TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
***
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ
TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 - 2013
Lớp : KTE402.2
Khoá : 50
Giáo viên hướng dẫn : TS. Hoàng Xuân Bình
Hà Nội, tháng 05 năm 2014
DANH SÁCH THÀNH VIÊN
STT Họ và tên Ngày sinh MSSV Ghi chú
1 Đào Hoàng Hải Sơn 16/12/1993 1111120064 Nhóm trưởng
2 Trần Thị Ngọc Anh 12/12/1993 1111120053
3 Nguyễn Tuấn Cường 09/01/1993 1111120091
4 Võ Thị Huệ Anh 30/11/1993 1111120043
5 Lê Hoài Phương 09/02/1993 1111120047
6 Trịnh Thị Hằng 22/06/1993 1113120056
7 Đậu Nhật Hoàng 21/01/1993 1111120037
8 Khương Thúy Hường 20/02/1993 1111120094
9 Nguyễn Thanh Ngọc 14/05/1993 1111120081
10 Nguyễn Việt Ninh 04/08/1993 1111120052
11 Bùi Thị Kim Thanh 24/08/1991 1111120075
12 Phạm Thị Thúy Nga 19/08/1993 1111120092
13 Lê Thị Y Vân 15/12/1993 1111120042
14 Nguyễn Hoàng Quang 25/07/1993 1111120019
Trang 2
PHỤ LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế ở Việt Nam cũng như trên khu vực và
toàn thế giới, mục tiêu kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế luôn là một
I) KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ,
LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1. Chính sách tài khóa
a) Khái niệm
Chính sách tài khóa trong kinh tế học vĩ mô là chính sách thông qua chế
độ thuế (T) và chi tiêu chính phủ (G) để tác động tới nền kinh tế. Trong ngắn
hạn, Chính sách tài khóa chủ yếu ảnh hưởng đến tổng cầu (AD) về hàng hóa và
dịch vụ nhưng trong dài hạn, Chính sách tài khóa có thể ảnh hưởng đến tiết
kiệm, đầu tư và tăng trưởng kinh tế.
b) Các công cụ của Chính sách tài khóa
i. Chi tiêu chính phủ:
Chi tiêu chính phủ là một thành phần trong tổng chi tiêu nên sự thay
đổi trong chi tiêu chính phủ có tác động tới tổng chi tiêu gây ra sự thay đổi
của sản lượng cân bẳng của nên kinh tế từ đó làm tăng hay giảm tổng cầu
của nền kinh tế. Tuy nhiên, Nhà nước cần thận trọng trong quyết định về
chi tiêu chính phủ vì đây là nguyên nhân là khoản chi của ngân sách Nhà
nước làm giảm thặng dư ngân sách hoặc tăng thâm hụt ngân sách tùy vào
mức độ chi tiêu của chính phủ.
ii. Hệ thống thuế:
Hệ thống thuế hiện hành bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau tác động
lên tất cả hoạt động của nền kinh tế, các giai đoạn của quá trình sản xuất
kinh doanh. Vì vậy, thuế hoàn toàn có thể được Chính phủ sử dụng như là
một công cụ để điều tiết các hoạt động kinh doanh, sản xuất và tiêu dùng
hàng hóa, dịch vụ như khuyến khích đầu tư, phát triển các hoạt động sản
xuất có lợi cho nhân dân, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng, thực hiện chính
sách thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài, bảo hộ và khuyến khích sản xuất
trong nước và tao điều kiện cho hàng hóa trong nước có khả năng xuất
khẩu, cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài từ đó tác động đén tổng chi tiêu,
Trang 5
tổng cầu của nên kinh tế. Bên cạnh đó, công tác quản lí thuế cần được quan
được phép áp dụng khi kinh doanh ngoại hối.Đây là công cụ có tính
hành chính, tác động trực tiếp nên khá cứng nhắc. Nó tác động trực tiếp
đến mức tỷ giá trên thị trường, gây ra nhiều phản ứng tiêu cực trên thị
trường và dân tới những biến động không mong muốn về tỷ giá hối đoái
ii. Các công cụ gián tiếp:
• Nghiệp vụ thị trường mở (OMO)
OMO là ngiệp vụ trong đo NHTW mua-bán chứng khoán trên thị
trường mở để thay đổi dự trữ ngân hàng, từ đó tác dộng đến cơ sở số tiền
và lãi suất thị trường.Khi NHTW mua chứng khoán: Tác động đến dự trữ
của các NHTM, và đến cung vốn trên thị trường tiền tệ, từ đó thay đổi lãi
suất thị trường.Ngược lại, khi NHTW bán chứng khoán: Lãi suất ngân
hàng tăng ngay lập tức dẫn đến lãi suất thi trường ngắn hạn tăng theo:
đồng thời dự trữ của hệ thống NHTM giảm và từ đó lượng cung tiền
giảm, tỷ lệ lạm phát được cải thiện.
