Thực trạng và giải pháp phát triển làng nghề gò đúc đồng ở đại bái trong giai đoạn hiện nay - Pdf 26

Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ Tiểu luận tốt
nghiệp
A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của đất nước Việt
Nam, đất Kinh Bắc xưa, nay là tỉnh Bắc Ninh là một trong những cái nôi của
nền văn minh dân tộc Việt.
Từ xa xưa khi nền kinh tế còn thuần nông, người dân nơi đây đã biết tự
sản xuất và sinh hoạt. Trong quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế-
xã hội đã hình thành dần những làng nghề sản xuất công nghiệp – tiểu thủ
công nghiệp phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư nông thôn.
Làng nghề của tỉnh Bắc Ninh đã và đang có tác động rất lớn vào đời sống kinh
tế - xã hội của tỉnh, cần được quan tâm tổ chức, khuyến khích giúp đỡ để phát
triển đúng hướng và có hiệu quả. Theo thống kê, Bắc Ninh có 62 làng nghề
đang hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau, trong đó có 49 làng nghề sản xuất
công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, với hàng vạn lao động đang sản xuất kinh
doanh tại các làng nghề ở nông thôn. Tổng giá trị sản lượng công nghiệp của
các làng nghề chiếm tỷ trọng không nhỏ trong giá trị sản lượng công nghiệp
trên địa bàn. Hơn nữa trong nông thôn tỉnh Bắc Ninh số lượng người đến độ
tuổi lao động là rất lớn, diện tích đất bình quân trên đầu người thấp và ngày
càng thu hẹp dần do dân số ngày một tăng nhanh. Vì vậy, phát triển sản xuất
tại các làng nghề là một việc làm rất quan trọng.
Làng nghề Đại Bái là một trong những làng nghề truyền thống của tỉnh
Bắc Ninh, nó ra đời các đây hàng nghìn năm, trải qua nhiều thăng trầm nhưng
đến nay vẫn tồn tại và phát triển. Sản phẩm của làng rất nổi tiếng cả trong và
ngoài nước và được nhiều thế hệ biết đến. Tuy nhiên, trong quá trình phát
triển, làng nghề Đại Bái nói riêng và làng nghề nói chung vẫn còn gặp rất
_Nguyễn Công Đoàn Lớp: K31
1
Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ Tiểu luận tốt
nghiệp

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả có sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu, như: Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử; Kết hợp với việc sử dụng các phương pháp: logic, thống kê,
phân tích, so sánh và tổng hợp…trên cơ sở quán triệt quan điểm Đảng và nhà
nước về phát triển làng nghề.
5. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Thực trạng phát triển làng nghề gò đúc - đồng Đại Bái hiện
nay.
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
làng nghề Đại Bái trong những năm tiếp theo.
_Nguyễn Công Đoàn Lớp: K31
3
Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ Tiểu luận tốt
nghiệp
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Làng nghề và vai trò của nó trong đời sống kinh tế - xã hội đất
nước
Lịch sử đã ghi nhận làng nghề truyền thống đã ra đời cùng với sự phát
triển của quốc gia dân tộc, các làng nghề là sản phẩm của nền văn hoá và văn
minh dân tộc. Những sản phẩm của làng nghề đều gắn liền với văn hoá của
dân tộc, là dấu ấn tự hào của lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước.
Thời kỳ đổi mới đặc biệt là từ những năm 1990 trở lại đây, với những
chính sách khuyến khích thúc đẩy mọi thành phần kinh tế phát triển và việc
xác lập kinh tế hộ gia đình làm đơn vị tự chủ, giao quyền sở hữu đất lâu dài
cho nông dân, giải toả nhiều khâu trong lưu thông phân phối đã làm cho nhiều

