QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MAC-LÊNIN VỀ CON MGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC - Pdf 27

TiÓu luËn triÕt häc
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MAC-LÊNIN VỀ CON MGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ
XÂY DỰNG NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG
NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC
Hà Nội,11/2014
Sinh viên thực hiện : Hoàng Việt Hoà
Lớp : A8-Khối 2-TCNH
Khoá : 48
Giáo viên hướng dẫn : Trần Huy Quang
1
Tiểu luận triết học
Lời mở đầu
Phát triển con ngời là mục tiêu cao cả nhất cả nhất của toàn nhân loại. Làn
sóng văn minh thứ ba đang đợc loài ngời tới một kỉ nguyên mới, mở ra bao khả
năng để họ tìm ra những con đờng tối u đi tới tơng lai. Trong bối cảnh đó sự tan
rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa càng làm cho các t tởng tự do tìm kiếm con đ-
ờng khả quan nhất cho sự nghiệp phát triển con ngời Việt Nam càng dễ đi đến
phủ nhận vai trò và khả năng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trong thực tế, không ít ngời rẽ ngang đi tìm khả năng phát triển đó trong
chủ nghĩa t bản. Nhiều ngời trở về phục sinh và tìm sự hoàn thiện con ngời trong
các tôn giáo và hệ t tởng truyền thống, con ngời lại sáng tạo ra những t tởng,
tôn giáo mới cho phù hợp hơn với con ngời Việt Nam hiện nay. Song nhìn
nhận lại một cách thật sự khách quan và khoa học sự tồn tại của chủ nghĩa Mác -
Lênin trong xã hội ta, có lẽ không ai phủ nhận đợc vai trò u trội và triển vọng
của nó trong sự phát triển con ngời.
Trên cơ sở vận dụng khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về con
ngời tại hội nghị lần thứ t của ban chấp hành trung ơng khoá VII, Đảng ta đã đề

Tiểu luận triết học
Nội dung
chơng i. quan điểm của triết học mác-lênin về con ng-
ời.
Chủ nghĩa xã hội do con ngời và vì von ngời. Do vậy, hình thành mới quan
hệ đúng đắn về con ngời về vai trò của con ngời trong sự phát triển xã hội nói
chung, trong xã hội chủ nghĩa nói riêng là một vấn đề không thể thiếu đợc của
thế giới quan Mác - Lênin.
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin con ngời là khái niệm chỉ những cá thể ngời
nh một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó.
Con ngời là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài từ giới tự nhiên và giới sinh vật. Do
vậy nhiều quy luật sinh vật học cùng tồn tại và tác động đến con ngời. Để tồn tại
với t cách là một con ngời trớc hết con ngời cũng phải ăn, phải uống Điều đó
giải thích vì sao Mác cho rằng co ngời trớc hết phải ăn, mặc ở rồi mới làm chính
trị.
Nhng chỉ dừng lại ở một số thuộc tỉnh sinh học của con ngời thì không thể
giải thích đợc bản chất của con ngời. Không chỉ có con ngời là tổng hoà các
quan hệ xã hội mà thực ra quan điểm của Mác là một quan điểm toàn diện.
Mác và Anghen nhiều lần khẳng định lại quan điểm của những nhà triết
học đi trớc rằng. Con ngời là một bộ phận của giới tự nhiên, là một động vật xã
hội, nhng khác với họ, Mác, Anghen; xem xét mặt tự nhiên của con ngời, nh ăn,
ngủ, đi lại, yêu thích Không còn hoàn mang tính tự nhiên nh ở con vật mà đã
đợc xã hội hoá. Mác viết: Bản chất của con ngời không phải là một cái trừu t-
ợng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó bản chất của con
ngời là tổng hoà của những mối quan hệ xã hội con ngời là sự kết hợp giữa mặt
tự nhiên và mặt xã hội nên Mác nhiều lần đã so sánh con ngời với con vật, so
sánh con ngời với những con vật có bản năng gần giống với con ngời Và để tìm
ra sự khác biệt đó. Mác đã chỉ ra sự khác biệt ở nhiều chỗ nh chỉ có con ngời làm
ra t liệu sinh hoạt của mình, con ngời biến đổi tự nhiên theo quy luật của tự
nhiên, con ngời là thớc đo của vạn vật, con ngời sản xuất ra công cụ sản xuất

