Quản trị điểm đến
Nhóm 3
Kế hoạch Marketing cho Làng gốm Bát Tràng
d.Nhu cầu thị trường đối với du lịch làng nghề Bát Tràng.................................................4
4.1 Thị trường mục tiêu của du lịch Bát Tràng.................................................................16
4.2 Mục tiêu của kế hoạch Marketing...............................................................................18
4.3. Chiến lược Định vị.....................................................................................................19
4.4. Chiến lược Marketing................................................................................................20
1. Giới thiệu chung
Làng có lịch sử khoảng 500 năm với khá nhiều ngôi nhà cổ có tuổi từ 100 ÷
200 năm. Trên tường các ngôi nhà này thường gắn nhiều mảnh gốm hoặc
gạch Bát Tràng. Loại gạch làng Bát Tràng nổi tiếng bền trắc và không bị
mọc rêu.
Từ xa xưa, số hộ giàu đã chiếm một tỷ lệ tương đối trong làng, các hộ này đã
xây cất cho mình những ngôi nhà bề thế, những ngôi nhà đó giờ đây đã trở
thành những công trình kiến trúc hết sức cổ kính. Ngoài ra, các công trình
như: đền làng, đình làng và nhà thờ họ, thờ tổ cũng được xây dựng rất kiên
cố, có cột, xà và cửa bằng lim. Tiếp thu nền kiến trúc kiểu Pháp vào những
năm đầu thế kỷ XX, trong làng cũng có những ngôi nhà kiểu Pháp có tường
1
Quản trị điểm đến
Nhóm 3
rất dày từ 40 ÷ 60 cm, trần cao, mái nhà được làm bằng xà lim và gạch mỏng
Bát Tràng. Giờ đây, nhiều ngôi nhà với các kiểu kiến trúc cổ và các ngôi nhà
theo kiến trúc mới đan xen tạo nên sự phong phú về kiến trúc rất hấp dẫn
khách du lịch.
Hiện nay, làng có 100% số hộ gia đình sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ.
2. Thực trạng làng nghề Bát Tràng
a. Thực trạng du lịch làng nghề
Được mệnh danh là “đất trăm nghề”, kể từ khi mở rộng về phía Tây, Hà Nội
có tới 256 làng nghề truyền thống. Trong đó, gần 1/4 là những làng nghề lâu
Nhóm 3
với mục đích du lịch, thường là dài ngày, các làng nghề chưa có những chính
sách chiến lược để phát triển các thể mạnh tiềm năng của mình trong việc
thuyết phục những đối tượng khách này.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này trong đó phải kể đến: hạ
tầng văn hoá truyền thống bị phá vỡ bởi quá trình đô thị hoá, môi trường ô
nhiễm do sản xuất phát triển, các điểm và các sản phẩm chưa được quan tâm
phát triển một cách đúng mực.
b. Tương lai du lịch làng nghề
Du lịch làng nghề là loại hình du lịch văn hoá tổng hợp đưa du khách tới
tham quan, thẩm nhận các giá trị văn hoá và mua sắm những hàng hoá đặc
trưng của các làng nghề truyền thống trên khắp miền đất nước. Khi tham gia
tour du lịch làng nghề, khách không chỉ được ngắm phong cảnh du lịch làng
quê mà còn được thăm nơi sản xuất, thậm chí có thể tham gia vào một phần
quá trình tạo ra sản phẩm. Chính điều này đã tạo nên sức hấp dẫn riêng của
làng nghề truyền thống.
Nhận thức được tầm quan trọng của sự tồn tại các làng nghề truyền thống
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương nói riêng và của cả
nước nói chung, trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra
nhiều chính sách, giải pháp nhằm khôi phục và phát triển các làng nghề và
đặc biệt khuyến khích sự phát triển của loại hình du lịch làng nghề.
Để làm được điều trên, trước mắt phải nhanh chóng chấn hưng làng nghề,
xây dựng các thiết chế về du lịch làng nghề, mở tour du lịch làng nghề, phát
triển các Showroom du lịch làng nghề. Kêu gọi đầu tư các nguồn lực trong
và ngoài nước xây dựng các đề án như: Hệ thống quản lý Showroom sản
phẩm làng nghề gắn kết với hoạt động du lịch.
c. Thị trường khách của làng gốm Bát Tràng
Khách đến với Bát Tràng vô cùng phong phú đa dạng với nhiều mục đích khác nhau.
