PHẦN I: ĐẶC VẤN ĐỀ
I . LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trước xu thế phát triển và hội nhập trong khu vực và trên phạm vi toàn
cầu đã đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới một cách mạnh mẽ , đồng bộ cả mục
tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học, cũng như phương pháp
kiểm tra đánh giá học sinh để có thể đào tạo ra những lớp người lao động mới
mà xã hội đang cần. Trong đó,việc đổi mới phương pháp và phương tiện dạy học
phải được đặc biệt chú ý.
Vật lý học là một môn khoa học thực nghiệm, đặc điểm này đòi hỏi
giáo viên vật lý phải tăng cường sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực
quan trong quá trình dạy học. Đó là một yếu tố có tính đột phá đối với chiến lược
đổi mới phương pháp dạy học vật lý hiện nay. Bởi việc sử dụng thí nghiệm và
phương tiện trực quan dạy học vật lý sẽ góp phần tích cực vào đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học .Vì
như chúng ta đều biết , thí nghiệm và phương tiện trực quan giữ vai trò quan
trọng trong dạy học vật lí ở trường phổ thông , bởi nó không chỉ là nguồn cung
cấp thông tin, mà còn là yếu tố kích thích hứng thú, khuyến khích tính tích cực,
tự giác và sáng tạo của học sinh trong học tập bộ môn.
Việc nghiên cứu nhằm khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả các
thiết bị thí nghiệm trong dạy học vật lý là một yêu cầu có tính cấp thiết.Thực tiễn
dạy học cho thấy vật lý học là một khoa học thực nghiệm, phần lớn giáo viên dạy
vật lý nhưng hiểu biết về thí nghiệm và phương tiện dạy học chưa thật tinh
thông, dạy vật lý nhưng kĩ năng thực hành chưa thật nhuần nhuyễn vì thế giáo
viên chưa thể trang bị được cho người học kĩ năng thí nghiệm hợp lí, khoa học.
Do vậy, giáo viên cần có cái nhìn đầy đủ hơn về thí nghiệm. Đồng thời có khả
năng sử dụng chúng một cách có hiệu quả trong quá trình dạy học từ đó giúp cho
người học có được kĩ năng thí nghiệm ngày một tốt hơn. Đó cũng là một trong
1 Năm học: 2014 - 2015
những mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay trong nhà
trường phổ thông đã được quán triệt trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ IX : Đổi mới phương pháp dạy phải theo hướng phát huy tư duy sáng
vật lý thông qua việc tự tạo dụng cụ thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền ở nhà của học
sinh THCS.
IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Nếu tất cả giáo viên vật lý đều đồng bộ thấy được vai trò của thí
nghiệm vật lý ở nhà của học sinh và thực hiện đúng yêu cầu, phát huy tác dụng
của thí nghiệm vật lý với dụng cụ đơn giản, rẻ tiền, thí nghiệm tự tạo của học
sinh thì học sinh sẽ phát huy được tính chủ động sáng tạo , nâng cao năng lực thí
nghiệm . Từ đó các em sẽ hứng thú với môn vật lý và yêu thích môn học.
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về hứng thú của học sinh, về thí nghiệm vật lý
ở nhà, thí nghiệm với những dụng cụ tự tạo, đơn giản của học sinh.
2. Khảo sát và đánh giá thực trạng về hứng thú của học sinh, về thí nghiệm
vật lý ở nhà, thí nghiệm với những dụng cụ tự tạo, đơn giản của học sinh.
3. Xác lập các biện pháp giúp học sinh hứng thú học môn vật lý thông
qua việc tự tạo dụng cụ thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền ở nhà của học sinh trường
TH & THCS Trà Tân.
3 Năm học: 2014 - 2015
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Nhóm các phương pháp lí luận:
Phân tích và tổng hợp tài liệu.
Phân loại và hệ thống hóa lí thuyết .
Nhằm xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp điều tra.
Phương pháp quan sát sư phạm.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
Nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng về việc sử dụng dụng cụ thí
nghiệm ở nhà và hứng thú của học sinh đối với môn học vật lí .
