I. LỜI MỞ ĐẦU
1. Cơ sở hình thành nghiên cứu:
Ngày nay, thống kê được coi là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan
trọng có vai trò cung cấp các thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy
đủ, kịp thời phục vụ các cơ quan nhà nước trong việc đáng giá, dự báo tình hình,
hoạch định chiến lược, chính sách xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngắn
hạn và dài hạn. Hiện nay, bộ môn Nguyên lý thống kê kinh tế là một môn học cơ sở
được giảng dạy ở hầu hết các trường Đại học thuộc khối kinh tế. Môn học này hỗ trợ
cho sinh viên những kĩ năng cần thiết về nghiên cứu, khảo sát thị trường cũng như
nhiều lĩnh vực khác, giúp sinh viên tiếp cận nhiều hơn với thực tế và những lĩnh vực
cần thiết trong cuộc sống, đồng thời tạo ra cho xã hội lực lựơng nghiên cứu thị trường,
khảo sát các nhu cầu, sở thích của người tiêu dùng và xã hội để đáp ứng yêu cầu hội
nhập kinh tế với khu vực và thế giới.
Trong quá trình học môn Nguyên lý thống kê kinh tế, sinh viên được tiếp xúc
dần với qui trình thực hiện một cuộc khảo sát các đề tài thực hành, được giảng dạy kĩ
năng bảng câu hỏi, xử lý dữ liệu, báo cáo và phân tích đề tài. Những kiến thức trên
giảng đường góp phần cho sinh viên hòan thành tốt đề tài thực hành. Có nhiều sinh
viên ban đầu cảm thấy hào hứng với việc tự nghiên cứu làm đề tài, nhưng sau đó tỏ ra
chán nản do trước giờ chưa từng làm.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, nhóm chúng em chọn đề tài “Nghiên cứu
thống kê về tình hình làm bài tập nhóm môn Nguyên lý thống kê kinh tế của sinh
viên K49 trường Đại học Ngoại thương” với mong muốn hạn chế tình trạng này và
có thể giúp cho sinh viên trường Đại học Ngoại thương hình dung được họ cần và
phải làm những gì, để từ đó có thể quyết định và sắp xếp phương thức thực hiện đề tài
sao cho hiệu quả. Do trình độ còn hạn chế nên đề tài của chúng em không tránh khỏi
những thiếu sót, chúng em rất mong nhận được sự góp ý của cô và các bạn để đề tài
hoàn chỉnh hơn !
1
2. Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa đề tài.
2.1 Đề tài được thực hiện với các mục đích nghiên cứu sau:
Tham số phân tích thống kê
6. Tổng quan tình hình khảo sát
Theo hiểu biết của chúng em thì hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu thống kê
về tình hình làm bài tập nhóm giữa kì bộ môn Nguyên lý thống kê kinh tế.
Đề tài của chúng em được thực hiện dựa trên việc thu thập thông tin qua phiếu
điều tra, phỏng vấn từng đối tượng và phát bảng câu hỏi có chọn lọc trước.
Trong đề tài, có sử dụng các loại thang đo: Định danh, tỷ lệ và thang đo khoảng.
STT Biến Thang đo
1. Tiêu chí kiếm thành viên
Định danh
2. Phương thức chọn đề tài
Định danh
3. Tiêu chí chọn đề tài
Định danh
4. Lĩnh vực đề tài
Định danh
5. Cách thức phân chia công việc
Định danh
6. Cách lập bảng câu hỏi
Định danh
7. Mức độ khó của bảng câu hỏi
Khoảng
8. Khó khăn gặp phải khi lập bảng câu hỏi
Định danh
9. Số lượng câu hỏi trong phiếu điều tra
Tỷ lệ
10. Đối tượng khảo sát
Định danh
11. Số lượng mấu khảo sát
Tỷ lệ
với 20%, theo sở trường riêng là 12.2%, thoe thành tích học tập 5.6% và thấp nhất là
các tiêu chí khác (như theo sở thích… ) chiếm tỉ trọng nhỏ là 3%.
Do những thuận lợi như: dễ phân công công việc tùy thoe khả năng, sở thích của
mỗi người, dễ tập hợp nhóm, dễ hòa đồng, làm việc mà hầu hết các sinh viên đều
chọn thành viên của mình là bạn thân hoặc chơi chung nhóm.