tạo nên những con ngời mới, sẽ làm nên những thành viên trong xã hội có khả
năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển của mình theo Mác "phát
5
Tiểu luận triết học
triển sản xuất vì sự phồn vinh của xã hội, vì cuộc sống tốt đẹp hơn cho mỗi thành
viên trong cộng đồng xã hội và phát triển con ngời toàn diện là một quá trình
thống nhất để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội" để sản xuất ra những con ngời
phát triển toàn diện hơn nữa, Mác coi sự kết hợ chặt chẽ giữa phát triển sản xuất
và phát triển con ngời là một trong những biện pháp mạnh mẽ để cải biến xã hội.
Con ngời không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất là yếu tố
hàng đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lợng sản xuất của xã hội mà
hơn nữa, con ngời còn đóng vai trò là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử.
Thông qua hoạt động sản xuất vật chật con ngời sáng tạo ra lịch sử của mình,
lịch sử 7của xã hội loài ngoài. Từ đó quan niệm đó Mác khẳng định sự phát triển
của lực lợng sản xuất xã hội có ý nghĩa là sự phát triển phong phú bản chất con
ngời, coi nh là một mục đích tự thân. Bởi vậy theo Mác ý nghĩa lịch sử mục đích
cao cả của sự phát triển xã hội là phát triển con ngời toàn diện, nâng cao năng
lực và phẩm giá con ngời, giải phóng con ngời, loại trừ ra khỏi cuộc sống con
ngời để con ngời đợc sống với cuộc sống đích thực. Và bớc quan trọng nhất trên
con đờng đó là giải phóng con ngời về mặt xã hội.
Điều đó cho thấy trong quan niệm của Mác thực chất của tiến trình phát
triển lịch sử xã hội loài ngời là vì con ngời, vì cuộc sống ngày cnàg tốt đẹp hơn
cho con ngời, phát triển con ngời toàn diện và giải phóng con ngời, nói theo
Anghen là đa con ngời từ vơng quốc của tất yếu sang vơng quốc của tự do, con
ngời cuối cùng cũng là ngời tôn tại của xã hội của chính mình, đồng thời cũng
trở thành ngời chủ của tự nhiên, ngời chủ bản thân mình. Đó là quá trình mà
nhân loại đã tự tạo ra cho mình những điều kiện, những khả năng cho chính
mình nhằm đem lại sự phát triển toàn diện, tự do và hài hoà cho mỗi con ngời
trong cộng đồng nhân loại tạo cho con ngời năng lực làm chủ tiến trình lịch sử
của chính mình.

ớc Nga (Liên Xô cũ) Một n ớc công nghiệp cha phát triển, nông dân chiếm số
đông trong dân số. Vì vậy quan niệm của ông về con ngời khó có điều kiện đợc
chứng minh.
7
Tiểu luận triết học
Chơng II: Vấn đề con ngời trong công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc
I. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xu hớng phát triển của các nớc trên thế
giới. Đó cũng là con đờng phát triển tất yếu của nớc ta để đi lên mục tiêu "Xã
hội công bằng văn minh, dân giàu nớc mạnh" công nghiệp hoá, hiện đại hoá
không chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà chính là quá trình biến đổi cách
mạng sâu sắc với lĩnh vực đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, khoa học của con
ngời ) làm cho xã hội phát triển lên một trạng thái mới về chất. Sự thành công
của quá tình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ngoài mới trờng chính trị ổn
định, phải có nguồn lực cần thiết nh nguồn lực con ngời, vốn tài nguyên thiên
nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật. Các nguồn lực này quan hệ chặt chẽ với nhau.
Cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhng mức độ tác
động vào vai trò của chúng đối với toàn bộ quá trình công nghiệp hoá hiện đại
hoá không giống nhau, tỏng đó nguồn nhân lực phải đủ về số lợng mạnh về chất
lợng. Nói cách khác nguồn nhân lực phải trở thành động lực phát triển. Nguồn
nhân lực phát triển thì tất yếu công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải tién hành để
đáp ứng nhu cầu đó.
Theo các nhà kinh điều của chủ nghĩa Mác - Lênin, con ngời vừa là điểm
khởi đầu vừa là sự kết thúc, đồng thời lại vừa là trung tâm của sự biến đổi lịch
sử, nói cách khác con ngời là chủ thể chân chính của các quá trình xã hội. Trớc
đây tỏng sách báo con ngời đợc xem xét trên phơng diện "con ngời tập thể" "con
ngời giai cấp" con ngời xã hội.
ở đây tính tích cực của con ngời với t cách là chủ thể đợc tập trung chú ý
khai thác và bồi dỡng chủ yếu ở những phẩm chất cần cù, trung thành, nhiệt tình,