• Chính sách tái chiết khấu ( TCK)
Chính sách tái chiết khấu là chính sách trong đó NHTW cho các
NHTM vay dưới hình thức chiết khấu các chứng từ có giá ngắn hạn
Hạn mức chiết khấu: dự trữ bổ sung cho các NHTM có thể bị thu
hẹp hoặc nới rộng phụ thuộc vào hạn mức chiết khấu của NHTW, từ đó
ảnh hưởng đến khả năng tạo tiền của hệ thông NHTM, làm thay đổi
lượng tiền cung ứng. Mặt khác khi cung tiền thay đổi sẽ tác dộng làm
cho lãi suất thị trường thay đổi.
Lãi suất chiết khấu: Khi NHTW tăng lãi suất chiết khấu, làm
tăng chi phí vay của NHTM. Để kinh doanh có lãi, NHTM phải tăng lãi
suất cho vay nền kinh tế, từ đó làm giảm nhu cầu tín dụng. Ngoài ra, khi
lãi suất chiết khấu tăng, chi phí vay tăng bắt buộc các NHTM hạn chế
vay NHTW. Để hồi phục dự trữ, các NHTM phải giảm cung ứng tín
dụng, khiến lãi suất thị trường tăng.
Trang 7
• Dự trữ bắt buộc (DTBB)
t-1
)/P
t-1
*100%
Với:
Π
t
là tỉ lệ lạm phát thời kì t (tháng, quý, năm…)
P
t
, P
t-1
: mức giá chung thời kì (t) và thời kì trước đó (t-1)
Trang 8
Người ta thường dùng chỉ số điều chỉnh GDP (DGDP) và chỉ số giá tiêu
dung dùng CPI để đo mức giá chung. Tuy nhiên, thước đo lạm phát phổ biến
nhất chính là chỉ số giá tiêu dùng CPI (consumer price index) là chỉ số đo giá cả
của một số lượng lớn các loại hàng hóa và dịch vụ, bao gồm thực phẩm, lương
thực, chi trả cho các dịch vụ y tế , được mua bởi "người tiêu dùng thông
thường".
c) Nguyên nhân lạm phát
Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát, trong đó nguyên nhân do cầu kéo
và do chi phí đẩy là 2 nguyên nhân chính:
Lạm phát do cầu kéo Khi nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào đó
tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó. Giá cả của các mặt
hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng
hóa trên thị trường. Lạm phát do sự tăng lên về cầu (nhu cầu tiêu dùng của thị
trường tăng) được gọi là “lạm phát do cầu kéo”.
Lạm phát do chi phí đẩy: Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền
lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân,
quân đầu người trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự
thay đổi về lượng của nền kinh tế.
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản
sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối
cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian
nhất định (thường là một năm tài chính).
Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính
bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một
nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng sản phẩm quốc
dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng.
Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho
dân số. Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia cho
dân số.
Trang 10
b) Cách đo lường tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy
mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế
kỳ trước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %. Biểu diễn
bằng toán học, sẽ có công thức:
y = dY/Y × 100(%),
trong đó Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng.
Nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có
tốc độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa. Còn nếu quy mô kinh tế được
đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP)
thực tế. Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ
tiêu danh nghĩa.
c) Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển
đều phải được đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăng trưởng kinh tế
là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ. Bốn nhân tố này
nghĩa, tạo khung pháp lý đồng bộ cho phát triển kinh tế có hiệu quả; đẩy mạnh
kiểm soát chặt chẽ giá cả thị trường, tỷ giá và các công cụ điều tiết tiền tệ, ngân
sách.
Chính sách tiền tệ trong giai đoạn này có những đặc điểm nổi bật như:
• Quy chế nghiệp vụ thị trường mở được ban hành ngày 05/01/2007 (Quyết
định số 01/2007/QĐ-NHNN), góp phần đáng kể trong điều hành chính
sách tiền tệ.
• Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã được nâng lên 2 lần từ tháng 6 năm 2007, lãi suất
đã được duy trì ở mức ổn định.
• Công tác chiết khấu và cho vay cầm cố đã được tiến hành hợp lý trong
những trường hợp cần thiết, công tác thu nợ đã được đẩy mạnh để rút tiền
về Ngân hàng Nhà nước khi đến hạn.
• NHNN Việt Nam phát hành VNĐ mua lại lượng vốn đầu tư nước ngoài
gần 20 tỷ đồng với mục đích kìm tỉ giá của VNĐ với USD.
Năm 2007 cũng là năm mà Chính phủ tiếp tục áp dụng, phát huy Chính
sách tài khóa mở rộng. Theo báo cáo “Tình hình kinh tế - xã hội năm 2007” của
Tổng cục Thống kê đưa ra thì: “Tổng chi ngân sách Nhà nước năm 2007 ước
tính tăng 17,9% so với năm trước và bằng 106,5% dự toán năm.Bội chi ngân
sách Nhà nước năm 2007 ước tính bằng 14,8% tổng số chi và bằng mức bội chi
dự toán năm đã được Quốc hội thông qua đầu năm.”
Xét một cách tổng quan, năm 2007, các chính sách kinh tế của nước ta đã
phần nào phát huy hiệu quả trong việc ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện mục
tiêu tăng trưởng kinh tế, lạm phát mặc dù ở mức cao nhưng không thực sự đáng
Trang 13
lo ngại. Cụ thể tỷ giá đã được giữ ổn định trước sự gia tăng ồ ạt của vốn đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam khi nước ta bắt đầu gia nhập WTO, tăng trưởng kinh
tế lên tới 8.48%, đạt được mức kiến nghị 8.2 – 8.5%(Nghị quyết 17/2007/NQ-
CP về phiên họp chính phủ thường kỳ tháng02 năm 2007). Tuy nhiên vẫn còn
những hạn chế trong chính sách cần khắc phục như: việc áp dụng chính sách tiền
tệ thiếu hiệu quả của Ngân hàng Trung ương (NHTW) khi không tiến hành bất
o NHNN ban hành quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN ngày 1/2/2008
về sửa đổi chỉ thị thắt chặt cho vay chứng khoán.
• Công cụ trực tiếp: việc điều hành tỉ giá được diễn ra một cách linh hoạt:
o Quý 1 năm 2008, NHNN đã tăng lãi suất cơ bản, không thực hiện
mua ngoại tệ USD nhằm hạn chế việc việc bơm tiền ra lưu thông,
tăng biên độ tỷ giá USD/VND từ +/- 0,75% lên +/- 1% từ ngày
10/03/2008 để đối phó với việc sụt giảm của tỉ giá liên ngân hàng.
o Quý 2 năm 2008, NHNN không cho phép vay ngoại tệ đối với
doanh nghiệp xuất khẩu nhằm tránh việc vay ngoại tệ để bán ra bên
ngoài dotỷ giá tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh từ giữa tháng.
o Quý 3 năm 2008 : Nhớ có sự can thiệp kịp thời của nhà nước cơn
sốt tỷ giá giảm mạnh. Đồng thời NHNN đã ban hành một loạt các
chính sách kiểm soát chặt chẽ việc mua bán thu hồi ngoại tệ như
cấm mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do không đăng ký với các
NHTM, cấm mua bán USD thông các biên độ khác để lách biên
độ…
o Quý 4 năm 2008, tỷ giá USD tăng trở lại mức cao nhất sau đó giảm
nhẹ. NHNN bán USD cho các NHTM nhằm hỗ trợ nhập khẩu.