6 lao ng. Ngoi lao ng thng xuyờn, cỏc h, c s ngnh ngh cũn thu
hỳt lao ng mựa v trong nụng thụn bỡnh quõn 2-5 ngi/ 01 h v 8- 10
ngi/c s.
+ Phỏt trin lng ngh úng gúp cho s phỏt trin ca a phng chuyn
dch c cu kinh t núi chung, c cu lao ng núi riờng nụng thụn theo
hng ngy cng hp lý hn. Bởi vy, để phỏt trin tiu th cụng nghip nhm
tn dng nhng tim nng sn cú ( t ai, lao ng, vn) sn xut ra khi
lng hng húa ln ỏp ng th trng trong nc v xut khu, Cỏc lng
_Nguyn Cụng on Lp: K31
5
Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ Tiểu luận tốt
nghiệp
nghề đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc phát triển KTXH ở địa phương
đồng thời làm tăng thu nhập cho người dân trong vùng.
+ Phát triển sản xuất nông nghiệp mà đặc biệt là làng nghề có ý nghĩa
thiết thực trong việc từng bước giải quyết tốt mối quan hệ giữa nông nghiệp
nông thôn và nông dân góp phần tăng cường củng cố khối liên minh công
nông.
+ Việc duy trì và phát triển làng nghề còn có ý nghĩa quan trọng đó là
góp phần vào bảo tồn và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Sản phẩm của làng
nghề làm ra không chỉ tiêu dùng trong nước mà một số sản phẩm mỹ nghệ còn
xuất khẩu và được rất nhiều khách nước ngoài đánh giá cao, ngoài viÖc gi¶i
quyÕt vÊn ®Ò vÒ kinh tÕ, quan trọng hơn còn giúp bạn bè thế giíi hiểu rõ
hơn về con người Việt Nam. Tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam hội nhập
với thế giới.
Làng nghề truyền thống thường là những làng nghề xuất hiện lâu đời
trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay, là những làng nghề đã tồn tại hàng
trăm năm, thậm trí hàng ngàn năm, có liên quan chặt chẽ đến yếu tố truyền
thống và kinh nghiệm dân gian vốn có qua nhiều thế hệ.
Ngày nay khái niệm về làng nghề không chỉ còn bó hẹp ở những làng chỉ

trong quá trình CNH- HĐH đất nước. Tuy nhiên, cũng phải xem xét tiềm năng
của từng vùng, từng địa phương, từng sản phẩm của làng nghề để có phương
hướng phát triển tốt nhất thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển theo con
đường XHCN mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn.
_Nguyễn Công Đoàn Lớp: K31
7
Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ Tiểu luận tốt
nghiệp
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
GÒ ĐÚC - ĐỒNG ĐẠI BÁI HIỆN NAY
2.1. Vài nét khái quát về làng nghề truyền thống gò - đúc đồng Đại
Bái.
2.1.1. Về lịch sử:
Theo gia phả sắc phong ghi chép của làng thì vị tiền tiên sư của làng nghề
truyền thống Đại Bái là cụ Nguyễn Công Truyền sinh năm 989 tại làng Đại
Bái, ông xuất thân trong một gia đình nho học. Năm 995 ông theo gia đình vào
Thanh Hóa để sinh sống, khi lớn lên ông vào quân ngũ. Năm 25 tuổi làm quan
Đô Úy của triều đình Nhà Lý được phong hàm Điện Tiền tướng Quân. Tháng
3 năm 1018 ông về Đại Bái thăm họ hàng quê hương. Do cha bị bệnh mất, ông
xin từ quan đưa mẹ về quê cũ (làng Đại Bái) từ đây ông bắt đầu truyền nghề
gò- đúc đồng cho dân làng, dân làng noi theo ông học nghề và lập nghiệp. Lúc
đầu chỉ vài hộ làm đóng vai trò là nghề phụ nhưng sau đó nghề gò đồng đã trở
thành nghề chính của làng. Khi ông mất ( năm 1069) được phong làm các tên:
Dịch Bảo Trung, Hưng Linh Phù Tôn Thần; Quang úy dịch bảo trung hưng
trung thần; Doãn túc tôn thần, dân làng đã đưa ra các hình thức quy ước rất
chặt chẽ để chứng minh cho lòng thành kính ấy, người dân Đại Bái rất coi
_Nguyễn Công Đoàn Lớp: K31
8
Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ Tiểu luận tốt