thể" không chỉ trên bình diện "con ngời - xã hội" mà còn trên cả bình diện "con
ngời cá nhân".
Hơn nữa là "con ngời - chuyên môn nghề nghiệp" nhất định (nh nhà lãnh
đạo, quản lý, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp công nhân ). Bởi vì ấn dấu đằng
sau những chủ thể cụ thể này là lợi ích tơng ứng với chúng. Chỉ có quan niệm và
9
Tiểu luận triết học
cách làm nh vậy chúng ta mới biết tác động vào đâu và tác động nh thế nào để
nâng cao tích cực của chủ thể hành động.
Nói đến nguồn nhân lực tức là nói đến chủ thể tham gia vào quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy nhiên nó không phải là chủ thể biệ lập riêng
rẽ, mà là chủ thể đợc tổ chức thành lực lợng thống nhất về t tởng hành động. Nói
cách khác công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tổng hợp những chủ thể với những
phẩm chất nhất định tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhng
cần phải hiểu rằng tổng hợp những chủ thể này không phải là tập hợp giản đơn
số lợng ngời mà nó là sức mạnh tổng hợp của chỉnh thể ngời trong hành động.
Sức mạnh này bắt nguồn trớc hết là những phẩm chất vốn có bên trong của mỗi
chủ thể và nó đợc nhân lên gấp đôi trong hoạt động thực tiễn. Động lực công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là những gì thúc đẩy quá trình vận động và phát triển.
Vì vậy khi nói "nguồn lực với tính cách là động lực của quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá" là chủ yếu nói đến những phẩm chất tích cực của tổng hợp
những chủ thể đợc bộc lộ trong quá trinfh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thúc
đẩy quá trình này vận động phát triển và thể hiện mặt tích cực, đồng thời hạn chế
mặt tiêu cực tối đa của mình.
Mặt khác để xem xét vai trò nguồn lực của con ngời, cần đặt nó trong
quan hệ so sánh với các nguồn lực khác và ở mức độ chi phối của nó đến sự
thành bại của công cuộc đổi mới đất nớc. Khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
và công nghiệp hiện đại phát triển mạnh mẽ, lao động trí tuệ ngày càng gia tăng
và trở thành xu thế phổ biến của nhân loại. Khi công nghiệp hoá gắn liền với
hiện đại hoá mà thực chất là hiện đại hoá lực lợng sản xuất với cách tiếp cận nh

công nghệ hiện đại đang dẫn các nền kinh tế của các nớc công nghiệp phát triển
vận động đến nền kinh tế trí tuệ (mà gọi là tri thức). ở những nớc này lực lợng
sản xuất trí tuệ ngày càng phát triển và chiếm tỷ trọng cao. Nguồn lợi mà họ thu
đợc từ lao động chất xám chiếm tới 1/2 tổng giá trị tài sản quốc gia. Giờ đây sức
mạnh của trí tuệ đạt đến mức nhờ có cuộc cách mạng con ngời có thể tạo ra
những máy móc "bắt chớc" hay phỏng theo những đặc tính trí tuệ của chính con
ngời. Rõ ràng bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay khối óc
con ngời mà ngày nay nhân loại đang chứng kiến sự biến đổi thần kỳ của mình.
11
Tiểu luận triết học
Thứ t: Kinh nghiệm của nhiều nớc và thực tiễn của chính nớc ta cho thấy sự
thành công của công nghiệp hoá hiện đại hoá phụ thuộc chủ yếu vào hoạch định
đờng lối chính sách cũng nh tổ chức thực hiện nghĩa là phụ thuộc vào năng lực
nhận thức và hoạt động thực tiễn của con ngời.
Việc thực hiện và hoàn thành tốt công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
có ý nghĩa đặc biệt to lớn và có tác dụng hoàn thiện nhiều mặt.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá làm thay đổi căn bản kỹ thuật, công nghệ,
sản xuất, tăng năng suất lao động công nghiệp hoá hiện đại hoá chính là thực
hiện xã hội hoá nhiều mặt, góp phần ổn định, ngày càng nâng cao đời sống vật
chất và văn hoá của mọi thành viên trong cộng đồng xã hội.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển mối quan hệ kinh tế giữa các
ngành, các vùng trong phạm vi mỗi nớc và các nớc với nhau, nâng cao trình độ
quản lý kinh tế của nhà nớc nâng cao khả năng tích luỹ mở rộng sản xuất.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá không ngừng nâng cao vai trò của nhân tố
con ngời trong nền sản xuất và đặc biệt trong nền sản xuất lớn hiện đại, kỹ thuật
cao. Chỉ trên cơ sở thực hiện tốt công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới có khả năng
thực hiện và quan tâm đầy đủ đến sự phát triển tự do và toàn diện nhân tố con
ngời.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố và
tăng cờng tiềm lực quốc phòng khả năng đảm bảo an ninh và quốc phòng, các

