MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với nông nghiệp, công nghiệp, môi
trường và sinh hoạt ở các khu dân cư. Mặc dù vậy do nước ngọt ngày càng trở nên
khan hiếm, quản lý tưới không hợp lý và suy thoái môi trường đã và đang là thách
thức lớn đối với nhiều vùng và thậm chí đối với nhiều quốc gia. Sự gia tăng về dân
số, về nhu cầu và chất lượng cuộc sống cụ thể về sản phẩm nông nghiệp và công
nghiệp trong tương lai hướng tới sự cạnh tranh khốc liệt hơn trong sử dụng tài
nguyên đất và nước. Vì vậy cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống thủy nông là
rất cần thiết để khai thác hết tiềm năng về nông nghiệp và tạo cơ hội phát triển kinh
tế, xã hội một cách bền vững.
Hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải được xây dựng từ năm 1958, là một trong
những hệ thống thủy lợi lớn nhất đồng bằng bắc bộ nước ta với diện tích 185.860ha
bao gồm đất đai của 4 tỉnh thành phố: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương và Bắc Ninh.
Hệ thống được bao bọc bởi 4con sông lớn: Sông Hồng, sông Đuống, sụng Thỏi
Bỡnh và sông Luộc.
Lợi ích của hệ thống có thể còn giá trị mãi mãi về sau, nhưng do sự thay đổi
hơn 50 năm qua cùng với một số tác động của tự nhiên và xã hội như: sự chi phối
mạnh mẽ của dòng chảy do các yêu cầu về tưới tiêu cũng đa dạng vì thay đổi cơ cấu
cây trồng, quá trình công nghiệp hóa lại diễn ra một cách nhanh chóng, sự biến đổi
có tính cực đoan của khí hậu,…. Làm cho hệ thống trở lên bất cập, các công trình
có nguy cơ bị xuống cấp ảnh hưởng tới năng lực phục vụ của hệ thống , cần thiết có
sự đánh giá một cách chính xác, khoa học và toàn diện về hiệu quả của các công
trình từ đầu mối tới mặt ruộng thông qua hệ thống chỉ tiêu để đưa ra các biện pháp
khai thác quản lý hệ thống công trình thích hợp nhất nhằm nâng cao năng lực phục
vụ và phát huy tối đa lợi ích mang lại của hệ thống lợi đối với khu vực rộng lớn
giàu tiềm năng nông nghiệp này. Vì vậy trong luận văn này tôi muốn đề cập tới vấn
đề đó qua đề tài:
“ Nghiên cứu, đề xuất các chỉ tiêu đánh giá hiệu qủa hệ thống thuỷ lợi
Bắc Hưng Hải ”.
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
nhu cầu lương thực, thuỷ lợi được coi như là một biện pháp quan trọng hàng đầu.
Trong gần 4 thập kỷ qua, tưới nước được quan tâm đáng kể, diện tích tưới trên thế
giới ngày càng được mở rộng:
- Năm 1950 diện tích tưới đạt 96 triệu ha;
- Năm 1989 diện tích tưới đạt 233 triệu ha;
- Năm 1990 diện tích tưới đạt 260 triệu ha;
- Năm 2000 diện tích tưới đạt xấp xỉ 300 triệu ha.
Như vậy trong vòng 50 năm diện tích tưới trên thế giới đã tăng hơn 300%.
Cũng theo số liệu của FAO, 73% diện tích tưới trên thế giới là của các nước đang
phát triển (trong đó có Việt nam). Tuy nhiên, diện tích được tưới này mới chỉ chiếm
21% đất trồng trọt của các nước này.
Châu Á cũng là châu lục phát triển tưới lớn nhất trên thế giới, chiếm khoảng
50% diện tích tưới toàn thế giới. Sự phát triển tưới ở các nước Châu á Thái Bình
Dương thể hiện ở bảng 1-1.
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
3
Bảng 1.1: Phát triển tưới ở Châu Á Thái Bình Dương (Đơn vị 1000 ha)
T Tên các nước 1965 1970 1975 1980 1985 1990
Các nước đang
phát triển:
1 Bangladesh 572 1.058 1.335 1.639 2.073 2.933
2 Bhutan 34
3 China 38.250 40.478 42.665 45.388 44.461 47.837
4 Dem.Kampucha 753 89 89 89 90 92
5 DPR.Korea 500 500 900 900 1.070 1.420
6 Fiji 1 1 1 1
7 India 26.510 30.420 33.590 39.350 43.150 43.050
8 Indonesia 4.150 4.280 4.855 5.418 7.059 7.600
9 Iran 4.900 5.200 5.913 4.968 5.740 5.750
10 Laos 15 17 42 115 119 122
Các hệ thống tưới được phân loại thành quy mô lớn, quy mô vừa và nhỏ.
