Môn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế tham gia các hoạt động sản xuất kinh
doanh, nhằm cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của thị trường và thu
về cho mình một khoản lợi nhuận nhất định. Mỗi doanh nghiệp là một hệ thống có
mối quan hệ chặt chẽ với môi trường bên ngoài và có cấu trúc bên trong gồm nhiều
phân hệ khác nhau. Để thực hiện mục tiêu của mình, mỗi doanh nghiệp phải tổ chức
tốt các bộ phận cấu thành nhằm thực hiện những chức năng cơ bản. Sản xuất là một
trong những phân hệ chính có ý nghĩa quyết định đến việc tạo ra sản phẩm hoặc cung
cấp dịch vụ là chức năng nhiệm vụ cơ bản của từng doanh nghiệp. Quản trị sản xuất là
quá trình thiết kế, hoạch định, tổ chức điều hành và kiểm tra theo dõi hệ thống sản
xuất nhằm thực hiện những mục tiêu sản xuất đề ra.
Khoa học về quản trị sản xuất và dịch vụ phát triển liên tục nhanh chóng cùng
với việc phát triển của khoa học công nghệ . Trong hệ thống sản xuất không thể không
nhắc đến vai trò của người quản lý trong sản xuất trong đó đề cao đến các kỹ năng của
người quản lý trong sản xuất. Trong đó đề cao đến các kỹ năng của người quản lý như
kỹ năng kỹ thuật, nhân sự…
Cùng với việc đổi mới hoàn thiện phong cách kinh doanh thì công tác tổ chức
sản xuất tại các doanh nghiệp cũng phải đổi mới và hoàn thiện sao cho phù hợp. Đồng
thời việc xác định chính xác kết quả tiêu thụ nói riêng và kết quả doanh thu tiêu thụ
nói chung là một vấn đề đặc biệt quan trọng vì đó chính là kết quả sản xuất kinh
doanh của toàn doanh nghiệp.
Áp dụng kiến thức thực tế đã học trong môn học vào doanh nghiệp em xin trình
bày “Một số biện pháp quản trị tác nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của công ty cổ phần xây dựng và thương mại Gia Nguyễn”.
1
Môn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ QUẢN TRỊ
SẢN XUẤT VÀ TÁC NGHIỆP
1.1. Công tác dự báo trong doanh nghiệp
Dự báo là một phần quan trọng trong hoạch định để định hướng tương lai cho
hạn của các giai đoạn. Điều này rất quan trọng vì vốn đầu tư vào máy móc, thiết bị,
khoa học nhà xưởng rất lớn. Hiệu quả hoạt động phụ thuộc vào năng lực của phương
tiện sản xuất.
1.3. Bố trí mặt bằng sản xuất và dịch vụ
Bố trí mặt bằng sản xuất và dịch vụ là sắp xếp các loại máy móc, vật dụng,
khu vực sản xuất của công nhân, khu vực phục vụ khách hàng, khu chứa nguyên vật
liệu, văn phòng làm việc. Bố trí mặt bằng sản xuất cần quan tâm đến việc tối thiểu
hoá chi phí vận chuyển, chi phí sản xuất và tồn trữ nguyên vật liệu trong hệ thống
sản xuất. Có nhiều cách bố trí sản xuất như bố trí theo quá trình, bố trí theo sản phẩm
và bố trí theo năng lực sản xuất.
Bố trí mặt bằng sản xuất cần quan tâm đến việc tối thiểu hoá chi phí vận
chuyển, chi phí sản xuất và tồn trữ nguyên vật liệu trong hệ thống sản xuất. có nhiều
cách bố trí mặt bằng sản xuất như bố trí theo quá trình, bố trí theo sản phẩm và bố trí
theo khu vực sản xuất. Các cách bố trí này đều mang lại cho hệ thống sản xuất tính
linh họat cao, ít bị gián đoạn, chi phí bảo dưỡng thấp và tăng năng suất lao động,
chuyên môn hoá cao, dễ dàng hạch toán và kiểm tra chất lượng
1.4. Hoạch định tổng hợp
Đối tượng chính của hoạch định tổng hợp chính là sự thay đổi khả năng sản
xuất của một hệ thống cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ cho thị trường. Khả năng của
hệ thống này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khả năng sản xuất của thiết bị, khả
năng sản xuất của lượng lao động, khả năng làm thêm giờ…
3
Môn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
Mục tiêu của hoạch định tổng hợp là phát triển kế hoạch sản xuất, đảm bảo sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực, tối thiểu hoá các chi phí.