Về mặt tài khoá, chính phủ tiếp tục áp dụng chính sách mở rộng bằng việc
tăng mạnh tổng chi tiêu chính phủ, đẩy mạnh tổng cầu khiến giá một số mặt
hàng thiết yếu như điện, nước, tăng mạnh, tiếp tục khiến lạm phát giữ ở mức
cao.
Có thể nói, năm 2008, chính sách tiền tệ vẫn là một thành công lớn chính
phủ khi vẫn giữ vững được nền tài chính nước nhà tránh khỏi nguy cơ sụp đổ dù
đối mặt với quá nhiều biến động từ thì trường tài chính thế giới và khu vực. Việc
điều hành của chính phủ và NHTW trong việc điều chỉnh lãi suất tiền gửi và lãi
Trang 15
suất dự trữ bắt buộc kịp thời đã giúp được các NHTM kịp thời vượt qua sóng
gió, nhờ đó các ngân hàng gần như đi vào ổn định vào cuối năm 2008. Tuy
nhiên, việc tiếp tục sử dụng chính sách tài khoá mở rộng trong suốt một thời
Bước vào năm 2009, nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn do hệ quả của
khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới từ năm 2008. Đặc biệt, với việc lạm phát
ở mức kỉ lục trong năm 2008, mục tiêu của chính phủ trong năm 2009 đó là
ngăn chặn suy giảm kinh tế, phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý,
bền vững, giữ ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động phòng ngừa lạm phát cao trở lại,
trước những biến động lớn như vậy, NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ một
cách linh hoạt, phối hợp đồng bộ nhiều giải pháp giúp bình ổn thị trường:
• Về lãi suất: NHNN đã hạ lãi suất chỉ đạo từ 14% xuống 7%, hạ thấp tỉ lệ
dự trữ bắt buộc từ 11% xuống 5%. Các loại lãi suất: lãi suất tái cấp vốn,
lãi suất tái chiết khấu,… đều được giảm mức phổ biến là 1%.
• Về điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ:NHNN mở rộng biên độ ấn định tỷ giá mua
bán USD/VND của các NHTM từ +/- 3% đến +/- 5% so với tỷ giá bình
quân liên ngân hàng, cùng phối hợp với những biện pháp điều tiết cung
cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ. Tuy nhiên, ngày 26/11, NHNN đã
điều chỉnh tỷ giá, nâng tỷ giá công bố lên 17.980 VND/USD và thu hẹp
biên độ tỉ giá từ +/-5% xuống con +/- 3%, đồng thời yêu cầu các tổ chức
tín dụng thực hiện nghiêm biên độ tỉ giá.
Chính sách tài khóa mở rộng cũng được Chính phủ áp dụng trong giai
đoạn này, cụ thể là việc sử dụng các gói kích cầu. Gói thứ nhất được triển khai
nhằm hỗ trợ lãi suất khoảng 17000 tỉ đồng, gói kích cầu thứ hai với tổng nguồn
vốn khoảng 8 tỉ USD nhằm kích cầu đầu tư, phát triển sản xuất.
Bên cạnh đó, năm 2009, thủ tướng chính phủ đã tập trung chỉ đạo kích
cầu đầu tư, tạm hoãn thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước, đồng thời
ứng trước từ ngân sách để thực hiện một số dự án cấp bách, tăng vốn đầu tư từ
nguồn Ngân sách và trái phiếu Chính phủ. Bên cạnh đó, Chính phủ ta cũng đề
cao việc thu hút đầu tư nước ngoài và vốn viện trợ phát triển. Dựa trên báo cáo
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2009 của Tổng cục Thống kê, “Tổng chi ngân
Trang 17
sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2009 ước tính đạt 96,2% dự toán năm.Bội
chi ngân sách Nhà nước năm 2009 ước tính bằng 7% GDP.”
tái cấp vốn 8%/năm, lãi suất tái chiết khấu 6%/năm. Lãi suất cho vay
VND của NHTM tối đa là 12%/năm. Tuy nhiên cuối năm, lãi suất tăng
cao giao động trong khoảng 13,5 – 18,5%.