3. Phương pháp thống kê toán học:
Nhằm xử lí kết quả nghiên cứu.
sinh tự khám phá, tự làm thí nghiệm sẽ góp phần phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo. Các em sẽ tự tin vào khoa học hơn . Từ đó các em sẽ hứng thú
và yêu thích môn học. Vì vậy , tôi đi sâu, tìm hiểu và đưa ra biện pháp giúp học
sinh hứng thú học môn vật lý thông qua việc tự tạo dụng cụ thí nghiệm đơn
giản, rẻ tiền ở nhà
1. Thí nghiệm vật lí ở nhà:
Thí nghiệm ở nhà là một loại bài thực hành mà giáo viên giao
cho từng học sinh hoặc từng nhóm học sinh thực hiện ở nhà với những dụng cụ
thông thường , đơn giản và dễ kiếm, nhằm tìm hiểu một hiện tượng , xác định
một đại lượng, kiểm chứng một định luật , một quy tắc vật lý nào đó.
Thí nghiệm ở nhà được tiến hành trong điều kiện không có sự
giúp đỡ, hướng dẫn và kiểm tra trực tiếp của giáo viên. Do đó, nó có tác dụng tốt
trong việc phát huy tính tự giác và tự lực của học sinh trong học tập. Thí nghiệm
ở nhà chỉ đòi hỏi học sinh tiến hành với những dụng cụ thí nghiệm tự kiếm ( lon
6 Năm học: 2014 - 2015
bia, chai nước khoáng đã dùng, những đồ chơi bán trên thị trường …) , hoặc
những dụng cụ tự tạo từ những vật dụng đơn giản . Chính đặc điểm này đã tạo
nhiều cơ hội cho sự phát triển hứng thú học tập và sự ham mê yêu thích môn học
của học sinh. Thí nghiệm ở nhà là cơ hội tốt để rèn luyện cho học sinh kĩ năng,
kĩ xảo thực hành , là điều kiện tốt để giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho học sinh.
Ngoài ra, thí nghiệm ở nhà còn có tác dụng phát triển năng lực sáng tạo của học
sinh qua việc đề xuất, thiết kế , chế tạo các dụng cụ thí nghiệm nhằm thực hiện
các nhiệm vụ học tập.
Thí nghiệm ở nhà có tác dụng mạnh mẽ đối với học sinh trên
cả hai mặt giáo dục và giáo dưỡng thông qua việc tự lực thiết kế các phương án
thí nghiệm, chế tạo hoặc lựa chọn các dụng cụ, bố trí tiến hành thí nghiệm và xử
lí kết quả…Thí nghiệm vật lí ở nhà có tác dụng tiếp tục rèn luyện và phát triển
những kĩ năng, kĩ xảo thực hành, những thói quen của người làm thực nghiệm
mà học sinh thu được qua thí nghiệm trực diện và thí nghiệm thực hành vật lí ở
lớp.
đơn giản, dễ kiếm trong đời sống hằng ngày hoặc mua nhưng không đắt tiền.
Như chúng ta đã biết, thí nghiệm hiện đại luôn gắn với những thí nghiệm định
lượng , những thí nghiệm đòi hỏi độ chính xác cao, trái lại đối với những thí
nghiệm định tính thì thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền lại chiếm ưu thế.
* Ưu điểm của thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền:
Những ưu điểm nổi bật của thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền:
+ Dụng cụ cần cho thí nghiệm là những dụng cụ đơn giản, dễ kiếm
trong đời sống hằng ngày, có thể kiếm ở mọi nơi.
+ Dễ thao tác và dễ thành công, vì những thí nghiệm này do chính
giáo viên tự thiết kế, chế tạo và khai thác để sử dụng trong giảng dạy hoặc hướng
dẫn cho học sinh làm ở nhà.
8 Năm học: 2014 - 2015
+ Thí nghiệm cho kết quả rõ ràng, thuyết phục ( thường là những thí
nghiệm gắn với những hiện tượng vật lí gần gũi trong đời sống hằng ngày )
+ Thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền không đòi hỏi ở người sử dụng
những kĩ năng thực hành đặc biệt , nên ai cũng có thể tiến hành được.
+ Thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền không đòi hỏi khắt khe các điều kiện
về cơ sở vật chất như phòng bộ môn, mạng điện, thiết bị…nên ở đâu cũng có thể
tiến hành thí nghiệm được.
+ Hiện tượng và kết quả thí nghiệm có sức hấp dẫn lôi cuốn, vì vậy
nó có tác dụng kích thích hứng thú học tập của học sinh.