nghĩa xã hội trớc hết cần có những con ngời xã hội chủ nghĩa" - đã trở thành t t-
ởng quán xuyến toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng ta với t cách là Đảng
cầm quyền ngay từ đầu mọi chủ trơng, chính sách, đờng lối của Đảng đều quán
triệt việc chăm sóc, bồi dỡng và phát huy nhân tố con ngời.
Trong "Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội" Đảng ta đã chỉ rõ: "Phơng hớng lớn của chính sách xã hội là: Phát huy nhân
tố con ngời trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi
công dân kết hợp tốt tăng trởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất
và đời sống tinh thần, giữa đáp ứng các nhu cầu trớc mắt với chăm lo lợi ích lâu
dài giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội". Định hớng có ý nghĩa chiến l-
ợc đó chính là thể hiện t tởng vì con ngời, của mục tiêu phát triển con ngời Việt
13
Tiểu luận triết học
Nam, toàn diện trong công cuộc xây dựng đất nớc theo định hớng xã hội chủ
nghĩa ở nớc ta hiện nay.
Việc đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc đòi hỏi
chúng ta phải nhận thức một cách sâu sắc đầy đủ những giá tị lớn lao và có ý
nghĩa quyết định của nhân tố con ngời chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của
cải vật chất và văn hoá tinh thần. Phải có sự thay đổi sâu sắc cách nhìn, cách
nghĩ, cách hành động của con ngời và coi việc bồi dỡng phát huy nhân tố con
ngời Việt Nam hiện đại nh một cuộc cách mạng. Hơn nữa, với tinh tất yếu khách
quan của sự nghiệp xây dựng đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc và cách mạng con ngời phải đợc nhận thức là
hai mặt thống nhất, không thể tách rời của sự nghiệp xây dựng đó.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa
không thể không xuất phát từ tinh thần nhân văn sâu sắc, không thể không phát
triển con ngời Việt Nam toàn diện để lấy đó làm động lực xây dựng xã hội ta
thành một xã hội "công bằng, nhân ái", "tốt đẹp và toàn diện" để bồi dỡng và
phát huy nhân tố con ngời, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, nhất thiết phải từng bớc
hiện đại hoá đất nớc và đời sống xã hội và chúng ta "tăng trởng nguồn lực con

phát triển của mọi mặt. Sự thách thức đối với sự phát triển con ngời đó là quá
trình công nghiệp hoá, do đó con ngời cần phải đợc chăm lo đào tạo về trí lực và
thể lực.
Yếu tố hàng đầu của nguồn lực con ngời trớc hết phải là trí tuệ, bởi "tất cả
những gì thúc đẩy con ngời hành động đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của
nó", túc nói cách khác đi là trí tuệ làm chủ con ngời trình độ trí tuệ phản ánh qua
trình độ học vấn và tài năng sáng tạo. Nó biểu hiện ở khả năng áp dụng những
thành tựu khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật tiên tiến, ở sự nhạy bén, thích
ứng nhanh và làm chủ đợc kỹ thuật, công nghệ hiện đại, có kỹ năng lao động
nghề nghiệp, có năng lực hoạch định chính sách lựa chọn giải pháp và tổ chức
thực hiện.
Sau trí tuệ là yếu tố sức khoẻ - yêu cầu không thể thiếu đợc đối với ngời lao
động. Sức khoẻ là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phơng
tiện tất yếu đẻ chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn để biến tri thức thành
sức mạnh vật chất.
15
Tiểu luận triết học
Sản xuất công nghiệp đòi hỏi ở ngời lao động hàng loạt các phẩm chất nh
có tính kỷ luật tự giác, tiết kiệm nguyên vật liệu và thời gian, tích cực bảo dỡng
thiết bị máy móc, có tinh thần hiệp tác và tác phong lao động công nghiệp có l-
ơng tâm nghề nghiệp có trách nhiệm cao đôí với sản phẩm.
Mặt khác quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, còn đụng chạm đến vấn
đề phức tạp trong quan hệ giữa con ngời với thiên nhiên. Đây là vấn đề cấp bách
sống còn không chỉ với mỗi quốc gia mà còn đối với nền văn minh nhân loại. Vì
vậy sự hiểu biết và trách nhiệm cao trớc vấn đề môi sinh cũng là một năng lực và
phẩm chất quan trọng của ngời lao động trong quá trình tiến hành công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá khó có thể đạt đợc kết quả tốt nếu
không có những công dân yêu nớc ham học hỏi, cần cù lao động và sáng tạo có
tinh thần hợp tác, ý chí tự chủ vơn lên và lòng tự trọng dân tộc cao không cam