• Dự trữ bắt buộc: Theo Thông tư số 13/TT-NHNN, tỷ lệ dự trữ bắt buộc
bằng ngoại tệ hạ từ 7% xuống 4% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng, từ 3%
xuống 2% đối với kỳ hạn trên 12 tháng.
• NHTW chỉ đạo các các TCTD kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng đi
đôi với mở rộng tín dụng, cho vay, thực hiện việc quyết toán hỗ trợ lãi
suất đối với các khoản cho vay ngắn hạn bằng VND phát sinh trong năm.
Trong năm 2010,Chính sách tài khóa mở rộng đã được thực hiện theo
hướng chủ động, linh hoạt, nhưng thận trọng hơn so với năm 2009 nhằm ổn định
kinh tế vĩ mô, kiểm soát nhập siêu và ngăn chặn lạm phát ở mức cao. Gói kích
cầu thứ hai được thông qua ngày 30/09/2009 và có hiệu lực từ năm 2010 với
những nội dung chính sau:
• Chính sách miễn thuếkhông còn được áp dụng nhưng thời gian nộp thuế
thu nhập doanh nghiệp tiếp tục được giãn 3 tháng đối với doanh nghiệp
sản xuất, gia công dệt may, da giày Chính phủ tiếp tục thực hiện biện
pháp hoàn thuế, giãn thời gian nộp thuế nhập khẩu như năm 2009.
• Về chi tiêu chính phủ đặt ra mục tiêu làm giảm suy thoái và bảo đảm anh
sinh xã hội, Chính phủ đã cho phép dùng khoảng 2.800 tỉ đồng vốn ngân
sách để tăng mua dự trữ quốc gia về gạo và xăng dầu, cho phép ứng chi để
thực hiện các nhiệm vụ chi thường xuyên phát sinh ngoài dự toán tất cả
khoảng 7.000 tỉ đồng.
Chính sách tài khóa và tiền tệ trong năm 2010 đã đạt được những thành
công nhất định: tỉ giá được giữ ở mức ổn định, nhu cầu thanh khoản của các
ngân hàng thương mại được đáp ứng, gỡ rối cho các doanh nghiệp bằng chính
sách tài khóa, tăng trưởng kinh tếđạt mức 6.78% Tuy nhiên,mục tiêu kiềm chế
lạm phát 2010 vẫn chưa đạt nhiều khởi sắc khi mức lạm phát ở mức cao
(9.19%).
Trang 19
• Trên thị trường ngoại hối, tình trạng đô-la hóa vẫn chưa được giải quyết
triệt để, tín dụng ngoại tệ tăng cao, một số TCTD có hệ số sử dụng vốn
vượt 100%, một số TCTD huy động vốn nước ngoài để tăng trưởng tín
dụng cao, tiềm ẩn rủi ro khi các nguồn vốn nước ngoài bị rút đột
ngột.Trên thị trường vẫn còn tình trạng các TCTD lách các quy định về tỷ
giá làm tăng bất ổn trên thị trường ngoại hối.
• Một số hạn chế của hệ thống ngân hàng về thanh khoản, nợ xấu đang
ngày càng bộc lộ rõ khi NHNN triển khai các biện pháp nhằm lập lại trật
tự, kỷ cương trong lĩnh vực ngân hàng.