Tóm lại thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền có ưu điểm là rất đơn giản, tiện
lợi, dễ tiến hành và cho kết quả thuyết phục, do đó có tác dụng tốt trong việc gây
hứng thú học tập cho học sinh. Bởi vậy, ở nhiều nước trên thế giới, thí nghiệm
đơn giản, rẻ tiền thường chiếm một vị trí quan trọng trong các loại thí nghiệm và
phương tiện dạy học vật lý ở trường phổ thông hiện nay. Đặc biệt , do nó không
đòi hỏi những điều kiện khắt khe về cơ sở vật chất : phòng ốc, điện… như các
thiết bị, máy móc hiện đại , nên nó có thể được khai thác tốt ở mọi nơi, mọi lúc,
nhất là ở vùng nông thôn, miền núi , vùng sâu, vùng xa, những nơi mà cơ sở vật
chất , thiết bị thí nghiệm có thể nói là rất khó khăn.
STT Phương án Số HS Tỷ lệ %
A Rất thích. 11 18,6
B Không thích lắm. 46 78
C Không thích. 2 3,4
11 Năm học: 2014 - 2015
Qua bảng số liệu thu thập: Đối với môn vật lý thì tỷ lệ cao nhất
là 78% ý kiến "không thích lắm", tiếp đến là "rất thích"18,6%. Điều này thể hiện
quan điểm của học sinh về môn vật lí là chưa thật cao. Nhưng cũng không phải
là điều đáng ngại vì tỷ lệ "không thích" là 3,4%.
Các em đã có sự thích thú với môn Vật lí, nhưng chưa thật sự
thích hẳn.
2. Để biết mức độ khó hay dễ của môn Vật lí theo đánh giá của HS ,
thông qua câu hỏi 2: "Em thấy môn Vật lí khó hay dễ so với các môn học
khác" ?
STT Phương án Số HS Tỷ lệ %
A Rất khó. 2 3,4
B Rất dễ. 0 0
C Bình thường. 57 96.6
Qua số liệu trên ta thấy rằng: Theo các em HS đánh giá thì môn
Vật lí không phải là quá khó với môn học khác, bởi tỷ lệ ý kiến "rất khó" chỉ có
3,4%, nhưng cũng không phải là môn học quá dễ 0%, 96,6% ý kiến "bình
thường".
3. Xem học sinh có chuẩn bị bài khi đến lớp? Tôi đặt câu hỏi 3, kết quả
như sau:
STT Phương án Số HS Tỷ lệ %
A Chuẩn bị kỹ bài. 26 44
B Thỉnh thoảng. 13 22
C Không chuẩn bị bài. 0 0
D Chỉ làm bài tập. 5 8,5
E Chỉ học lý thuyết. 15 25,5
"Điều gì ở môn Vật lí khiến em thích thú nhất ?"
Đa số các ý kiến khẳng định: "Thích môn Vật lí nhất là được làm
các thí nghiệm trực quan và giải thích được các hiện tượng từ đó". Điều này cho
13 Năm học: 2014 - 2015
thấy: thí nghiệm Vật lí có sức thu hút các em, tạo được hứng thú cho các em; thể
hiện tinh thần hợp tác nhóm trong học tập, tinh thần đoàn kết, giúp đỡ.
II. THỰC TRẠNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG THÍ NGHIỆN VẬT
1. Thực trạng về việc sử dụng thí nghiệm vật lí:
Giáo viên thực hiện đầy đủ các thí nghiệm theo yêu cầu của
SGK.
Tận dụng tối đa tính năng của dụng cu thí nghiệïm:
VD: + Một số thí nghiệm trong chương trình vật lí lớp 6, 7, 8 cần sử dụng
nguồn điện là pin, để khỏi phải tốn chi phí mua pin giáo viên sử dụng biến thế
nguồn trong bộ dụng cụ thí nghiệm vật lí 9.
+ Sử dụng nam châm trong bộ dụng cụ thí nghiệm vật lí 9 để làm một
số thí nghiệm trong chương trình vật lí lớp 7……… v.v
Tích cực làm đồ dùng dạy học bổ sung vào những tiết mà dụng
cụ ở trường không có.
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng giáo viên gặp rất nhiều khó khăn:
Dụng cụ bị hỏng nhiều nên một số thí nghiệm không đủ dụng cụ
thí nghiệm cho 6 nhóm.
Không có phòng chức năng nên việc trưng bày cũng như sử dụng
không khoa học.
