Trờng Đại học KINH Tế QuốC DÂN
TRầN QUYếT TIếN
Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty Cổ phần xây dựng
và thơng mại 423
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYễN TIếN DũNG
Hµ néi, 2013
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình
của PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng trong suốt quá trình viết và hoàn thành luận văn.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong Hội đồng khoa học
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, khoa Kế hoạch phát triển, Viện đào tạo Sau đại
học, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành
luận văn này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả
Trần Quyết Tiến
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi, có
sự hỗ trợ từ PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng hướng dẫn và những thầy cô trong
khoa Kế hoạch phát triển – trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân. Các nội dung
nghiên cứu và kết quả thể hiện trong luận văn này là trung thực và chưa từng
được công bố trong bất cứ công trình nào.
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giả
Trần Quyết Tiến
MỤC LỤC
1.3.1.2. LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG 22
1.3.1.2. TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 23
1.3.1.3. ĐẶC TÍNH CỦA SẢN PHẨM VÀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC TIÊU THỤ SẢN PHẨM 24
1.3.1.4. NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC ĐẢM BẢO NGUYÊN VẬT LIỆU 25
1.3.1.5. CƠ SỞ VẬT CHẤT, KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CỦA DOANH NGHIỆP 25
1.3.1.6. MÔI TRƯỜNG LÀM VIỆC TRONG DOANH NGHIỆP 26
1.3.2.1. Môi trường chính trị, luật pháp 28
1.3.2.2. Môi trường văn hoá xã hội 28
1.3.2.3. Môi trường kinh tế 29
1.3.2.4. Điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và cơ sở hạ tầng 29
1.3.2.5. Môi trường khoa học kỹ thuật công nghệ 30
1.3.2.6. NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG NGÀNH 30
* Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành 30
*Khả năng gia nhập mới của các doanh nghiệp 30
*Sản phẩm thay thế 31
*Người cung ứng 31
Trờng Đại học KINH Tế QuốC DÂN
TRầN QUYếT TIếN
Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty Cổ phần xây dựng
và thơng mại 423
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Hµ néi, 2013
TÓM TẮT LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1
KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
Chương 1, tác giả giới thiệu một số vấn đề liên quan đến hiệu quả sản xuất
7. Tổng chi phí quản lý doanh nghiệp
trong kỳ
i
* Các nhân tố ảnh hưởng đến đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
-Nhân tố thuộc về doanh nghiệp
- Nhân tố môi trường kinh doanh
- Nhân tố khách hàng
CHƯƠNG 2
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI 423
Chương 2, trên cơ sở lý luận chung về phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp tác giả tập trung nghiên cứu quá trình hình thành và
phát triển của Công ty cổ phần xây dựng và thương mại 423 chức năng nhiệm vụ,
cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty. Các yếu tố nguồn lực và các nhân tố
ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, Căn cứ vào hệ
thống báo cáo tài chính đã được kiểm toán năm 2008, 2009, 2010, 2011, 2012 đi
sâu phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty thông
qua việc tính toán, phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Doanh thu, lợi nhuận, các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả thanh toán.
Vấn đề trọng tâm của chương 2, tác giả đi sâu phân tích hiệu quả sản xuất
kinh doanh tại Công ty cổ phần xây dựng và thương mại 423 từ đó đưa ra các
đánh giá về kết quả đạt được cũng như những tồn tại đồng thời chỉ ra các nguyên
nhân của sự tồ tại đó.
1, Điểm mạnh:
- Là một Công ty đã có hơn 40 năm hoạt động trong ngành xây dựng, vì vậy
sau khi cổ phần Công ty được thừa hưởng kinh nghiệm cũng như thương hiệu đã
được khẳng định.
ii
- Vẫn là thành viên trực thuộc Tổng công ty XDCTGT 4 nên được lãnh đạo
của Tổng công ty khá quan tâm
vẫn còn thiếu so với năng lực thi công của Công ty.
- Hiệu quả sử dụng vốn vẫn còn thấp so với những đơn vị khác thuộc Tổng
công ty xây dựng công trình giao thông 4.
5, Nguyên nhân
- Một số cán bộ có năng lực, có mối quan hệ tốt với khách hàng đã đến tuổi
nghỉ hưu. Cán bộ trẻ tuy có năng lực nhưng các mối quan hệ của họ hạn chế.
- Các thủ tục hành chính rườm rà nên việc giải ngân vốn ngân sách còn rất
chậm so với khối lượng thực hiện dẫn đến tình trạng thi công cầm chừng, thiếu vốn,
nhiều chi phí phát sinh làm giảm lợi nhuận.
- Không huy động được nguồn vốn từ cổ đông vì vậy Công ty phải vay các
khoản vay tín dụng, lãi suất phát sinh lớn làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh.