• Việc VND bị phá giácùng với lượng cung tiền tăng liên tục trong vài năm
gần đây gây mất cân đối tiền hàng đã góp phần đẩy lạm phát Việt Nam
năm 2011 lên mức rất cao là 18.58% (Tình hình kinh tế - xã hội 2011,
Tổng cục Thống kê)
6. Năm 2012:
Kinh tế nước ta vẫn đối đầu nhiều khó khăn từ ảnh hưởng bởi sự bất ổn
của kinh tế thế giới do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở Châu
Âu chưa được giải quyết.Thị trường tiêu thụ hàng hóa bị thu hẹp, hàng tồn kho ở
mức cao, sức mua trong dân giảm. Vì thế mục tiêu chung của nền kinh tế là tiếp
tục tập trung kiềm chế lạm phát,giảm cung tiền một cách thận trọng, ổn định
kinh tế vĩ mô, đạt tốc độ tăng trưởng hợp lý.
Chính sách tiền tệ năm 2012 được áp dụng linh hoạt hơn:
• Lãi suất:NHNN duy trì áp dụng việc áp trần lãi suất huy động do dấu hiệu
căng thẳng thanh khoản trên hệ thống ngân hàng trong những tháng cuối
năm 2011 tiếp tục kéo dài sang năm 2012.Trong quý 1, trước xu hướng
giảm tốc của chỉ số giá tiêu dùng và lạm phát kỳ vọng, NHNN đã bắt đầu
kéo giảm đồng loạt các lãi suất chính sách và trần lãi suất huy động.
• Song song với động thái kéo giảm trần lãi suất huy động, NHNN cũng đã
áp trần lãi suất cho vay (13%/năm) đối với 4 lĩnh vực ưu tiên: (1) Phục vụ
lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, (2) Thực hiện phương án, dự án sản xuất
– kinh doanh hàng xuất khẩu, (3) Phục vụ sản xuất – kinh doanh của
vẫn còn khó khăn. Nợ công tiếp tục gây ra những rủi ro trong dài hạn. Lãi suất
Trang 22
cho vay quá cao gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn
dẫn đến nhiều doanh nghiệp phá sản. Tiến trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng
và xử lí nợ xấu vẫn còn khá chậm gây tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng
tín dụng hệ thống ngân hàng. Mặt khác lãi suất cho vay tuy có giảm nhưng
nguồn vốn tín dụng vẫn chưa thực sự đến với doanh nghiệp. Một bộ phận các
ngân hàng thương mại đang gặp vấn đề về thanh khoản nhưng do không đủ điều
kiện để tham gia vào thị trường liên ngân hàng nên phải tiếp tục nâng lãi suất
huy động lên cao để giải quyết vấn đề thanh khoản.
Trang 23
III) NHỮNG KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT CHO VIỆC
THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH Ở VIỆT NAM
Dựa trên các tác động và ưu nhược điểm của các chính sách của chính
phủ và NHTW giai đoạn 2007-2012 đã trình bày ở trên, nhóm chúng em xin đề
xuất một số ý kiến để góp phần xây dựng và thực hiện chính sách tài khóa và
tiền tệ của nước ta như sau:
Trong ngắn hạn, cần phải phối hợp hiệu quả CSTT và CSTK để “cứu” các
doanh nghiệp (DN) giải quyết các vấn đề khó khăn tồn đọng như nợ xấu và hàng
tồn kho, mở rộng sản xuất kinh doanh, đồng thời hoàn thành mục tiêu của năm
2013, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát:
Vấn đề cần giải quyết lúc này là “phá băng tín dụng” và kích thích tổng
cầu tăng lên để đẩy dòng vốn ra ngoài thị trường và thúc đẩy mở rộng sản xuất,
qua đó góp phần giải quyết các vấn đề nợ xấu và hàng tồn kho thông qua các
biện pháp:
• Tác động vào tâm lý người tiêu dùng: Sử dụng phương tiện truyền
thông để hướng người tiêu dùng theo các mục tiêu của các chính
sách Kinh tế của Nước ta, ví dụ như đưa ra các đoạn quảng cáo về
việc mua trả góp bất động sản để tăng khả năng tiêu dùng…
• Giảm Lãi suất NHTM: hiện tại các NHTM đang dư thừa 1 lượng
Trang 25