Mặc dù thí nghiệm vật lí ở nhà của học sinh với những dụng cụ đơn giản,
dễ kiếm, dụng cụ tự tạo của học sinh là một thí nghiệm rất quan trọng đã được
phần lớn giáo viên quan tâm nhưng thực tế việc sử dụng nó thì chưa được
thường xuyên và chưa phát huy hết vai trò của nó trong quá trình giảng dạy.
2. Thực trạng về việc sử dụng thí nghiệm vật lí ở nhà của học sinh
14 Năm học: 2014 - 2015
Để nắm được thực trạng việc sử dụng thí nghiệm vật lí ở nhà của
quả cao nhất.
Giáo viên phải làm như thế nào để thí nghiệm ở nhà của học sinh
mang lại hiệu quả, hứng thú cao đối với học sinh.
+ Những thí nghiệm, bài tập nào cho học sinh làm ở nhà là
hợp lí, kích thích hứng thú của học sinh ?
+ Thí nghiệm yêu cầu học sinh làm nhằm mục đích gì: thí
nghiệm để củng cố kiến thức hay thí nghiệm để tìm hiểu kiến thức mới.
+ Dụng cụ cần thiết học sinh chuẩn bị là gì ?
+ Chuẩn bị, gia công dụng cụ như thế nào ?
+ Cách tiến hành thí nghiệm như thế nào ?
II. BIỆN PHÁP:
1. Đối với giáo viên:
Nhận thức đúng đắn ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của thí
nghiệm vật lí nói chung, thí nghiệm vật lí ở nhà nói riêng.
17 Năm học: 2014 - 2015
Đưa ý kiến ra tổ chuyên môn thảo luận để đi đến thống nhất về
vai trò của thí nghiệm vật lí ở nhà đối với việc giúp học sinh hứng thú học môn
vật lí . ( chuyên đề ở tổ )
Giáo viên bộ môn thảo luận thống nhất đưa ra chỉ tiêu, hế hoạch
những thí nghiệm vật lí nào cần yêu cầu học sinh làm ở nhà theo từng khối.
Thành lập câu lạc bộ, nhóm học sinh yêu thích môn vật lí.
Tích cực đầu tư, suy nghĩ và chọn lựa để bổ sung ngày càng
nhiều những thí nghiệm gần gũi, lí thú để giao cho học sinh.
Giao nhiệm vụ cho học sinh, đồng thời phải theo dõi, kiểm tra,
đôn đốc, động viên các em hoàn thành.
Khuyến khích, khích lệ tinh thần lớp, nhóm nào làm việc tốt.
2. Đối với học sinh:
Tích cực hoàn thành nhiệm vụ mà giáo viên giao cho, có thể làm
việc cá nhân và theo nhóm.
Ngoài những bài tập, thí nghiệm mà giáo viên giao cho học sinh,
Nối các ống và lắp các kính như hình vẽ.
Dùng vật chắn sáng chắn giữa hai ống.
c/ Tiến hành:
Đặt mắt ở vị trí như hình vẽ sẽ thấy vật qua vật chắn sáng.
19 Năm học: 2014 - 2015
Ví dụ 2: Trước khi học bài THẤU KÍNH HỘI TỤ phần hướng
dẫn học sinh học ở nhà của bài cũ GV nêu vấn đề: Để chuẩn bị cho tiết học sau,
thầy sẽ hướng dẫn lớp chế tạo một dụng cụ để lấy lửa từ ánh sáng mặt trời.
HS: Tò mò và cảm thấy hứng thú.
HS: Yêu cầu GV hướng dẫn.
GV: Hướng dẫn cách làm ( Hình dưới )
HS: Theo dõi, về nhà làm, tiến hành thí nghiệm và báo
cáo kết quả cho GV trong đầu tiết sau.
* Cách làm:
a/ Dụng cụ :
01 phần của bóng đèn dây tóc.( Gia công bằng cách dùng một
vòng kim loại có đường kính nhỏ hơn một so với đường kính
lớn nhất của bóng đèn. Lấy vòng kim loại nung nóng đỏ sau
đó đặt lên cổ bóng đèn )
01 cốc nước.
01 mảnh giấy hoặc vật dễ cháy.
b/ Chuẩn bị dụng cụ:
20 Năm học: 2014 - 2015
Gia công bóng đèn chỉ lấy một phầ bóng đèn.
Đặt nửa bóng đèn lên giá đở.
c/ Tiến hành:
Đổ nước vào một phần của bóng bóng đèn ( tạo thành thấu
kính hội tụ ).