2. Phương thức chọn đề tài nhóm.
Bảng 2: Thống kê sinh viên theo phương thức chọn đề tài.
4
Phương thức chọn đề tài Số sinh viên Tỷ lệ trong mẫu (%)
Họp nhóm, chọn ý kiến tốt nhất 62 68.9
Tùy hứng 20 22.2
Có sẵn câu hỏi tham khảo 6 6.7
Khác 2 2.2
Tổng 90 100
Chúng ta có thể thấy rõ rằng, phần lớn sinh viên được khảo sát đều trả lời họ
chọn được đề tài khi tất cả các thành viên sẽ cùng nhau họp nhóm, rồi đưa ra những ý
kiến của mỗi người. Thành viên trong nhóm sẽ xem xét và chọn ra đề tài mà họ cho là
có thể thực hiện được, nằm trong khả năng của nhóm. Do đó kết quả “họp nhóm, chọn
ý kiến tốt nhất” được đa số các sinh viên trong cuộc khảo sát lựa chọn (68.9 %). Lựa
chọn phương án “tùy hứng” với 22.2 %, bỗng dưng nghĩ ra, theo ý thích của một cá
nhân được nhóm hưởng ứng. Chọn đề tài do “có sẵn câu hỏi tham khảo” thì chỉ chiếm
6.7 %, Cuối cùng là đáp án “khác” cũng với tỷ lệ 2.2 %.
3. Tiêu chí chọn đề tài và các lĩnh vực đề tài
3.1. Tiêu chí chọn đề tài:
Bảng 3: Thống kê sinh viên theo tiêu chí chon đề tài
Tiêu chí đánh giá Số sinh viên Tỷ lệ( %)
Đề tài hót 13 14.4
Đề tài gần gũi sinh viên 29 32.2
Đề tài phù hợp với khả năng 26 29.0
vực này sẽ thiết thực hơn, có tính ứng dụng thực tế cao hơn, đặc biệt là một trường đào
tạo về kinh tế đứng đầu như Ngoại Thương. Và cuối cùng, 8 sinh viên trong tổng số 90
sinh viên được điều tra lựa chọn viết về lĩnh vực “ giáo dục”, chiếm tỷ lệ khoảng 9% -
một tỷ lệ trung bình . Có nhiều sinh viên quan tâm đến các vấn đề giáo dục khác ngoài
những kiến thức ở trường, lớp vì vậy lĩnh vực khảo sát này ở cũng rất có ích cho
chúng ta.
4. Cách thức phân chia công việc.
Số lượng lựa chọn trong mẫu điều tra cho từng cách thức phân chia công việc
được thể hiện qua bảng sau:
6
Bảng 5: Thống kê sinh viên theo cách thức phân chia công việc
Cách thức phân chia công việc Số sinh viên Tỷ lệ trong mẫu (%)
Phân công theo sở trường 19 21.1
Phân công ngẫu nhiên 23 25.6
Làm chung tất cả các phần 4 4.4
Phần làm chung, phần làm riêng 24 26.7
Tự xung phong đảm nhận 1 phần 20 22.2
Tổng 90 100
Qua bảng số liệu và biểu đồ hình tròn ta thấy có 21,1% tổng số phân chia công việc
của nhóm họ theo sở trường; 25,6% phân công một cách ngẫu nhiên; 22,2% tự xung
phong đảm nhiệm một phần công việc. Phần lớn mọi người nghĩ rằng để hoàn thành
công việc đạt kết quả cao nhất thì nên chia công việc thành những phần nhỏ, phần thì
cần làm chung để phát huy tối đa nguồn lực, ý kiến sáng tạo,… nhưng ngược lại có
những phần làm riêng để tiết kiệm thời gian và phát huy tinh thần tự giác,…. Vì vậy
có 24 phiếu trong tổng số 90 phiếu điều tra cho rằng công việc của nhóm họ có phần
làm chung, có phần làm riêng, chiếm 26,7%; gấp 6 lần tiêu chí làm chung tất cả các
phần( 4 phiếu).