2.1.2.1. Vị trí địa lý.
Xã Đại Bái nằm ở phía Tây nam của huyện Gia Bình. Phía Bắc giáp xã
Đông Cứu, phía Nam giáp xã Quảng Phú ( Huyện Lương Tài), phía Tây giáp
xã An Bình (Huyện Thuận Thành), thôn Đại Bái nằm ở trung tâm của xã Đại
Bái.
Làng nghề gò đúc đồng Đại Bái thuộc xã Đại Bái- huyện Gia Bình- tỉnh
Bắc Ninh, tên gọi cổ là làng Bưởi Nồi. Đây là làng nghề truyền thống với các
nghề chính: Đúc đồng, gò đồng, đúc nhôm, gò nhôm, ngoài ra làng Đại Bái
còn có nghề dát mỏng kim loại, gia công cơ khí, kim khí, hoàn chỉnh các chi
tiết, trạm, trổ khắc kim loại…Đại Bái cách thủ đô Hà Nội 35 Km về phía
đông, cách Thành phố Bắc Ninh 25Km, cách huyện lỵ Gia Bình 4Km.
Thôn Đại Bái có tổng diện tích đất tự nhiên là 385,2 ha, trong đó đất
nông nghiệp chiếm 63% ( 242,7ha), đất chuyên dùng là 29,5% ( 113,2ha), đất
khu dân cư là 7,5% ( 29,3ha)
(Theo số liêu thống kê xã Đại Bái tháng 01/2012)
Đại Bái là một vùng chiêm trũng, dân số đông do đó diện tích bình quân
trên đầu người rất thấp so với tổng diện tích tự nhiên. Điều đáng lo ngại của
Bắc Ninh cũng như của Đại Bái là dân số cứ ngày một tăng lên dẫn đến đất
thổ cư cũng ngày một tăng theo lên làm giảm diện tích đất nông nghiệp, diện
tích đất chuyên dùng ( Đất xây dựng cơ bản, giao thông, thủy lợi, đất lịch sử
văn hóa, nghĩa địa…) Qua 03 năm tăng 4,9 ha bằng 7,01% dẫn đến bình quân
đất nông nghiệp trên đầu người giảm dần từ 373,2m
2
(năm 2009) xuống còn
353,6m
2
(năm 2011), đất canh tác bình quân trên hộ cũng giảm rõ rệt từ
1697,2m
2
xuống còn 1462,9m

đến 6864 người năm 2011, qua 3 năm tăng 361 người.
Một thế mạnh của Đại Bái được tận dụng tương đối triệt để đó là lao
động. Lao động của Đại Bái được bổ sung tăng dần trong 03 năm. Số người
trong độ tuổi lao động đạt 3325% ( năm 2009) so với tổng số lao động và
b»ng 3569 lao động (Năm 2011), bình quân lao động/hộ là 1,92 lao động đáp
ứng tương đối cho phát triển ngành nghề TTCN của làng, đa dạng các khâu
_Nguyễn Công Đoàn Lớp: K31
11
Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ Tiểu luận tốt
nghiệp
trong quá trình sản xuất, lao động trong thu gom nguyên liệu, gia công, sản
xuất, tiêu thụ, maketing…
Ngoài ra qua điều tra thực tế trình độ văn hóa, bậc thợ làng Đại Bái (xem
Biểu 2.1 – tr 12).
Ngoài số lao động làm nghề ở làng hiện nay còn có hàng ngàn người dân
gốc ở Đại Bái đang sản xuất kinh doanh, phát huy truyền thống tại các thành
phố: Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh…Đây là một thế mạnh khẳng định
tay nghề của người dân Đại Bái, với danh tiếng vang xa, tạo ra những sản
phẩm phong phú đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Biểu 2.1: Trình độ học vấn và tay nghề của lao động
ở làng nghề Đại Bái.
Tổng
số LĐ
CĐ – ĐH TCCN THPT Thợ lành nghề Ghi
chú
Số
lượng
Tỷ lệ Số
lượng
Tỷ lệ Số

lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Công tác thông tin tuyên truyền phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ chính trị
của địa phương. Việc thực hiện nếp sống văn hóa, quy ước làng văn hóa có
nhiều tiến bộ. Các thủ tục mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội giảm đáng kể. Một
số thôn nhiều năm liền đạt danh hiệu làng văn hóa cấp tỉnh, huyện ( Thôn
Ngọc Xuyên, thôn Đoan Bái), năm 2010 xóm Làng Mới thuộc thôn Đại Bái
được công nhận là khu dân cư tiên tiến.
Số gia đình văn hóa ở làng nghề Đại Bái ngày càng được tăng lên. Nếu
như năm 2009 có 1006 hộ đạt gia đình văn hóa ( Bằng 64,12%) thì năm 2011
là 1162 hộ ( Bằng 74,05%)
2.1.2.3. Hệ thống chính trị xã hội.
- Đảng bộ xã Đại Bái có 159 đảng viên, được tổ chức thành 07 chi bộ,
trong đó có 03 chi bộ nhà trường và 03 chi bộ nông thôn, 1 chi bé c¬ quan.
BCH Đảng ủy xã có 09 đ/c, Ban thường vụ Đảng ủy có 03 đ/c.
- Có 05 tổ chức đoàn thể là: MTTQ, hội CCB, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh
niên và hội nông dân.
_Nguyễn Công Đoàn Lớp: K31
13
Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ Tiểu luận tốt
nghiệp
- Ngoài ra còn có các tổ chức xã hội khác như: Hội ngời cao tuổi, hội
quân nhân, hội khuyến học, hội đồng niên, Ban quản lý di tích, C©u l¹c bé
®àn ca tµi tö.
Chi bộ thôn Đại Bái có 32 đảng viên, trong đó có đa phần đảng viên là
các cán bộ hưu, một phần là các đảng viên trẻ được phát triển trong quân ngũ
và trưởng thành trong các phong trào địa phương. Thôn Đại Bái có 01 HTX
nông nghiệp làm công tác quản lý, hướng dẫn bà con nông dân về kỹ thuật và
cung cấp dịch vụ cho sản xuất.
*Những thuận lợi, khó khăn tác động vào quá trình khôi phục, phát
triển làng nghề truyền thống gò đúc đồng Đại Bái.