Trong số khách quốc tế đến Hà nội mỗi năm thì lượng khách đến với Bát
tràng đạt 8- 9 Nếu thông kê đủ, số lượng khách quốc tế vào Hà Nội ước tính
Khách du lịch nước ngoài đến thăm làng nghề Bát Tràng với mục đích tham
quan tìm hiểu làng nghề gốm truyền thống Việt Nam, vừa trải nhiệm khung
cảnh làng quê vừa được tham gia vào quá trình sản xuất của người thợ để tạo
ra những sản phẩm gốm tinh xảo. Vì vậy họ rất muốn ở lại nghỉ đêm tại làng
nghề để xem cảnh đốt lò nung gốm. Điều này tạo cầu lớn đối với những cơ
sở lưu trú và các nhà hàng phục vụ ăn uống tại làng nghề Bát Tràng. Hiện
nay ở Bát Tràng, cơ sở lưu trú và ăn uống phục vụ khách du lịch quốc tế hầu
như là chưa có, không thể đáp ứng được đối với tour du lịch làng nghề.
Nhu cầu đặc trưng
• Nhu cầu về các tour du lịch trọn gói hấp dẫn du khách
4
Quản trị điểm đến
Nhóm 3
• Tìm hiểu lịch sử hình thành, phát triển của làng nghề Gốm Bát
Tràng và quá trình sản xuất gốm Bát Tràng. Đến với làng nghề Bát
Tràng, du khách luôn có mong muốn được tìm hiểu những thông
tin về làng nghề, qua đó tiếp cận nền văn hóa truyền thống giàu
màu sắc của Việt Nam.
• Tìm hiểu văn hóa, tập quán sinh hoạt của người dân làng nghề Việt
Nam, tham quan cảnh vật làng quê Việt Nam. Bát Tràng là một
trong những làng nghề còn giữ được nhiều nét đặc trưng, dân dã,
quen thuộc của làng quê Việt Nam.
• Tham gia vào quá trình làm gốm, trực tiếp quan sát người thợ làng
nghề sáng tạo ra những sản phẩm gốm mang giá trị truyền thống
Việt Nam.
• Tìm hiểu các thông tin cơ bản về Bát Tràng thông qua các phương
tiện đại chúng.
• Sở hữu những món đồ lưu niệm đặc trưng của Bát Tràng. Với mục
đich đi thăm quan tìm hiểu văn hóa và tập quán địa phương, các
du khách đều có nhu cầu đối với các mặt hàng lưu niệm, các sản
- Cỡ vừa có: bát yêu, bát nắp, ấm chuyên, ấm tích, liễn, phạng, thùng hoa bèo,...
• Đồ thờ.
Bát hương, đỉnh chầm, cây đèn, độc bình, song bình, lộc bình, ống cắm
hương, chân nến, lọ hoa, bộ tam đa và các loại choé,...
• Đồ trang trí nội thất và vườn.
Có các loại chậu hoa, chậu thống, đôn, trạc, nghê, voi, vịt, cá, tôm, cua, ve
sầu cùng các loại phù điêu và đĩa treo tường và mới đây là những đồ vật có
kích thước rất nhỏ và ngộ nghĩnh thường phục vụ dưới hình thức đồ lưu
niệm cho khách du lịch như hộp phấn, hình người, bộ ấm chén cỡ nhỏ xíu.
Với những ngày lễ trong năm như: ngày quốc tế phụ nữ, ngày lễ tình yêu,
ngày nhà giáo,... cũng có những sản phẩm đặc trưng tại các quầy hàng.
Kỹ thuật chế tác gốm ở Bát Tràng đã có thể phục chế lại được tất cả các sản
phẩm cổ truyền đặc sắc từ 300 ÷ 400 năm trước, điều mà không một nơi sản
xuất gốm sứ làm được giỏi bằng. Chính điều này đã giúp Bát Tràng không
những duy trì được tiếng tăm vốn có mà còn làm cho tiếng tăm đó vang xa hơn.
Trong mỗi sản phẩm là tâm hồn và tài nghệ với nét văn hoá Bát Tràng từ xưa
truyền lại qua bao đời nay, các sản phẩm đó vẫn rất đẹp và vô cùng rõ nét.
Có những sản phẩm của các nghệ nhân Bát Tràng đã trở thành báu vật của
làng như chiếc bình gốm cao 3m của nghệ nhân Nguyễn Minh Ngọc tại xóm
6
Quản trị điểm đến
Nhóm 3
1, làng cổ Bát Tràng. Đây là chiếc bình sứ lớn nhất Việt Nam và là niềm tự
hào của người dân Bát Tràng.
Với những sản phẩm mang tính lịch sử và nghệ thuật như vậy, khách du lịch
có thể đến thăm làng theo các tour du lịch chuyên đề như: Nghệ thuật gốm
sứ dân gian Việt Nam hay văn hoá Viêt Nam hoặc đơn thuần chỉ để ngắm
nhìn sự phong phú trong các cửa hàng.
f. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
Bát Tràng là một trong ít làng nghề được thành phố quan tâm đầu tư cơ sở
không bố trí được chỗ ăn nghỉ. Rồi các công trình phụ cận hỗ trợ việc đón tiếp
du khách còn rất thiếu, ảnh hưởng không nhỏ đến khai thác tiềm năng du lịch.