7
6. Mức độ khó trong việc xây dựng bảng khảo sát.
Bảng 7: Thống kê sinh viên về mức độ khó trong việc xây dựng bảng khảo sát
Độ khó của việc lập bảng câu hỏi Số sinh viên Tỷ lệ trong mẫu (%)
Không khó
38 42.2
Hơi khó
34 37.8
8
Khá khó
12 13.3
Rất khó
6 6.7
Tổng cộng
90 100
Chiếm tỉ lệ cao nhất về mức độ khó trong việc xây dựng bảng khảo sát là ở mức
độ không khó ( chiếm 42.2%). Đứng thứ hai là mức độ hơi khó ( chiếm 37.8%). Còn
lại là ở mức độ khá khó ( chiếm 13.3%) và mức độ rất khó ( chỉ chiếm 6.7%). Lí giải
cho điều này là vì nếu bảng câu hỏi quá khó thì đối tượng được phỏng vấn sẽ kém
nhiệu tình khi trả lời từ đó hiệu quả thu được không cao. Do đó khi lập bảng câu hỏi,
hầu hết sinh viên chỉ lựa chọn mức độ câu hỏi ở mức không khó. Rất ít sinh viên lựa
chọn mức độ câu hỏi ở mức rất khó.
7. Khó khăn gặp phải khi lập bảng câu hỏi.
Bảng 8: Thống kê sinh viên về khó khăn gặp phải khi lập bảng câu hỏi
Khó khăn khi lập bảng câu hỏi Số sinh viên Tỷ lệ trong mẫu (%)
Không đủ tài liệu
11 12.2
Chưa có kinh nghiệm lập bảng câu hỏi
19 21.1
Kiến thức không đầy đủ
người đã có kinh nghiệm trong lĩnh vực đó giúp đỡ nên sẽ dẫn đến tình trạng nêu trên.
Và cuối cùng chỉ có 1.1% số sinh viên được hỏi lựa chọn phương án khác.Lí giải điều
này có thể do các phương án được đưa ra đã liệt kê gần như đầy đủ các khó khăn của
sinh viên khi lập bảng câu hỏi do đó chỉ có một sinh viên lựa chọn những khó khăn
khác.
8. Số lượng câu hỏi của bảng khảo sát:
Được thể hiện như bảng sau:
Bảng 9: Tổng hợp về số lượng câu hỏi dùng trong bảng khảo sát
Số lượng câu hỏi Số phiếu trả lời Tỉ lệ trong mẫu (%)
<10 9 10
10-20 61 67.78
20-30 15 16.67
>30 5 5.55
Tổng cộng 90 100
Như vậy theo như bảng trên thì số lượng câu hỏi từ 10-20 được chọn nhiều nhất.
Do tính chất ngắn gọn và thuận tiện nhanh chóng cho người trả lời, đồng thời cũng
giúp người khảo sát thu thập được khá đầy đủ một lượng thông tin nhất định nên số
phiếu cho lượng câu hỏi từ 10-20 là 61 phiếu và chiếm tỉ lệ 67,78% trong tổng số
phiếu. Số câu hỏi từ 20-30 được chọn với tổng số phiếu là 15, chiếm 16,67% trong
tổng số mẫu khảo sát. Các số lượng câu hỏi còn lại chiếm rất ít, số câu hỏi nhỏ hơn 10
chiếm 10%, người khảo sát không hài lòng về số lượng câu hỏi này, quá ít để thu thập
đủ thông tin cho họ. Còn với số lượng lớn hơn 30 thì người trả lời rất ngại trả lời.
10
Từ bảng 1, ta thấy bình quân số lượng câu hỏi của bảng khảo sát sẽ là:
Số lượng câu hỏi bình quân = =
= 16.78.
Như vậy số lượng câu bình quân nằm trong khoảng từ 10-20, vậy mốt của số câu hỏi
sẽ là 10-20 và bình quân số câu hỏi cũng là 16,78.
• Phân tích Hồi quy và tương quan Bảng 1:
1
5
9
5
1
15 61 38.65 499.52 1482.25
25 15 28.85 191.82 56.25
35 5 -13.95 359.1 306.25
Tổng cộng y
x
=
69
TC= 1092,04 2126
12
Từ đó ta tính được: η = = 0,6974
Như vậy độ liên kết giữa x và y là khoảng 0,6974.