Xây dựng lịch trình sản xuất để xác định khối lượng sản phẩm cần hoàn thành
trong từng thời điểm của kế họach để tránh quá tải đối với những phương tiện sản
xuất để giảm chi phí sản xuất, hoàn tất hợp đồng đã kí kết
Việc xác định mặt hàng phụ thuộc trong quá trình sản xuất gọi là phương pháp
hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu bao gồm các công việc như phân tích kết cấu sản
nhuận sau thuế đạt khoảng hơn 4 tỷ đồng và nộp thuế cho nhà nước hơn 1 tỷ đồng.
2.1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
5
Môn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
Với dây chuyền sản xuất đồng bộ, hiện đại, công nghệ được chuyển giao
của hãng Chugoku Marine Paint (CMP) Nhật Bản – một trong những hãng sơn hàng
đầu thế giới, Công ty cổ phần xây dựng và thương mại Gia Nguyễn đã cho ra đời
trên 120 loại sơn phục vụ cho các lĩch vực như : tàu biển, công trình biển, công
nghiệp, công trình xây dựng, giao thông vận tải và dân dụng để đáp ứng nhu cầu
trong và ngoài nước.
Sản phẩm chính của Công ty là các loại sơn cao cấp, chủ yếu được sản xuất
theo đơn đặt hàng nên đòi hỏi tiêu chuẩn chất lượng khá cao, sản xuất phải theo đúng
đơn đặt hàng của khách hàng.Các loại sản phẩm này có tính năng sử dụng như: Bền
thời tiết, chịu va đập,chịu mài mòn, chịu hóa chất Số lượng sản phẩm sản xuất
hàng tháng nhiều hay ít hoàn toàn phụ thuộc vào các đơn đặt hàng của khách hàng
thông qua các hợp đồng kinh tế. Với mặt hàng chủ yếu là sản phẩm sơn, nguyên vật
liệu nhập ngoại từ các nước như: Nhật Bản, Mỹ, Hà Lan, Bỉ chiếm 90% nên chất
lượng sản phẩm tốt và đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, được khách hàng trong và
ngoài nước tín nhiệm.
QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT SƠN NHƯ SAU:
6
Chất tạo màng
Muối sơnNghiềnPhaĐóng
Bột màu Bột phụ trợ Phụ gia
Môn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
2.1.3 ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ.
Xuất phát từ điều kiện kinh tế, nhằm đảm bảo sản xuất có hiệu quả và quản
lý tốt quá trình sản xuất nên bộ máy quản lý của Công ty được chỉ đạo trực tiếp đến
từng phòng ban, phân xưởng.
SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY
TP.HCM
Phòng
tiêu thụ
Phòng
KH
VT
Phòng
tài
vụ
Môn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
- Giám đốc: Chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động điều hành quyết định
chiến lược kinh doanh của Công ty.
- Các phó giám đốc: Có trách nhiệm giúp việc cho Tổng giám đốc và chỉ đạo
các bộ phận được Tổng giám đốc uỷ quyền.
8
Môn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
- Các phòng ban chức năng: Tham mưu cho Tổng giám đốc trong công tác tổ
chức và quản lý sản xuất kinh doanh.
Các phòng ban của Công ty bao gồm: Phòng tổ chức hành chính, Phòng QA,
Phòng kỹ thuật thí nghiệm, Phòng market dịch vụ kỹ thuật, Phòng tiêu thụ, Phòng
Kế hoạch vật tư; Phòng Tài vụ. Được chuyên môn hoá theo các chức năng quản trị,
tham mưu giúp việc cho Giám đốc quản lý và điều hành công việc của Công ty trong
việc chuẩn bị các quyết định, theo dõi hướng dẫn các nhân viên cấp dưới thực hiện
đúng đắn, kịp thời các quyết định quản lý.