vốn đối với họ đặc biệt khó khăn. Trong quá trình vay vốn có thể lãi xuất rất
cao, đôi khi tới 20 - 25% ( Đối với vay vốn ngoài) vì vậy khó có thể cung cấp
đủ vốn để mở rộng sản xuất.
- Về thị trường tiêu thụ: Tuy một số sản phẩm đã bắt đầu thâm nhập
được vào thị trường nhưng nhìn chung chưa ổn định, cho đến nay Đại Bái vẫn
chưa có biện pháp tích cực như tiếp thị, khai thác và mở rộng thị trường một
các hợp lý đối với các hộ gia đình vẫn bị tư thương ép giá, từ đó dẫn đến hạn
chế một phần nào quá trình phát triển sản xuất trong làng nghề,
- Về nguồn nguyên liệu: Để cung cấp nguyên, nhiên vật liệu cho sản
xuất TTCN ở làng Đại Bái nhiều khi rất khó khăn vì không có nguyên liệu tại
chỗ, giá nguyên liệu không ổn định, nhiều khi tăng giảm trong từng ngày lên
rất khó cho việc ổn định sản xuất. Việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất
diễn ra chưa đồng bộ, thiếu sáng tạo, sản phẩm làm ra còn hạn chế về mẫu mã,
thiếu sự tinh sảo dẫn đến việc tiêu thụ chậm.
_Nguyễn Công Đoàn Lớp: K31
15
Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ Tiểu luận tốt
nghiệp
- Về trình độ học vấn và chuyên môn của người lao động: Qua điều tra
nhìn chung trình độ văn hóa của người lao động trong làng nghề là rất thấp.
Phần lớn là trình độ cấp 1, cấp 2, trình độ chuyên môn kỹ thuật không có, đặc
biệt là trình độ kỹ sư, tốt nghiệp đại học là rất ít, từ đó đã hạn chế khả năng áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ mới vào sản xuất.
- Ô nhiễm môi trường là một vấn đề nổi cộm hiện nay ở làng nghề Đại
Bái, tình trạng ô nhiễm nguồn nước, nguồn không khí ngày càng nặng. Trong
khi đó quy trình sử lý rác thải chưa có, ý thức bảo vệ của người dân còn thấp
kém, từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân.
Những khó khăn trên cần sớm khắc phục nếu không sẽ ảnh hưởng lớn
đến sự phát triển kinh tế của làng nghề Đại Bái.
2.2. Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống gò - đúc đồng Đại

Trước thời kỳ đổi mới, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của làng
nghề gồm các xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã, tổ sản xuất Sau thời kỳ đổi
mới hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh của làng chỉ bao gồm hai loại hình
sản xuất đó là hợp tác xã và hộ sản xuất kinh doanh cá thể (Biểu 2.2: Các loại
hình tổ chức sản xuất của làng nghề - tr 16).
Đối với loại hình hợp tác xã. ở Đại Bái gồm 3 HTX ngành nghề đó là.
- Hợp tác xã Hợp Thành – chuyên đúc và gia công các chi tiết khoá.
Hiện có 45 lao động thường xuyên làm việc, mức thu nhập bình quân đạt từ
1.700- 1.900 ngàn đồng/1 tháng. Doanh thu của hợp tác xã Hợp Thành năm
2011 đạt 12,5 tỷ đồng bằng 128% so với năm 2009. Đây là hợp tác xã có thế
mạnh phát triển nhất trong 3 HTX, mức chi trả lương cho người lao động cũng
như doanh thu của hợp tác xã cũng cao hơn, điều kiện kỹ thuật cũng tốt hơn.
_Nguyễn Công Đoàn Lớp: K31
17
Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ Tiểu luận tốt
nghiệp
- Hợp tác xã Quyết Thắng – chuyên gò, đúc, cán đồng, nhôm các loại,
thu hút 25 lao động thường xuyên làm việc. Thu nhập bình quân đạt từ 600-
800 ngàn đồng/1 người/1 tháng. Doanh thu hợp tác xã Quyết Thắng năm 2011
đạt trên 7,8 tỷ bằng 160% so với năm 2009. HTX này đang trên đà phát triển.
Tuy doanh thu nhỏ hơn HTX Hợp Thành nhưng tốc độ tăng doanh thu của
HTX này lớn hơn.
- Hợp tác xã Tân Tiến chuyên gò, đúc, cán đồng, nhôm, thu hút 30 lao
động thường xuyên làm việc. Thu nhập bình quân đạt từ 600- 900 ngàn
đồng/1 người/1 tháng. Doanh thu của hợp tác xã năm 2011 đạt trên 6,2 tỷ
đồng bằng 160% so với năm 2009. So với 2 HTX trên, thì Tân Tiến là HTX
làm ăn kém hơn cả, quy mô sản xuất của HTX còn nhỏ bé, doanh thu còn
chưa cao.
Năm 2011, trong làng có 1.240 hộ. Trong đó, có 223 hộ thuần nông, 620
hộ sản xuất công nghiệp, TCNT và dịch vụ với thu nhập bình quân trong 1