Tiêu chuẩn phân loại có nơi dựa vào vốn đầu tư xây dựng công trình, có nơi dựa
vào diện tích tưới thiết kế của công trình. Có công trình tưới chỉ đơn thuần phục vụ
tưới, có công trình có thể phục vụ đa mục tiêu như tưới, cấp nước sinh hoạt, vận tải
thuỷ, thuỷ sản, phát điện, phòng chống lũ và du lịch. Nhưng đều có điểm chung
giống nhau là cấp nước tưới cho nông nghiệp. Việc tăng sử dụng nước cho sản xuất
nông nghiệp trong thời gian vừa qua đã đưa ra kết luận về việc đầu tư một cách
chiến lược là không chỉ tập trung vào cơ sở hạ tầng của hệ thống tưới, mà cả trong
nghiên cứu nông nghiệp và khuyến nông. Để đáp ứng những thách thức trong tương
lai, đầu tư cho nông nghiệp phải được xem xét lại và khuyến khích chiến lược trọn
gói bao gồm nghiên cứu, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng lực cho
những người sử dụng nước, và đẩy mạnh thương mại nông nghiệp trên toàn cầu.
Chính vì vậy mà trong tất cả các chiến lược phát triển thủy lợi đều nhận thấy xu
hướng đảm bảo phát triển bền vững.
1.1.2. Quản lý hệ thống thuỷ nông và hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông.
1.1.2.1.Quản lý hệ thống thuỷ nông:
Có nhiều ý kiến đưa ra các định nghĩa khác nhau về quản lý hoạt động của hệ
thống thuỷ nông, song định nghĩa được nhiều người nhắc tới là: “Quản lý hoạt động
của hệ thống thuỷ nông là quá trình mà tổ chức hoặc cá nhân đưa ra các mục tiêu
cho một hệ thống thuỷ nông, từ đó thiết lập nờn cỏc điều kiện thích hợp, huy động
các nguồn lực khác nhau để đạt mục tiêu đã đề ra mà không gây ra những tác động
xấu nào”. Các kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng đối với quản lý hệ thống
thủy nông phải coi trọng cả 2 yếu tố là nội dung và phương pháp. Nội dung của
công tác quản lý thủy nông được coi như chất liệu tạo nên sự bền vững về mặt vật
chất, còn phương pháp để thực hiện các nội dung đó được coi là công nghệ tạo lên
sản phẩm đó.
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
5
Theo tiến sĩ Mark Svedsen – Viện Quản lý nước Quốc tế (IWMI) “ Không có
một bộ phận nào của công trình hạ tầng bảo đảm chức năng làm việc quá một vài
phí để chi cho công tác quản lý và duy tu bảo dưỡng công trình. Chính vì vậy mà cơ
sở hạ tầng của các hệ thống thuỷ lợi càng ngày càng bị xuống cấp, và dẫn đến hiệu
quả tưới ngày càng giảm đi. Ngân hàng Thế giới, các ngân hàng phát triển khác và
một số nước đã đầu tư xây dựng nhiều hệ thống thuỷ lợi lớn. Xuất phát từ hiện trạng
hoạt động của các hệ thống, có nhiều ý kiến đối lập nhau về việc cú nờn đầu tư
thêm cho các hệ thống thuỷ lợi mới hay không. Ai cũng nhận thấy sự cần thiết phải
đầu tư nhiều hơn cho hệ thống thuỷ lợi, cả đầu tư xây dựng hệ thống mới, cải tạo
hoặc hiện đại hoá hệ thống hiện có, nhưng nên đầu tư như thế nào. Đối với hệ thống
thuỷ lợi, nếu chỉ đánh giá hiệu quả hệ thống bằng một chỉ tiêu như tổng sản lượng
sản phẩm nông nghiệp thu được khi có tưới hoặc không tưới, hoặc thậm chí một vài
chỉ tiêu khác nữa cũng không thể đánh giá đầy đủ được công tác vận hành của hệ
thống. Chuyên gia về môi trường có thể quan tâm đến dòng chảy trên sông, kênh và
ngăn chặn sự suy giảm khối lượng và chất lượng nước; Chuyên gia xã hội có thể
quan tâm nhiều về vấn đề xã hội; Chuyên gia kinh tế có thể chỉ quan tâm đến hiệu
quả đầu tư, trong khi nhà nông học có thể tập trung vào năng suất cây trồng trên
mỗi hecta, v.v.