9. Đối tượng khảo sát:
Bảng 10: Thống kê sinh viên về đối tượng khảo sát
Đối tượng khảo sát Số phiếu trả lời Tỉ lệ trong mẫu
Sinh viên 60 66.67
Đối tượng khác 7 7.78
Cả hai 23 25.55
Tổng cộng 90 100
Như vậy, theo kết quả thống kê thu được thì đối tượng được các nhóm hướng đến
nhiều nhất là sinh viên với 60 phiếu, chiếm 66,67% trong mẫu; đối tượng khác chiếm
7,78%, và có 25,55% các nhóm chọn cả 2 đối tượng này để khảo sát. Kết quả như trên
thể hiện sinh viên là đối tượng được hướng đến nhiều nhất. Điều này cũng khá hợp lý
do bản thân các nhóm làm bài tập này đều là sinh viên nên chọn đối tượng là sinh viên
dễ cho việc điều tra và phỏng vấn.
10. Số lượng mẫu khảo sát:
Bảng11: Thống kê về số lượng mẫu khảo sát
Số lượng mẫu khảo sát Số phiếu điều tra Tỉ lệ trong mẫu
<40 12 13.33
40-60 26 28.89
quen phát, trả lời dùm (chiếm 21.1%) và cuối cùng là phỏng vấn từng đối tượng(chiếm
7.8%). Đa phần sinh viên chọn cách thức thức phát ngẫu nhiên để làm cách thức thu
thập dữ liệu vì cách này phản ánh chính xác và khách quan nhất về việc thu thập dữ
liệu. Cách thức thu thập phát có chọn lọc trước chiếm tỉ lệ cũng khá cao ( 24.4%) là vì
cách này sẽ giúp cho chất lượng của đáp án các phiếu điều tra được tăng lên. Cách
thức thứ ba mà sinh viên sử dụng để thu thập dữ liệu là nhờ người quen phát, trả lời
dùm(21.1%) vì cách này không thu thập được những dữ liệu một cách rộng rãi và
14
khách quan bằng hai cách trên. Cuối cùng chiếm tỉ lệ thấp nhất là cách thức phỏng vấn
từng đối tượng(chỉ chiếm 7.8%). Cách này tốn rất nhiều thời gian và công sức mà hiệu
quả cũng chưa hẳn đã cao cho nên rất ít sinh viên sử dụng cách này để thu thập dữ
liệu.
12. Khả năng sử dụng phần mềm SPSS.
Bảng 13: Thống kê sinh viên về khả năng sử dụng phần mềm SPSS
Khả năng sử dụng SPSS Số sinh viên Tỷ lệ trong mẫu (%)
Kém 42 46.7
Tàm tạm 36 40.0
Khá 8 8.9
Tốt 4 4.4
Tổng cộng 90 100
Do SPSS là một phần mềm thống kê và trường Ngoại Thương chúng ta cũng
không phải học phần mềm đó nên hầu hết các sinh viên được hỏi đều không biết phần
mềm SPSS. Gần phân nửa số sinh viên được khảo sát cho rằng khả năng thực hành
SPSS của họ ở mức “kém” ( chiếm 46.7% ). Cũng có tới 40% khẳng định rằng họ thực
hành SPSS chỉ ở mức “tàm tạm”. Và cũng chỉ có 8.9% số sinh viên được hỏi cho biết
khả năng thực hành phần mềm SPSS của họ ở mức “ khá ”. Rất ít trong số sinh viên
được khảo sát cho biết họ thực hành SPSS “tốt” ( chỉ có 4.4% ), số này có lẽ do muốn
làm bài khảo sát của mình tốt nhất nên đã tìm hiểu, nghiên cứu về SPSS. Cho nên khả
năng của họ là tốt cũng không có gì là ngạc nhiên. Ngược lại với những người có khả
môn “phương pháp nghiên cứu khoa học” chỉ rõ cách làm một đề tài như thế nào
nhưng đây là môn học đã học từ học kì trước cho nên nhiều sinh viên cũng không còn
nhớ trình tự để làm một đề tài như thế nào từ đó dẫn đến việc diễn đạt gặp khó khăn
Khó khăn thứ ba là do sinh viên không biết trọng tâm của đề tài mà họ làm và mục
đích chính mà họ muốn đưa ra từ việc khảo sát. Còn việc chèn biểu đồ thì chiếm tỉ lệ
thấp nhất cho thấy việc này cũng không gây khó khăn mấy cho sinh viên. Họ chỉ phân
vân giữa việc chèn bảng biểu hay biểu đồ ở vị trí nào cho thích hợp (thật ra việc chèn
biểu đồ không mấy khó khăn vì nó không đòi hỏi phải suy luận và phân tích nhiều. Nó
chỉ giúp cho người đọc biết được bao quát và tỷ lệ cụ thể của các câu trả lời).