chững lại, hơn nữa ngời lao động nớc ta nói chung văn hoá còn kém, lao động
công nghiệp quen theo kiểu sản xuất nhỏ và lao động giản đơn.
Cùng với việc chuyển sang nền kinh tế thị trờng thực trạng đội ngũ cán bộ
tri thức Việt Nam đặc biệt là tri thức cao đang đặt ra một vấn đề đợc giải quyết,
sự già hoá của đội ngũ trí thức, trong các ngành khoa học trọng yếu tuổi bình
quân của tiến sỹ là 52,8, phó tiến sỹ 48,1, giáo s 59,5, phó giáo s 56,4. Cấp viện
trởng là 55 (số liệu này cho tới nay đã thay đổi). Nh vậy đến năm 2001 hơn 80%
số ngời có học hàm, học vị hiện nay đã đến tuổi về hu. Điều đó gây nên sự hẫng
hụt cán bộ khoa học kế cận.
Trong khi số ngời có học vấn cao giảm thì số sinh viên tốt nghiệp đại học
và cao đẳng không tìm đợc việc làm lại tăng lên phải chăng chúng ta đã quá thừa
những ngời có học vấn chắc chắn là không. Sự thừa đó chính là tác động của mặt
trái của kinh tế thị trờng. Rõ ràng sự chậm cải tạo giáo dục và nội dung đào tạo
không theo kịp những đòi hỏi của ngời sử dụng đã dẫn đến sự lãng phí trong đầu
t cho giáo dục, lực lợng lao động ở nớc ta hiện nay rất hạn chế về chất lợng nhất
là trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, kỹ năng lao động, thể lực và văn hoá lao
động công nghiệp. Thêm vào đó việc sử dụng và khai thác số lao động, đã đợc
đào tạo, có trình độ lại không hợp lý và kém hiệu quả. Nếu chúng ta không có
một nỗ lực phi thờng bằng hành động thực tế trong việc xây dựng và sử dụng
17
Tiểu luận triết học
nguồn lực lao động thì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá khó có thể thực
hiện đợc thành công; và đó cũng là lý do vì sao nhiều nhà khoa học kêu gọi phải
tiến hành một cuộc cách mạng về con ngời mà thực chất là cách mạng về chất l-
ợng lao động mỗi bớc tiến của "cách mạng con ngời" sẽ đem lại những thành tựu
to lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, nh chúng ta đã biết "cách
mạng con ngời" với công nghiệp hoá, hiện đại hoá là hai mặt của một quá trình
phát triển thống nhất, giữa chúng có một quan hệ biện chứng lần nhau.
Để tạo ra sự thay đổi căn bản về chất lợng trong nguồn lực con ngời cần có
hàng loạt những giải pháp thích ứng nhằm phát triển tốt yếu tố của con ngời