- Các phòng ban có nhiệm vụ như sau:
+ Phòng Tổ chức hành chính: tham mưu, giúp việc cho Giám đốc trong
lĩnh vực quản lý nhân sự, sắp xếp cải tiến tổ chức quản lý, bồi dưỡng đào tạo tay
nghề cho người lao động, thực hiện chức năng lao động tiền lương và quản lý hành
chính văn phòng của Công ty.
+ Phòng QA: tham mưu, giúp việc cho Giám đốc trong lĩnh vực thiết kế,
sản phẩm, bán lẻ theo nhu cầu của người tiêu dùng. Do vậy, công ty cũng vẫn cần có
lượng sản phẩm sản xuất để dự trữ. Đây là rất quan trọng, nếu sản xuất ít thì không
đủ hàng để bán sẽ gây giảm lợi nhuận còn nếu sản xuất nhiều quá so với nhu cầu
thực tế thì sẽ gây ứ đọng vốn. Việc dự báo nhu cầu dự trữ lúc này sẽ vô cùng quan
trọng, muốn làm được điều này thì công ty lại phải dựa vào kiến thức dự báo theo
phương pháp bình quân di động giản đơn của quản trị sản xuất và tác nghiệp. Chúng
ta hãy cũng đi nghiên cứu xem công ty sẽ dự báo số xe cần nhập theo nhu cầu của
tháng.
10
Môn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
Theo số liệu đã thống kê được của công ty từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2010
về số thùng tiêu thụ được như sau:
11
Môn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
Thời gian ban đầu công ty có sử dụng cả hai cách dự báo là theo bình quân di
động là 2 tháng và 4 tháng. Ta được bảng như sau:
Qua bảng tính toán ta thấy rằng MAD theo 4 tháng sẽ cho độ lệch là nhỏ nhất
nên công ty sử dụng cách tính bình quân di động theo 4 tháng để dự báo nhu cầu cho
tháng 1 năm tới.
Số thùng sơn sẽ được sản xuất dự trữ cho tháng tới là:
119 + 123 + 125 + 121
= 122 nghìn thùng
4
12
Môn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
2.2.2 Điều độ sản xuất trong doanh nghiệp
Sau khi dự báo được lượng thùng sơn sẽ sản xuất dự trữ cho tháng tới thì
doanh nghiệp sẽ tiến hành tổ chức, chỉ đạo triển khai hệ thống tổ chức sản xuất đã
được thiết kế. Do đặc điểm của công ty là sản xuất với một khối lượng lớn đòi hỏi có
dây chuyền công nghệ, sản phẩm và thiết bị phải được tiêu chuẩn hóa cao, các hoạt
Dự báo 30 30 30 30 40 40 40 40
Đơn hàng 22 30 45 34 17 20 35 -
Dự trữ kế
hoạch hiện
có
120 90 45 11 21 31 41
Thời điểm
sản xuất
50 50
Dự trữ hứa
hẹn sẵn có
dự kiến
19 33 30
Bảng trên được lập như sau:
Tại tuần đầu tiên:
- Số lượng dự trữ kế hoạch hiện có = Dự trữ đầu kỳ - Max{Đh; Db}
= 150 – 30 = 120
- Ta thấy rằng đến tuần thứ 4, lượng dự trữ kế hoạch hiện có chỉ còn có
11 nghìn thùng, như vậy không thể đủ cung cấp cho đơn hàng cũng
như đảm bảo lượng dự trữ phải có theo dự báo, do vậy tuần thứ 5 bắt
đầu phải tiến hành sản xuất. Do vậy khối lượng các đơn đặt hàng từ
tuần đầu tiên đến tuần bắt đầu sản xuất chính là tuần số 4.
Dự trữ hứa hẹn sẵn có dự kiến = Dự trữ đầu kỳ - Khối lượng các đơn đặt hàng
từ tuần đó đến tuần bắt đầu sản xuất
14
Môn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
= 150 – (22 + 30 + 45 + 34) = 19
- Dự trữ kế hoạch hiện có tuần 2 = 120 - Max{30; 30}
= 120 – 30 = 90
- Dự trữ kế hoạch hiện có tuần 3 = 90 - Max{30; 45}
thùng
Chi phí vận chuyển: 10
6
đồng/10
3
thùng
Qua số liệu trên, nếu chỉ thống kê như vậy ta vẫn chưa thể biết được
việc sắp xếp như vậy của công ty đã là tối ưu hay chưa? Việc kiểm tra này chỉ có thể
dựa vào cách giải của bài toán vận tải để kiểm tra và nếu chưa tối ưu thì phải tiến
hành điểu chỉnh.