620
340
57
100
17,98
50
27,5
4,59
_Nguyễn Công Đoàn Lớp: K31
18
Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ Tiểu luận tốt
nghiệp
2. Hợp tác xã 3 3
Nguồn UBND xã Đại Bái
2.2.3. Thực trạng lao động trong làng nghề.
Lao động trong các làng nghề truyền thống chủ yếu là lao động thủ công,
lao động sáng tạo. Các sản phẩm trong các làng nghề là sức sáng tạo kỳ diệu
của những nghệ nhân và thợ lành nghề. Không giống như những sản phẩm
công nghiệp được sản xuất đồng loạt theo dây truyền sản xuất, mỗi sản phẩm
trong làng nghề được coi như một tác phẩm nghệ thuật, chứa đựng phong cách
riêng, nét sáng tạo riêng, đầu óc mỹ thuật riêng của những người sáng tạo ra
chúng. Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ vừa đảm bảo có giá trị sử dụng đồng
thời cũng mang tính nghệ thuật cao, do đó chúng phải được kết hợp giữa công
nghệ truyền thống với kỹ năng tinh xảo.
Do đặc điểm của làng nghề sản xuất truyền thống là chủ yếu dùng lao
động thủ công, nên loại hình sản xuất này thu hút khá nhiều lao động và hao
phí lao động sống chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá thành sản phẩm theo kết
quả điều tra ở làng nghề Đại Bái cho thấy bình quân lao động chiếm khoảng
23-25% tổng giá trị sản phẩm. Hình thức hoạt động chủ yếu trong làng nghề là
hộ gia đình (chiếm hơn 95%), và các hợp tác xã có qui mô nhỏ.

triển sản xuất, đặc biệt cho đổi mới công nghệ hay đầu tư mua sắm máy móc,
mở rộng quy mô sản xuất.
2.2.5. Công nghệ kỹ thuật trong làng nghề.
Trong những năm gần đây, do tính chất sản xuất của sản phẩm phải dựa
vào máy móc thiết bị, cho nên nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng
nghề đã áp dụng đầu tư mua sắm máy móc thiết bị vào sản xuất bao gồm một
số máy móc như máy tiện, máy khoan, máy dập để sản xuất thêm một số loại
sản phẩm mới như van xe đạp, van nước, các loại ốc vít, cầu dao điện nhằm
đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường.
_Nguyễn Công Đoàn Lớp: K31
20
Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ Tiểu luận tốt
nghiệp
Do nguồn vốn hạn hẹp, nên số hộ sử dụng công nghệ mới rất ít. Năm
2009 số hộ sử dụng công nghệ mới chỉ đạt 4,5% còn lại là sử dụng công nghệ
truyền thống và máy móc phục vụ sản xuất. Riêng HTX thì năm 2009 số HTX
sử dụng công nghệ truyền thống đã không còn nữa mà 100% số HTX đã sử
dụng công nghệ mới và máy móc vào sản xuất. Đến 2011, đã có một số hộ
làng nghề chủ động đưa hình ảnh của cơ sở sản xuất lên trang điện tử, hệ
thống mạng Internet và giao dịch qua hình thức thương mại điện tử.
2.2.6. Tình hình cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm của làng
nghề.
2.2.6. 1. Tình hình cung cấp nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu được huy động vào sản xuất của làng nghề chủ yếu là
các nguyên liệu như đồng, nhôm, sắt được các nhà thu gom mua tại các vùng
nông thôn và đem bán. Do vậy nguyên vật liệu dùng cho sản xuất kinh doanh
của làng nghề thường là nguyên vật liệu tại chỗ, do vậy việc sản xuất kinh
doanh của làng nghề thường không được diễn ra liên tục mà hoạt động cầm
chừng vì thiếu nguyên vật liệu. Ngày nay khi nguồn nguyên vật liệu tại chỗ
cạn kiệt, giao thông phát triển thì hầu hết các loại nguyên vật liệu đã vượt ra

