích hợp.
Khi lập chứng từ phải thuân thủ các quy định sau:
- Tất cả các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến hoạt
động của đơn vị đều phải lập chứng từ. Chứng từ chỉ lập một lần cho
mỗi nghiệp vụ kinh tế, tài chính
- Chứng từ kế toán phải được lập rõ ràng, đầy đủ, kịp thời, chính xác
theo nội dung quy định trên mẫu. Trong trường hợp chứng từ kế toán
chưa có quy định mẫu thì đơn vị kế toán được tự lập chứng từ kế toán
nhưng phải đẩy đủ các nội dung theo quy định.
- Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính trên chứng từ kế toán không