Vậy hiệu quả hoạt động là gì? và hiểu như thế nào cho đúng? Khi chúng ta
nói một hệ thống hoạt động yếu kém, không đạt yêu cầu hay hoạt động hiệu quả là
có hàm ý như thế nào? Hiệu quả hoạt động đã được định nghĩa theo một số cách
khác nhau. Small và Svendsen (1990) đưa ra một định nghĩa khá rộng về hiệu quả
hoạt động hệ thống thuỷ nông: “Bao gồm tổng thể các hoạt động (tiếp nhận các yếu
tố đầu vào và chuyển đổi các yếu tố đó thành sản phẩm đầu ra trung gian hay thành
phẩm cuối cùng) và ảnh hưởng của các hoạt động đó (tác động lên chính bản thân
hệ thống và môi trường bên ngoài)”. Hơn thế họ còn đưa ra các mô hình khác nhau
về hiệu quả hoạt động của các tổ chức và kết luận rằng một mô hình định hướng
mục tiêu hiệu quả là hết sức hữu ích trong việc đánh giá hiệu quả của hệ thống thuỷ
nông. Murray Rust và Snellen (1993) bổ xung thêm vào lý thuyết của Small và
Svendsen bằng cách đưa ra một khung phân tích và đánh giá hoạt động chi tiết của
hệ thống. Theo họ, hiệu quả hoạt động là (1): “mức độ đáp ứng nhu cầu của khách
hàng hoặc người sử dụng về một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định nào đú” và (2)
hệ thống thuỷ nông.
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
8
Năm 1993, IWMI đó cú nghiên cứu liên quan đến đánh giá hiệu quả hệ
thống phân phối nước của dự án tưới ở Pakistan và SriLanka.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông được các
chuyên gia của IWMI và Sri Lanka sử dụng là:
- Chỉ tiêu lượng nước dùng trên 1 đơn vị diện tích canh tác;
- Năng suất cây trồng;
- Thu nhập trên 1 ha đất canh tác;
- Sản lượng trên 1 m
3
nước tưới;
- Sự công bằng trong phân phối nước ở đầu và cuối nguồn nước.
Trung Quốc một cường quốc đông dân trên thế giới, nông nghiệp là một
ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh lương thực. 70% tổng
sản lượng lương thực, 80% sản lượng bông, 90% sản lượng rau được tạo ra từ diện
tích nông nghiệp được tưới. Hiện nay cũng chưa có được một hệ thống các chỉ tiêu
đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông tiêu chuẩn. Tuy nhiên thấy
được tầm quan trọng phải đánh giá hiện trạng hoạt động của các hệ thống thủy lợi,
trong hai năm 1993 ÷1994 Trung Quốc đã tiến hành đánh giá 195 hệ thống thuỷ
nông lớn với ba mức đánh giá:
- Mức 1: Đánh giá kết cấu công trình hoặc kênh mương;
- Mức 2: Đánh giá toàn bộ hệ thống;
- Mức 3: Đánh giá cải tạo nâng cấp hệ thống.
Kết quả đánh giá cho thấy 70% công trình đầu mối bị xuống cấp hoặc trong
tình trạng nguy hiểm, 16% mất khả năng làm việc, 10% bị bỏ hoang chỉ có 4% hoạt
động bình thường. Đối với kênh mương 60% chuyển nước tốt, 21% xuống cấp
nghiêm trọng, 9% mất khả năng làm việc, 10% bị bỏ hoang. Đối với các trạm bơm
36% mất khả năng làm việc, 32% xuống cấp hoặc trong tình trạng nguy hiểm.
+ Hiệu quả môi trường trong hệ thống tưới:
- Mức độ nhiễm mặn, kiềm hoá.
- Chất lượng nước mặt, nước ngầm.
- Ngập úng.
- Cỏ dại trong kênh có nước đọng.
+ Hiệu quả tưới mặt ruộng:
- Hệ số quay vòng đất.
- Hiệu ích tưới.
- Hiệu quả sử dụng nước.
+Hiệu quả xã hội:
- Lao động.
- Sở hữu ruộng đất.
- Giới trong hoạt động tưới.