Tỷ lệ
(%)
Giá trị
(tỷ đồng)
Tỷ lệ
(%)
Tổng giá trị sản
xuất TTCN
35,99 100 63,2 100
Tổng giá trị tiêu
thụ sản phẩm
31,2 86,7 56,1 88,76
Tiêu thụ trong
nước
31,2 86,7 52,9 83,7
Xuất khẩu 0 0 3,2 5,06
Nguồn UBND xã Đại Bái
Thị trường xuất khẩu sản phẩm của làng nghề hiện nay mới bắt đầu
nhưng cũng đạt được tỷ lệ đáng kể, xu hướng trong những năm tới làng nghề
phấn đấu đạt tỷ lệ xuất khẩu lên đến 15% tổng giá trị sản xuất. Đây là một thị
_Nguyễn Công Đoàn Lớp: K31
22
Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ Tiểu luận tốt
nghiệp
trường tiềm năng rất lớn của làng nghề do vậy mà làng nghề cần phải mở rộng
thị trường này hơn nữa nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai.
2.2.7. Tình hình môi trường trong làng nghề
Hiện nay ô nhiễm môi trường có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khoẻ dân cư trong làng nghề. Vì hiện nay ở Đại Bái, toàn bộ số cơ sở sản xuất
nằm xen kẽ trong khu dân cư, các xưởng sản xuất nằm tại các hộ gia đình. Các

xuất và đời sống. Các công trình chung của xã như điện, đường, trường, trạm,
nhà truyền thống, trụ sở kiên cố cao tầng… đã được hoàn thành từ nhiều năm
nay. Đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân luôn được cải thiện,
góp phần vào xây dựng nông thôn trong làng theo hướng đô thị hoá văn minh
hiện đại.
Bốn là, sự phát triển làng nghề trong những năm qua đã thực sự góp phần
vào quá trình thúc đẩy cơ cấu kinh tế nông thôn theo xu hướng tăng cơ cấu
của ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm cơ cấu của ngành nông nghiệp.
Năm là, công cuộc đổi mới kinh tế đó đã tạo điều kiện cho các làng nghề
phát triển. Nhờ có sự đổi mới kinh tế của đất nước làm cho làng nghề ngày
càng được mở rộng, giao lưu buôn bán với thị trường bên ngoài, mở rộng
quan hệ làm ăn… tạo ra nhiều động lực để phát triển các làng nghề.
2.3.2. Những tồn tại, yếu kém và nguyên nhân trong sự phát triển làng
nghề.
Mặc dù trong những năm qua làng nghề đã có sự phục hồi khá rõ, có
những đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế của tỉnh, nhưng trong quá
trình phát triển đó vẫn còn có nhiều khó khăn hạn chế cần được khắc phục.
Những khó khăn tồn tại đó là :
Trước hết, thị trường tiêu thụ sản phẩm còn gặp nhiều khó khăn. Bởi vì
trên địa bàn nông thôn với gần 80% dân số- đó là thị trường tiêu thụ sản phẩm
_Nguyễn Công Đoàn Lớp: K31
24
Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ Tiểu luận tốt
nghiệp
hàng hoá của làng nghề là rất lớn. Song trong thực tế nó đang bị bó hẹp bởi
sức mua có hạn do khả năng thanh toán của nhân dân hết sức thấp, mức thu
nhập quá thấp của các gia đình nhân dân chưa cho phép mở rộng mạnh mẽ
nhu cầu về hàng công nghiệp và dịch vụ.
Thứ hai, do kinh tế của làng nghề có quy mô nhỏ, vốn đầu tư ít nên việc
cải biến công nghệ và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật là rất hạn chế. Công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status