Trước hết ta tiến hành kiểm tra mức độ tối ưu của cách đặt địa điểm cũng như
lượng hàng.
Ta có bảng như sau:
16
Môn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
Thu
Phát
HP (100) HD (20) QN (50) HN (140)
ĐBP (50) 5 = C
11
12 = C
12
x
2 = C
13
x
11 = C
14
x
TH (70) 10 = C
44
Bảng trên được lập bằng cách:
- Ở ô cước phí nhỏ nhất là 1, phân cho ô này một lượng hàng lớn nhất mà
nó có thể đảm nhận, vậy lượng hàng ở ô này có thể là 50, lúc này ô C
13
;C
23
; C
43
đều
không thể có hàng được nữa nên được đánh dấu x.
- Tương tự, ô cước phí nhỏ tiếp theo là ô C
42
có cước phí là 3, lượng hàng
ở ô này có thể đảm nhận là 20, do vậy các ô C
12
;C
22
;C
32
đều không thể có hàng được
nữa nên được đánh dấu x.
- Cứ lập luận như vậy ta sẽ có các ô có đóng khung là có hàng.
- Chi phí vận chuyển theo phương án này là:-
Z
0
= 50x5 + 50x1 + 20x13 + 50x7 + 30x14 + 20x3 + 90x12 = 2.470
17
50
20
Ta có bảng như sau:
Ta có hệ phương trình như sau:
{
1.406 12 78
9.428 78 650
a b
a b
= +
= +
a = 104,03
b = 2,02
-> ta có phương trình:
Y
t
= 104,03 + 2,02t
Như vậy, lượng hàng cần dự trữ của tháng 13 (tức tháng 1 năm tới) là:
Y
13
= 104,03 + 2,02x13 = 130,29 (nghìn thùng)
19
Môn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
Dự báo như trên sẽ sự dụng số liệu của cả 12 tháng trong năm. Hiện nay đây là
phương pháp hay được sử dụng.
3.2 Điều độ sản xuất trong doanh nghiệp
Quá trình sản xuất muốn hoạt động một cách trôi chảy thì doanh nghiệp cần
phải có một kế hoạch cụ thể. Việc lập lịch trình sản xuất của doanh nghiệp đã khá là
hợp lý và phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp. Trong phần lập lịch trình
thì doanh nghiệp không cần phải có sự điều chỉnh nào.
3.3. Xác định cách vận chuyển lợi nhất
Từ bảng đã lập được ở phần thực trạng, ta sẽ kiểm tra xem phương pháp vận
4 = C
32
x
15 = C
33
x
14 = C
34
TKD
(110)
9 = C
41
x
3 = C
42
16 = C
43
x
12 = C
44
- Kiểm tra tính hợp lý bằng cách: ta thấy m+n = 4 +4 = 8, như vậy sẽ có 8 -1= 7 ô có
hàng, như vậy có thể chuyển sang bước tiếp theo.
20
50
20
90
30
50
50
20
11 = C
14
1
TH (70) 10 = C
21
x
8 = C
22
x
1 = C
23
13 = C
24
2
TC (80) 7 = C
31
4 = C
32
x
15 = C
33
x
14 = C
34
0
TKD
(110)
9 = C
41
x
3
= 2
V
4
+ U
3
= C
34
= 14 -> V
4
= 12
V
4
+ U
4
= C
44
= 12 -> U
4
=0
V
4
+ U
2
= C
24
= 13 -> U
2
=1
V
Theo như điều kiện trên, thử trong bảng ta thấy tại ô C
14
= 11 > 12, đây là ô
chưa thỏa mãn điều kiện, do vậy phương án là chưa tối ưu, cần phải tiến hành điều
chỉnh.