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
10
- Sự thoả mãn của nông dân.
+ Hiệu quả về sử dụng đa mục tiêu.
+ Hiệu quả về kinh tế.
Hiện tại trên thế giới cũng chưa có tiêu chuẩn hay hướng dẫn đánh giá hiệu
quả tưới cụ thể. Mỗi quốc gia, mỗi vùng miền tùy vào điều kiện tự nhiên, hình thức
quản lý công trình mà lựa chọn hệ thống chỉ tiêu đánh giá phù hợp, không có một
hệ thống chỉ tiêu nào được áp dụng cho tất cả các nước. Để giúp chọn các thông số
giám sát đánh giá một số nước đã đưa ra các thông số và mức độ quan trong về các
chỉ số trong hệ thống thủy nông như Bảng 1.2 .
Vấn đề quan trọng của đánh giá hiệu quả tưới là ở chỗ :
- Định ra các thông số quan trọng để đánh giá. Các thông số này có thể
được thiết lập từ giai đoạn quy hoạch hệ thống.
- Chỉ tiêu hay nói cách khác là tiêu chuẩn mà các thông số nêu trên phải
đạt được đối với một hệ thống cụ thể.
Một số chỉ tiêu và thông số hiệu quả tưới còn chưa rõ ràng trong việc đo đạc
- Tính công bằng xx x xx xx xx xx x xx x xx xx xx
- Hiệu suất xx xx xx x xx xx xx x x xx xx xx xx x xx
- Mức độ tin cậy x xx xx x x xx xx x x xx x xx x xx
2 Hiệu quả các công trình xx xx x xx xx xx x xx x xx xx x
3 Hiệu quả sử dụng mặt ruộng xx x xx xx xx xx xx x
- Hiệu ích tưới xx x xx x xx xx x xx x xx x xx x x
- Hệ số quay vòng đất xx x xx xx xx xx x xx xx x xx x x
- Sản phẩm xx x xx x x xx xx x x x xx xx x x
4 Môi trường x x xx xx xx
- úng x xx x x xx x x xx x x xx x x xx
- Thoái hoá đất xx x x xx x xx xx xx x x x
- Nước ngầm xx x x x x x x x xx xx xx xx xx
- Tiêu nước x xx x xx xx xx x x xx x xx x xx
- Cỏ dại x x x x x xx x x x xx xx x xx
- Sức khoẻ cộng đồng xx xx x x xx xx x x x x xx x x x
5 Xã hội xx x xx xx
- Sở hữu đất xx xx x xx x xx x x xx xx xx xx x x
- Sự di chuyển chỗ ở của nông dân x x x x x x x x xx x x x xx
- Sự thoả mãn của nông dân xx xx x xx x xx x x xx X xx x xx xx
- Hội dùng nước xx xx xx xx xx xx xx x xx xx xx x xx x
6 Sử dụng tổng hợp nguồn nước x x xx xx
- Thuỷ sản x xx x xx x x x xx xx x x
- Nước trong thành phố xx x x x xx xx xx x x x x x x
- Vận tải x x x x x x x x x
7 Kinh tế: xx xx xx xx xx xx
- Tự túc tài chính xx xx xx xx xx xx xx xx xx xx xx xx xx xx
- Tỷ số B/C xx xx xx xx x xx x x xx xx xx x x
Nguồn tài liệu: Fao – 1994 x:quan trọng xx: rất quan trọng
Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
12
bảo vệ tính mạng, sản xuất, cơ sở hạ tầng, hạn chế dịch bệnh:Hệ thống đê biển ở Bắc
Bộ và Bắc Trung Bộ có thể ngăn mặn và triều tần suất 10% gặp bão cấp 9. Hệ thống đê
Trung Bộ, bờ bao đồng bằng Sông Cửu Long chống được lũ sớm và lũ tiểu mãn để bảo
vệ sản xuất vụ Hè Thu và Đụng Xuõn. Các công trình hồ chứa lớn và vừa ở thượng
du đã từng bước đảm bảo chống lũ cho công trình và tham gia cắt lũ cho hạ du. Các
công trình chống lũ ở ĐBSH vẫn được duy tu, củng cố.
Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
13
+ Hàng năm các công trình thuỷ lợi bảo đảm cấp 5-6 tỷ m
3
nước cho sinh
hoạt, công nghiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế khỏc:Cấp nước sinh hoạt cho đồng
bằng, trung du miền núi. Đến nay khoảng 70-75% số dân nông thôn đã được cấp
nước hợp vệ sinh với mức cấp 60 l/ngày đờm.Cấp nước cho các khu công nghiệp,
các làng nghề, bến cảng.Cỏc hồ thuỷ lợi đã trở thành các điểm du lịch hấp dẫn du
khách trong nước và quốc tế như: Đại Lải, Đồng Mô - Ngải Sơn, Dầu Tiếng
+ Góp phần lớn vào xây dựng nông thôn mới: thủy lợi là biện pháp hết sức
hiệu quả đảm bảo an toàn lương thực tại chỗ, ổn định xã hội, xoỏ đúi giảm nghèo
nhất là tại cỏc vựng sõu, vựng xa, biên giới.
+ Góp phần phát triển nguồn điện: hàng loạt công trình thuỷ điện vừa và nhỏ
do ngành Thuỷ lợi đầu tư xây dựng. Sơ đồ khai thác thuỷ năng trờn cỏc sụng do
ngành Thuỷ lợi đề xuất trong quy hoạch đóng vai trò quan trọng để ngành Điện
triển khai chuẩn bị đầu tư, xây dựng nhanh và hiệu quả hơn.
+ Góp phần cải tạo môi trường: các công trình thủy lợi đã góp phần làm
tăng độ ẩm, điều hòa dòng chảy, cải tạo đất chua, phèn, mặn, cải tạo môi trường
nước, phòng chống cháy rừng.
+ Công trình thuỷ lợi kết hợp giao thông, quốc phòng, chỉnh trang đô thị,
phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn; nhiều trạm bơm phục vụ nông nghiệp góp phần
đảm bảo tiờu thoỏt nước cho các đô thị và khu công nghiệp lớn.
1.2.1.3. Những tồn tại chính
nghiêm trọng kỹ sư thủy lợi ở địa phương, vựng sõu, vựng xa. Theo số liệu điều tra
mẫu trên phạm vi 5 tỉnh thành toàn quốc:
1.2.1.4. Biến đổi khí hậu và thách thức đối với ngành thuỷ lợi
* Biến đổi khí hậu
Theo kịch bản của Bộ Tài Nguyên và Môi trường: Đến năm 2010 nhiệt độ
trung bình năm tăng khoảng 2,3
o
C (so với trung bình thời kỳ 1980-1999). Tính
chung cho cả nước, lượng mưa năm tăng khoảng 5% (so với thời kỳ 1980-1999).
Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
15
Trong 10 năm qua, các yếu tố khí hậu Việt Nam có nhiều biến đổi: Số trận bão hàng
năm vào ven biển nước ta tăng 0,4 trận.
* Nguồn nước
Theo đánh giá của ADB, đến năm 2070, dòng chảy vào tháng cao điểm của
sông Mekong dự báo tăng 41% ở đầu nguồn và 19% ở vùng đồng bằng. Còn vào
cỏc thỏng mùa khô, dòng chảy giảm khoảng 24% ở thượng nguồn và 29% ở vùng
Đồng Bằng. Dòng chảy mùa kiệt ở lưu vực sông Hồng giảm 19%; mực nước lũ có
thể đạt cao trình +13,24 xấp xỉ cao trình đỉnh đê hiện nay +13,40 (Báo cáo Viện
Quy hoạch Thuỷ lợi). Điều đó có nghĩa là khả năng lũ trong mùa mưa và cạn kiệt
trong mùa khô đều trở nên khắc nghiệt hơn.
* Mực nước biển dâng
Cũng theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng của Bộ tài nguyên
môi trường đến năm 2100 mực nước biển dâng 0,75-1,0m nên về mùa lũ, vào
những năm lũ lớn khoảng 90% diện tích của ĐBSCL sẽ bị ngập lũ với thời gian
khoảng 4-5 tháng.
Nước biển dâng làm mặn xâm nhập sâu vào nội địa, các cống hạ lưu ven
sông sẽ không có khả năng lấy nước ngọt vào đồng ruộng,vào mùa khô sẽ có
khoảng trên 70% diện tích ĐBSCL sẽ bị xâm nhập mặn với nồng độ lớn hơn 4g/l.
Vùng đồng bằng sông Hồng hiện có khoảng 55 hệ thống thủy nông, thủy lợi
10% tổng lượng dòng chảy mặt, năm 2010 bằng 12-13%, năm 2020 bằng 15-16%
tổng lượng dòng chảy mặt. Như vậy về tổng lượng dòng chảy năm vẫn có thể thoả
mãn nhu cầu nước ở mức an toàn nhưng về mùa khô, hầu hết các lưu vực đều rất
thiếu nước.