14. Khó khăn chính gặp phải khi làm đề tài:
Bảng 15: Thống kê sinh viên về khó khăn chính gặp phải khi làm đề tài
Khó khăn khi làm đề tài Số sinh viên Tỷ lệ trong mẫu (%)
Không đủ tài liệu 20 22.22
Khác 0 0
Kiến thức không đầy đủ 27 30
Diễn đạt câu hỏi cho dễ hiểu 20 22.22
Đặt câu hỏi thu thập nhiều dữ liệu nhất 23 25.56
Tổng cộng 90 100
16
Khó khăn chính mà các nhóm làm đề tài gặp phải là có Kiến thức không đầy
đủ(chiếm 30%). Điều này phản ánh thực trạng của sinh viên,khi lần đầu làm thống kê
nên chưa có kinh nghiệm, trong quá trình học tập chưa thực sự chú tâm. Tiếp theo đó
là Đặt câu hỏi thu thập nhiều dữ liệu nhất(chiếm 25.56%). Đa phần sinh viên khi làm
bài tập thường rất khó để chọn ra câu hỏi tốt nhất,tối ưu nhất. Tiếp theo đó là Diễn đạt
câu hỏi cho dễ hiểu và Không đủ tài liệu (cùng chiếm 22.22%).
15. Đánh giá về mức độ tham gia của các bạn khác trong đề tài
Bảng 16: Thống kê về mức độ tham gia của các bạn khác trong đề tài:
Mức độ tham gia của các bạn khác trong
đề tài
Ta nhận thấy quá trình phân tích và trình bày dữ liệu là công đoạn khó
nhất(chiếm 33.34%). Dữ liệu có rất nhiều tuy nhiên việc chọn lọc lại không hề đơn
giản với đa số các bạn sinh viên. Tiếp theo là phần chọn đề tài(chiếm 30%),đề tài rất
rộng nên việc chọn đề tài hay dễ làm trong quá trình làm bài tập nhóm cũng hết sức
khó khan. Phần thu thập dữ liệu cũng là một thách thức đối với quá trình điều
tra(chiếm 24.44%). Phần được mọi người đánh giá dễ nhất là phần lập bảng câu
hỏi(chiếm 12.22%). Đây là phần cuối cùng là hệ quả của các phần trước nên tương đối
dễ hơn.
III. KẾT LUẬN
Đề tài “Khảo sát quá trình nghiên cứu, làm đề tài môn Nguyên lý thuyết Thống
kê của sinh viên khóa 49 trường Đại học Ngoại thương” đã đạt được những mục tiêu
nghiên cứu đề ra:
- Đưa ra cái nhìn tổng quát về các bước của một quá trình khảo sát.
- Chỉ ra cho sinh viên năm sau thấy được những thuận lợi cũng như khó khăn để
đạt được kết quả tốt hơn trong quá trình nghiên cứu.
Ngoài ra còn nghiên cứu một số mối liên quan giữa các phân đoạn thực hiện một
cuộc khảo sát với nhau. Giúp chúng ta biết được tại sao phân đoạn này lại khó, phân
đoạn này lại dễ.
Để đạt được những mục tiêu trên, nhóm cũng đã gặp không ít khó khăn trong
quá trình nghiên cứu.
Về chất lượng ghi phiếu: mặc dù đã bố trí thời gian thu thập số liệu là 10 ngày
nhưng chất lượng ghi phiếu vẫn còn hạn chế. Những vấn đề cần lưu ý là:
• Nhiều câu hỏi có hai dấu tích đáp án trả lời dẫn đến việc khó khăn khi
xác định câu trả lời.
18
• Nhiều bạn còn không trả lời bằng việc tích vào các ô đã cho sẵn mà tự ý
vẽ thêm các ô khác để tích vào mặc dù nhóm chúng tôi đã để sẵn một ô
có nội dung mang ý nghĩa là khác các đáp án khác để cho các bạn có thể
điền vào.
TRONG NHÓM
1. Lê Thị Phương Dung – Nhóm trưởng:
2. Nguyễn Thị Kim Phượng:
3. Mai Thùy Linh:
4. Trần Phương Thảo:
5. Phạm Văn Đoàn:
6. Bùi Duy Tùng:
Hà Nội, ngày 22/11/2011
Chữ kí các thành viên:
21