đặc biệt chú ý tới mũi nhọn - có chính sách phát hiện bồi dỡng và sử dụng ngời
tài mau chóng tăng cờng đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, từ các
nghệ nhân làm các nghề truyền thống đến các chuyên gia công nghệ cao. Giáo
dục và đào tạo kết hợp chặt chẽ với khoa học kỹ thuật công nghệ mới có thể
đóng góp xứng đangs vào phát huy nguồn lực con ngời, tuy nhiên một yếu tố mà
ngày nay con ngời cần phải hoàn thiện đó là. Cần coi trọng mặt đạo đức nhân
cách của nguồn lực con ngời.
Muốn có nguồn lực con ngời đáp ứng đợc công cuộc đổi mới giáo dục nhà
trờng cùng với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội phải làm tốt việc phát động
một cao trào học tập trong toàn Đảng toàn dân, toàn quân nhằm đào tạo nên
những con ngời phát triển cao về trí tuệ, cờng tráng về thể chất, phong phú về
tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Vậy mọi chủ trơng chính
sách của Đảng và Nhà nớc cần phải quán triệt việc chăm sóc, bồi dỡng và phát
triển nhân tố con ngời.
19
Tiểu luận triết học
ý kiến bản thân.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đờng tất yếu duy nhất để đa nớc ta từ
một nớc kém phát triển đạt đợc những thành tựu to lớn cả những mặt kinh tế
cũng nh xã hội nhng để thành công quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá,
chúng ta phải biết tận dụng các nguồn lực sẵn có trong nớc cũng nh nớc ngoài.
Một trong những nguồn lực đó là nguồn nhân lực, con ngời không những chỉ có
vai trò về sự vận đồng và phát triển của xã hội mà trong điều kiện nay, con ngời
là nguồn lực cho quá trình đổi mới đất nớc. Sự phát triển vợt bậc về mặt trí tuệ.
Đồng thời trí tuệ còn giúp con ngời khám phá ra khoa học kỹ thuật giúp con ngời
phát triển lực lợng sản xuất từ giản đơn đến phức tạp để từ đó biến con ngời từ
lạc hậu sang văn minh nh ngày nay. Còn đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá
con ngời là nguồn lực chủ thể quan trọng trong suốt quá trình tiến hành. Bởi
tiềm năng con ngời với trí tuệ và lao động định hớng, trí tuệ đó đã và đang là sản

21
Tiểu luận triết học
kết luận
Chủ nghĩa xã hội do con ngời, vì con ngời. Do vậy hình thành mối quan hệ
đúng đắn về con ngời về vai trò của con ngời trong sự phát triển xã hội nói chung
trong xã hội, xã hội chủ nghĩa nói riêng là một ván đề không thể thiếu đợc của
thế giới quan Mác - Lênin.
Con ngời là khái niệm chỉ những cá thể ngời nh một chỉnh thể, trong sự
thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó.
Nếu chỉ dừng lại ở một số trớc tính sinh học của con ngời thì không thể giải
thích đợc bản chất của con ngời, con ngời là một thực thể đặc biệt hoạt động có ý
thức, có khả năng sáng tạo cho mình. Từ tự nhiên và chính trong quá trình hoạt
động đó những quan hệ xã hội đợc hình thành có tác động mạnh mẽ tới sự hình
thành nhân cách, bản chất con ngời Mác viết Con ngời là tổng hoà của những
quan hệ xã hội.
Con ngời là chủ thể lịch sử, sáng tạo và lịch sử. Trong CMXHCN con ngời
là yếu tố quyết định vừa là điểm xuất phát vừa là mục đích của một chính sách
kinh tế - xã hội xây dựng xã hội chủ nghĩa là xây dựng xã hội chủ nghĩa là xây
dựng một xã hội mà ở đó có đủ những điều kiện vật chất và tinh thần.
Việt Nam đã làm đợc điều đó hay cha; cho tới nay tuy chúng ta đã đạt đợc
những thành tựu đáng kể nhng đời sống vật chất tinh thần của đại đa số, ngời dân
còn thiếu. Do vậy lý luận chủ nghĩa Mác Lênin nói chung và quan điểm chủ
nghĩa Mác Lênin về con ngời là kim chỉ nam để hớng đất nớc ta cần pahỉ đi đâu,
làm gì và làm nh thế nào, để thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hoá
hiện đại hóa đất nớc, có nh vậy chúng ta mới vợt qua đợc cái ngỡng của nghèo
nàn và lạc hậu
22
Tiểu luận triết học
Tài liệu tham khảo
1. Giáo tình triết học Mác Lên của NXB chính trị quốc gia (tập I, tập II).

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc 14
IV. Hiện trạng và giải pháp cho nguồn lực con ngời ở nớc
ta hiện nay 15
ý kiến bản thân 19
Kết luận 21
Tài liệu tham khảo 22
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status