Cũng vì thiếu vốn nên việc đổi mới đồng bộ máy móc thiết bị còn chậm làm cho
năng suất thấp.
- Công tác tiết kiệm chống thất thoát lãng phí chưa làm tốt, dẫn đến chi phí
sản xuất kinh doanh luôn chiếm một tỉ lệ khá lớn.
iv
CHƯƠNG 3
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI 423
Chương 3, tác giả làm rõ các căn cứ định hướng, mục tiêu của định
hướng từ đó đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
tại Công ty cổ phần xây dựng và thương mại 423.
1, Các căn cứ để định hướng.
- Chiến lược kinh doanh của Công ty sau khi được cổ phần.
- Căn cứ vào sự đánh giá về tiềm năng và xu hướng phát triển của ngành
xây dựng và thương mại trên địa bàn
- Căn cứ vào kết quả kinh doanh mà Công ty đã đạt được trong những năm
vừa qua
2, Mục tiêu định hướng:
Tăng quy mô sản xuất cho Công ty, mở rộng thị trường đồng thời nâng cao
TRầN QUYếT TIếN
Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty Cổ phần xây dựng
và thơng mại 423
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYễN TIếN DũNG
Hµ néi, 2013
ii
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh
trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất và các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được
các mục tiêu với kết quả cao nhất trong điều kiện chi phí thấp nhất. Hiệu quả sản
xuất kinh doanh sẽ góp phần vào mục tiêu nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Như vậy nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng có nghĩa nâng cao lợi
nhuận. Đây là mục tiêu cuối cùng và cũng là mục tiêu quan trọng nhất của mỗi
doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh vì: Nâng cao lợi
nhuận sẽ góp phần duy trì và bổ sung thêm nguồn vốn cho các doanh nghiệp, đồng
thời tăng thu nhập cho người lao động, đảm bảo quyền lợi cổ tức cho các cổ đông.
Về mặt xã hội, doanh nghiệp hoạt động hiệu quả sẽ góp phần vào việc tăng trưởng
kinh tế, giải quyết được việc làm cho người lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp qua đó
hạn chế được các tệ nạn xã hội.
Với những lợi ích to lớn đối với doanh nghiệp cũng như đóng góp cho xã hội
khi mà hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng lên. Có thể nói hiệu quả sản xuất
kinh doanh là vấn đề mà mỗi doanh nghiệp đều rất quan tâm, và rất cần thiết phải
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Là một doanh nghiệp được thành lập và có
hơn 40 năm hoạt động trong ngành xây dựng công trình. Công ty Cổ phẩn xây dựng
và thương mại 423 đã có nhiều đóng góp trong việc phát triển về cơ cở hạ tầng của
Phạm vi nghiên cứu: Phân tích, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của
Công ty cổ phần xây dựng và thương mại 423 thông qua nguồn số liệu báo cáo
tài chính năm 2008, 2009, 2010, 2011, 2012.
5. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 3 chương
Chương 1 : Khung lý thuyết nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Chương 2: Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty Cổ phần xây
dựng và thương mại 423
Chương 3: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh công ty Cổ phần xây xây
dựng và thương mại 423
2
CHƯƠNG 1
KHUNG LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm, bản chất của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
Trong cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước hiện nay để thực hiện
tốt chế độ hoạch toán kinh tế, bảo đảm lấy thu bù chi và có lãi trong hoạt động
sản xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ, là cơ sở để thị trường tồn tại và phát
triển của mỗi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh
gay gắt. Điều này đòi hỏi các thành phần kinh tế các doanh nghiệp hoạt động
kinh doanh phải có hiệu quả.
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện và tồn tại từ xã hội chiếm
hữu nô lệ đến xã hội chủ nghĩa. Hiệu quả được coi là khái niệm dùng để chỉ mối
quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí chủ
thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định. Hiệu quả kinh doanh
thể hiện trình độ sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doanh theo một mục đích nhất định.
quả được đồng nhất với chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh. Rõ ràng quan điểm
này khó giải thích kết quả sản xuất kinh doanh có thể dùng cho chi phí mở rộng
sử dụng các nguồn sản xuất, nếu cùng một mức kết quả với hai mức chi phí khác
nhau thì theo quan điểm này chúng đều có hiệu quả.
Quan điểm thứ hai Theo quan điểm này cho rằng “hiệu quả kinh doanh là tỷ
lệ so sánh giữa phần tăng thêm của chi phí”. Quan điểm này biểu hiện quan hệ so
sánh tương đối giữa kết quả và chi phí để đạt được kết quả đó. Quan điểm này có
ưu điểm là bám sát được mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không
4
ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân. Nhưng khó khăn ở
đây là phương tiện để đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó.