• Thực trạng về nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực dồi dào nhưng chất lượng chưa cao. Xã Bát Tràng có hơn
7.000 nhân khẩu, trên diện tích 164ha đất. Trong đó, 99% dân số tham gia
vào làng nghề truyền thống (bao gồm 84% dân số sản xuất đồ gốm sứ, 15%
dân số làm dịch vụ cho làng nghề (buôn bán men, đất, hồ, chất đốt...).
Theo danh sách của UBND xã thì năm 2003, Bát Tràng có 562 hộ sản xuất
phải đóng thuế. Tuy nhiên, con số này tụt dần từ đầu năm 2004, đặc biệt đến
những tháng cuối năm, thay vì hoạt động rầm rộ như những năm trước, số
gia đình ngừng sản xuất bất ngờ tăng lên một cách đáng lo ngại. Cụ thể là:
Tháng 8 có 236 hộ nghỉ, tháng 9 có 210 hộ nghỉ, tháng 10 có 199 hộ nghỉ và
tháng 11 có 197 hộ nghỉ...
Hiện nay, Bát Tràng đang khan hiếm lao động có kỹ thuật và có tay nghề. Theo
thống kê của Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng, có 90% thanh niên Bát Tràng biết làm
gốm nhưng theo đuổi nghề thì không nhiều. Hầu hết họ được đào tạo theo kiểu
“cha truyền con nối”, chưa có nhiều bước đột phá sáng tạo trong quá trình làm
gốm. Buộc phải thuê lao động ngoại tỉnh. Công việc được thuê chủ yếu là: đổ
rót, chuốt, vẽ, trồng - dỡ lò, làm men... Lao động ngoại tỉnh đến đây do không có
gì ràng buộc nên việc thợ bỏ đi thường xuyên xảy ra.
Thiếu lao động có trình độ cao, lao động trẻ, thiếu người thực sự tâm huyết
và yêu nghề dẫn đến việc làng nghề Bát Tràng đang “khủng hoảng” về lao
động. Chưa có giải pháp cụ thể nào cho thực trạng này. Để đẩy nhanh tiến
độ công việc cho kịp thời gian giao hàng, hầu hết các xưởng gốm đều chấp
nhận thuê thợ với giá cao, mặc dù họ chưa đáp ứng được chất lượng cũng
như yêu cầu của công việc.
• Thực trạng về môi trường
Trước những năm 2000 toàn xã và vùng gốm sứ có trên 1000 lò hộp đốt
than, mỗi ngày làng nghề tiêu thụ khoảng 800 tấn than và thải vào môi
trường khoảng 2.000 tấn khí độc hại gồm: CO, CO2, H2S, hắc ín,
Từ năm 2002, các nghệ nhân Bát Tràng bắt đầu liên kết để sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm thông qua Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng. Những thành viên của
hiệp hội không chỉ là những gia đình sản xuất gốm mà còn có cả các công ty
kinh doanh gốm sứ. Thông qua hiệp hội, người Bát Tràng có cơ hội tìm
hiểu, nắm bắt thông tin về thị trường, các kiến thức mới trong công nghệ sản
xuất gốm sứ, phương thức buôn bán thời thương mại điện tử và cách nâng
cao năng lực cạnh tranh.
Mới đây, Hiệp hội gốm sứ Bát Tràng đã thành lập Trung tâm xúc tiến xuất
khẩu Bát Tràng và tiến hành xây dựng thương hiệu "Bát Tràng Việt Nam-
1.000 năm truyền thống".
3. Phân tích SWOT
a. Điểm mạnh ( Strengths) :
• Có một lịch sử lâu đời
9
Quản trị điểm đến
Nhóm 3
Làng gốm sứ Bát Tràng được hình thành từ thế kỷ 15. Trong những năm tồn
tại và phát triển của làng, nhiều đời nghệ nhân đã làm ra những sản phẩm có
giá trị, tạo lập danh tiếng cho xứ sở. Khách trong, ngoài nước tấp nập đến
thăm quan, mua hàng. Trong các cửa hàng, có đủ các mẫu gốm sứ từ cổ
truyền đến hiện đại của các nước Pháp, Italy, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn
Quốc. Kể từ lúc hình thành phường Bạch Thổ đến ngày nay, quê gốm Bát
Tràng đã trải qua bề dày lịch sử vẻ vang rất đáng tự hào. Giá trị lịch sử lâu
đời là một điểm mạnh để thu hút khách du lịch đến với Bát Tràng.