- Lấy ô C
14
làm ô điều chỉnh, ta có vòng điều chỉnh được xác định như
sau:
Thu
Phát
HP (100) HD (20) QN (50) HN (140)
ĐBP (50) 5 = C
11
12 = C
12
x
2 = C
13
x
11 = C
14
x
TH (70) 10 = C
21
x
8 = C
22
x
1 = C
31
; C
11.
Lượng điều chỉnh q = min {30,50} = 30.
Thêm vào ô lẻ thuộc vòng điều chỉnh một lượng hàng q = 30 và bớt đi từ các ô
chẵn một lượng hàng q = 30. Ta có bảng mới như sau:
Thu
Phát
HP (100) HD (20) QN (50) HN (140)
ĐBP (50) 5 = C
11
12 = C
12
x
2 = C
13
x
11 = C
14
x
TH (70) 10 = C
21
x
8 = C
22
x
1 = C
23
13 = C
24
20
20
90
x
80
50
20
30
Môn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
Tương tự như trên, ta cũng kiểm tra bằng cách sử dụng thế vị hàng và thế vị cột.
- Ta có bảng sau:
V
j
U
i
5 2 -1 11
Thu
Phát
HP (100) HD (20) QN (50) HN (140)
0
ĐBP (50) 5 = C
11
12 = C
12
x
2 = C
13
x
11 = C
14
42
16 = C
43
x
12 = C
44
U
i
; V
j
được xác định bằng cách:
U
1
= 0, U
1
+ V
1
= C
11
= 5 -> V
1
= 5
U
1
+ V
4
= C
14
= 11 -> V
4
+ U
4
= C
42
= 3 -> V
2
=2
V
4
+ U
2
= C
24
= 13 -> U
2
=1
V
3
+ U
2
= C
23
= 1 -> V
3
=-1
- Kiểm tra các ô loại bằng cách sử dụng các giá trị U
i
; V
j
, ta thấy các ô
Từ cách bố trí này ta thấy rằng nếu làm việc theo cảm quan thì sẽ làm cho
doanh nghiệp tăng chi phí vận chuyển là 2.470 tỷ đồng.
Thông qua quá trình quản trị sản xuất và tác nghiệp, chúng ta có thể thấy cách
bố trí của doanh nghiệp vẫn chưa thực sự là hợp lý, chúng ta có thể tìm được phương
án tối ưu hơn giúp cho doanh nghiệp có thể giảm thiểu tối đa chi phí vận chuyển (tiết
kiệm được 30 triệu đồng). Qua đấy ta mới thấy được tầm quan trọng của môn học
cũng như ứng dụng của nó trong thực tế.
24
Môn: Quản trị sản xuất và tác nghiệp
KẾT LUẬN
Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng đổi
mới và tự hoàn thiện mình để có thể phát huy được tính chủ động sáng tạo trong sản
xuất kinh doanh để đảm bảo sự phát triển của doanh nghiệp đồng thời góp phần thúc
đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Đối với các doanh nghiệp hoạt động
sản xuất kinh doanh nói chung cũng như ở công ty cổ phần xây dựng và thương mại
Gia Nguyễn nói riêng thì việc hoạch định và tổ chức sản xuất kinh doanh ngày phải
được hoàn thiện.
Ta thấy doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất gồm ba phân hệ cơ bản là
quản trị tài chính, quản trị sản xuất và quản trị Marketing. Trong các hoạt động trên
thì sản xuất được coi là khâu quyết định tạo ra sản phẩm và giá trị gia tăng. Quá trình
sản xuất có tốt thì mới có thể tiết kiệm được các nguồn lực cần thiết trong sản xuất,
giảm giá thành, tăng năng suất và hiệu quả của doanh nghiệp nói chung.
Nhờ những kiến thức của môn quản trị sản xuất và tác nghiệp, ta có thế phát
hiện ra những điểm chưa hợp lý trong hoạt động dự báo cũng như trong quá trình
vận chuyển của doanh nghiệp. Những đề xuất, phương án đưa ra giúp cho doanh
nghiệp hoạt động dự báo tốt hơn và tiết kiệm chi phí vận chuyển tới mức thấp nhất.
Như vậy, công ty cần có sự áp dụng nhiều hơn kiến thức của môn này vào trong quá
trình sản xuất kinh doanh của mình nhằm giúp cho hoạt động của công ty ngày một
hiệu quả hơn.
25