Quan điểm thứ ba: Hiệu quả kinh tế được đo bằng kết quả hiệu số giữa kết
quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Ưu điểm của quan điểm này
là nó phản ảnh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế. Nó đã gắn được
hiệu quả với toàn bộ chi phí, coi việc kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng
các chi phí. Tuy nhiên, nó vẫn chưa biểu hiện được tương quan về chất và lượng
giữa kết quả và chi phí, chưa phản ánh hết mức độ chặt chẽ của mối quan hệ này.
Để phản ảnh được tình hình sử dụng các nguồn nhân lực thì cần phải cố định một
trong 2 yếu tố hoặc là kết quả hoặc là chi phí bỏ ra. Nhưng theo quan điểm của
chủ nghĩa Mac-Lênin thì các yếu tố này luôn biến động, vì vậy khi xem xét hiệu
quả của một quá trình kinh tế nào đó, phải xem xét trong trạng thái động.
Quan điểm thứ tư Theo quan điểm này các nhà kinh tế học của chủ nghĩa
Mac-Lênin cho rằng: Hiệu quả kinh tế là mức độ thoả mãn yêu cầu của quy luật
kinh tế cơ bản xã hội chủ nghĩa. Quỹ tiêu dùng với tư cách là chi tiêu đại diện
cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả
kinh doanh. Quan điểm này có ưu điểm là đã bám sát mục tiêu của nền sản xuất
xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân. Song khó khăn là phương tiện đo lường thể hiện tư tưởng định hướng
đó. Khái niệm quỹ tiêu dùng được đề cập ở đây là một bộ phận của thu nhập
quốc dân, bộ phận còn lại là tích luỹ.
bán thành phẩm.
Trong khi đó, hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực
sản xuất. Trình độ sử dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hay
giá trị mà là phạm trù tương đối, nó được tính bằng tỷ số giữa kết quả và hao phí
nguồn lực. Chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số tuyệt đối, phạm trù này chỉ
phản ánh mức độ đạt được về một mặt nào đó nên cũng mang bản chất của kết quả
của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và không bao giờ phản ánh được trình
6
độ sử dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất,
kinh doanh thì hiệu quả là phương tiện để đạt được mục tiêu đó.
Hiệu quả kinh doanh của việc thực hiện mỗi quyết định thường gắn với các
yếu tố xã hội được biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ
ra. Nếu xét về định lượng, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi nào kết quả
lớn hơn chi phí, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Song khi đánh giá
về mặt định tính cần phải xem xét nó với các yếu tố chính trị, xã hội như; nạn thất
nghiệp, bảo vệ môi trường, ổn định chính trị, an ninh, an toàn Vậy hiệu quả kinh
doanh cũng thực sự đòi hỏi cần sự nỗ lực của các cấp quản trị trong quá trình giải
quyết những yêu cầu thực tiễn.
Hai mặt định tính và định lượng của phạm trù hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong những biểu hiện về mặt định lượng
phải nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế nhất định. Trong những biểu hiện về
mặt định tính phải đạt được những mục tiêu xã hội, chính trị, an ninh. Do vậy xem
xét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp theo các nhân tố định lượng và định tính
theo quan điểm này tương đối toàn diện.
Từ khái niệm chung về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp ta thấy khi thiết lập mối quan hệ giữa “đầu vào (lao động, máy móc thiết bị,
nguyên vật liệu, tiền vốn…)’’ và “đầu ra ( sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho xã hội
doanh nghiệp phải tiêu thụ được và thu tiền về.)” sẽ có một dãy các hệ thống giá trị
khác nhau phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
số của chỉ tiêu thường thông qua số tuyệt đối. Kết quả kinh doanh là những chỉ tiêu
mang tính chất định lượng có thể là cân, đong, đo, đếm được và cũng có thể là một
khối lượng công việc hoàn thành, số lượng sản phẩm tiêu thụ của mỗi loại, thị phần
hoặc doanh thu bán hàng, lợi nhuận, Trong các chỉ tiêu kết quả này chỉ có lợi
nhuận là kết quả cuối cùng còn các chỉ tiêu sản lượng, doanh thu chỉ là kết quả
trung gian.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về hiệu quả kinh doanh, các nhà khoa học
đã trình bày quan điểm khác nhau khi đánh giá hiệu quả kinh doanh. Theo các quan
điểm ở trên thì mục đích cuối cùng của hiệu quả kinh doanh so sánh giữa kết quả
thu về và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Tuy nhiên nếu xét hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp trong kỳ cao hay thấp, tốt hay xấu còn phụ thuộc vào trình
độ tổ chức sản xuất và trình độ quản lý hay cụ thể hơn chính là khả năng điều phối
các nguồn lực đầu vào của mỗi doanh nghiệp để đạt được mục tiêu. Mặc dù hiệu
quả kinh doanh có thể xem xét thông qua một hay một vài chỉ tiêu nhưng bản chất
8