• Có lễ hội hàng năm thu hút khách du lịch
Hàng năm lễ hội làng Bát Tràng được tổ chức vào dịp Rằm tháng Hai âm
lịch, gồm các phần tế lễ theo phong tục truyền thống và lễ rước nước, tắm
bài vị, rước bài vị ra đình.Làng nghề Bát Tràng, ven sông Hồng, nổi tiếng
với nghề làm gốm. Làng gần bến sông, có đủ đình, chùa, đền, miếu linh
thiêng và cũng là nơi dân làng sinh hoạt cộng đồng khi làng vào đám hoặc
nhau. Đây là một lợi thế rất lớn để Bát Tràng thu hút khách du lịch quốc tế.
• Có hình một thức du lịch độc đáo mới mẻ, hấp dẫn độc
đáo
Tại Bát Tràng dịch vụ tham quan bằng xe trâu rất phổ biến.Ý tưởng dùng xe
trâu như một hình thức quảng cáo đã đem lại thành công ngoài sức tưởng
tượng. Liên tục từ tháng 3 năm 2005 mỗi ngày hai cỗ xe trâu phục vụ ít nhất
là năm, sáu đoàn khách, mỗi đoàn từ ba đến mười người. Không phải du
khách nào đến Bát Tràng cũng có cơ hội đi xe trâu bởi các công ty du lịch đã
đăng ký theo tour kín hết cả ngày.
Ngoài dịch vụ tham quan trên xe trâu, những gia đình có lò gốm ở Bát Tràng
còn phát triển dịch vụ cho khách vào thăm quan lò gốm của gia đình, nặn
gốm để hiểu hơn về quy trình sản xuất sản phẩm.
• Giao thông thuận lợi :
Từ trung tâm Hà Nội có đường thuỷ và đường bộ đến Bát Tràng. Đường
thủy đi từ bến Chương Dương hoặc bến Phà Đen, xuôi sông Hồng đến bến
Bát Tràng. Đường bộ qua cầu Chương Dương (hay cầu Long Biên) rồi theo
đê sông Hồng đến dốc Giang Cao rẽ xuống Bát Tràng (khoảng 15km) hoặc
theo quốc lộ số 5 đến Trâu Quỳ rẽ về hướng tay phải theo đường liên huyện
qua xã Đa Tốn đến Bát Tràng (khoảng hơn 20km).
Từ Hà Nội đến Bát Tràng có tuyến xe bus riêng và có cảng đường sông rất
thuận tiện cho khách du lịch.
• Điểm khác biệt của Gốm Bát Tràng
Những đặc điểm nổi bật của sản phẩm gốm Bát Tràng là : dày, chắc, nặng;
kĩ thuật nung đạt nhiệt độ 1300 độ C; có 5 loại men đặc trưng gồm men lam,
men nâu, men trắng ngà, men xanh rêu, men rạn và nghệ thuật vẽ họa tiết
mang dấu ấn của sự thăng hoa. Với các đặc điểm này, gốm Bát Tràng tiếp đã
chinh phục thị trường trong và ngoài nước bằng chất lượng cũng như giá trị
nghệ thuật.
Ngoài những yếu tố trên, giá trị lịch sử và văn hoá của gốm Bát Tràng cũng là
điểm tạo ra sự khác biêt. Hiếm có làng gốm nào có lịch sử lâu đời như Bát Tràng.
hướng dẫn đào tạo một cách bài bản và chuyên nghiệp.
Người dân mới chỉ quan tâm đến việc bán các hàng hóa của làng nghề cho
khách với phong cách thiếu chuyên nghiệp mà chưa quan tâm đến việc hút
khách từ chính hoạt động tạo ra sản phẩm của làng nghề. Nói cách khác,
người dân dường như chú ý đến sinh kế hơn là bảo tồn di sản văn hóa và
thiếu hẳn công nghệ tạo sản phẩm du lịch để tạo nên những tour hấp dẫn.
Du lịch Bát Tràng còn thiếu tính định hướng : hướng tới phát triển du lịch
song song với phát triển làng nghề hay đơn thuần chỉ là phát triển công
nghiệp sản xuất gốm sứ. Sự thiếu đồng bộ trong phương hướng phát triển
này như trên đã nói vừa gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu tới sự phát
triển và sức hấp dẫn của điểm đến du lịch, bên cạnh đó tiềm ẩn sự thiếu bền
vững. Bát Tràng cần được định hướng lại phương hướng phát triển du lịch
và duy trì làng nghề truyền thống, phát triển bền vững, bảo đảm môi trường
trong lành , tạo điều kiện cho việc phát triển du lịch.
• Cơ sở hạ tầng còn hạn chế
12