Hứng ánh sáng mặt trời để tập trung ánh sáng tại một vị trí
thích hợp.
Từ thực tiễn nêu trên đối với học sinh môn vật lí là một môn học không
quan trọng lắm nhưng các em cũng không xem nhẹ môn học này.
Hứng thú học tập của học sinh đối với môn vật lí không cao, biểu hiện
ở chỗ : thời gian học tập dành cho môn học không nhiều , chuẩn bị bài chưa
tốt.Một số học sinh cho rằng môn vật lí không dễ cũng không khó…Từ đó việc
học tập bộ môn chưa tốt thể hiện học sinh ít trao đổi ý kiến với bạn bè , giáo viên
về những khó khăn, thuận lợi , những vấn đề thích thú đối với môn học…
Đối với thí nghiệm vật lí nói chung và thí nghiệm vật lí ở nhà nói riêng
phần lớn học sinh chỉ thực hiện theo yêu cầu của giáo viên . Thí nghiệm chưa
làm các em thích thú , chưa phát huy được tính tích cực , chủ động sáng tạo của
các em.
2. Sau khi áp dụng:
Để khảo sát, nghiên cứu hứng thú học tập môn Vật lí THCS, lần hai
tôi vẫn tiến hành lập phiếu điều tra, gồm một số câu hỏi ( phụ lục ) tại lớp 7A( 37
hs )và lớp 9A( 22 hs ) Trường TH & THCS Trà Tân.
Sau khi thu thập số liệu, tôi thu được kết quả:
2.1. Để xem học sinh có thích học làm thí nghiệm vật lí ở nhà
không? Tôi đặt câu hỏi số 7. " Em có thích làm thí nghiệm vật lí ở nhà
không ? "
STT Phương án Số HS Tỷ lệ %
A Rất thích. 25 42,4
B Không thích lắm. 34 57,6
C Không thích. 0 0
Qua bảng số liệu thu thập ta thấy mặc dù tỉ lệ rất thích chỉ
chiếm 42,4% nhưng không có học sinh nào là không thích.Qua đó ta thấy các em
đã có sự thích thú với môn Vật lí.
23 Năm học: 2014 - 2015
2.2. Để biết học sinh thích thí nghiệm vật lí ở nhà như thế nào, tôi
đặt câu hỏi 8: “ Vì sao em thích thí nghiệm vật lí được tiến hành ở nhà?”
Đa số học sinh cho rằng làm thí nghiệm ở nhà được thoải
20 33,9
C
Em hiểu lý thuyết nhưng không áp dụng
được vào bài tập.
9 15,3
D Không hiểu gì cả. 0 0
Với các mức độ ý kiến trên thì việc hiểu được tất cả các nội dung
bài học chiếm 50,8% là khá ổn.
Tỷ lệ 33,9% phương án B cho thấy trên lớp các em thấy khó hiểu
nhưng về nhà đọc thêm SGK thì đã hiểu thêm. Điều này nói lên rằng các em đã
có sự đầu tư tìm hiểu môn học, có sự tự giác tìm tòi kiến thức để hiểu .
Nhưng điều đặc biệt quan tâm và đáng chú ý: 15,3% các em
nhận định: Hiểu lý thuyết nhưng không áp dụng được vào bài tập Vật lí. Đối với
môn Vật lí thì việc hiểu lý thuyết để làm bài tập vận dụng mới là điều quan
trọng.
2.5. Khảo sát việc trao đổi học hỏi với bạn bè của HS qua câu hỏi
số 11. Kết quả:
STT Phương án. Số HS Tỷ lệ %
A Có. 30 50,8
B Trao đổi thường xuyên. 20 33,9
C Không trao đổi. 9 15,3
Việc HS trao đổi kiến thức, học hỏi bạn bè là điều hết sức quan
trọng, nó giúp cho các em có sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tạo tình đoàn kết,
tương trợ nhau cả trong cuộc sống; bổ sung cho nhau để cung nhau tiến bộ.
Phương án A là 50,9% cho thấy các em đã có ý thức tốt về điều
này và có ý thức với môn học.
2.6. Điều tra hứng thú, sáng tạo của học sinh khi gặp bài khó, câu
hỏi khó, qua câu hỏi số 12 "khi gặp bài khó, câu hỏi khó em thường làm thế
nào"?. Kết quả
25 Năm học: 2014 - 2015