1.2.1.5. Các giải pháp phát triển thuỷ lợi thích ứng với biến đổi khí hậu
- Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến
hệ thống công trình thủy lợi.
- Nghiên cứu, áp dụng các chỉ tiêu thiết kế nhằm nâng cao mức đảm bảo cấp
nước, tiờu thoỏt nước, chống lũ thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu
- Rà soát, bổ sung quy hoạch, từng bước xây dựng các công trình ngăn sông
lớn.
- Đầu tư xây dựng, nâng cấp các hệ thống đê biển, đờ sụng, đờ cửa sông bảo
đảm an toàn cho dân sinh và sản xuất.
- Xõy dựng các chương trình nâng cấp các hệ thống thủy lợi phục vụ cấp
nước, tiờu thoỏt nước, đảm bảo an toàn công trình.
- Nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp, công nghệ khoa học tiên tiến hạn chế
tác động bất lợi do biến đổi khí hậu, nước biển dâng gây ra.
1.2.2. Những nghiên cứu có liên quan đến việc đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ
thống thuỷ nông:
Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
17
Ở Việt nam chưa có một tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tưới chung cho các hệ
thống công trình thuỷ lợi. Một số kết quả nghiên cứu về hệ thống các chỉ tiêu đánh
giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông được đưa ra tại các hội thảo, một số
văn bản liên quan, những dự án điều tra, những đề tài nghiên cứu và những nghiên
cứu của các nhà khoa học đạt được một số kết quả như:
- Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiờn cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu tổng
hợp đánh giá nhanh hiện trạng (cơ sở hạ tầng, quản lý vận hành) và hiệu quả
KT_XH công trình thuỷ lợi, phục vụ nâng cấp hiện đại hoá và đa dạng hoá mục tiêu
sử dụng” (2001-2005) do Viện khoa học Thuỷ lợi thực hiện đã đưa ra hệ thống các
wr
w
W
E
tíi
W
=
(1-1)
Trong đó:
Ew: Tác động của tưới đối với năng suất cây trồng (tính theo %)
W
tưới
: Lượng nước thực tưới tại mặt ruộng.
W
wr
: Nhu cầu nước của cây trồng.
Tuy nhiên, thực chất công thức mới chỉ phản ảnh % lượng nước cần tưới
trong toàn bộ nhu cầu nước của cây trồng, nếu lượng mưa hữu ích càng nhỏ thì tỷ
số này càng lớn. Công thức chưa phản ánh được tác động của tưới đối với năng suất
cây trồng.
- TS. Hà Lương Thuần: đưa ra quan điểm “Với một diện tích tưới lớn như ở
nước ta hiện nay, cần thiết phải đánh giá HQT và tỡm cỏc biện pháp nâng cao HQT
ở hệ thống”. Hiệu ích tưới là một thông số để đánh giá hiệu quả tưới ở mặt ruộng.
Đi sâu vào nghiên cứu hiệu ích tưới, tác giả đưa ra định nghĩa hiệu ích tưới: ” Hiệu
ích tưới là mức độ đóng góp trực tiếp của yếu tố nước trong tập hợp các yếu tố
thâm canh tạo nên năng suất cây trồng” và thiết lập phương trình quan hệ giữa hiệu
ích tưới với tổng lượng nước yêu cầu tưới của cây trồng tính từ cấy đến thu hoạch.
Cơ sở lý luận thiết lập công thức này như sau:
Dựa trên công thức cơ bản tính hiệu ích tưới do Giáo sư XuZiFang và
Shenpeijun – Học viện Thủy lợi và Điện lực Vũ Hán nghiên cứu năm 1989:
E
w
=0,097Ir +9,74 (1-3)
Trong đó:
E
w
: hiệu ích tưới tiềm năng, tính bằng %.
Ir: tổng lượng nước yêu cầu tưới ở các giai đoạn sinh trưởng của cây
trồng từ cấy đến thu hoạch, tính bằng mm.
Ir=∑IRR
egi
- ∑IRR
eg(N,LP)
(1-4)
∑IRR
egi
- Tổng lượng nước cần tưới của từng giai đoạn từ làm đất đến thu
hoạch tính theo CROPWAT - mm.
∑IRR
eg(N,LP)
- Tổng lượng nước cần tưới của giai đoạn mạ và làm đất - mm.
Dự án hợp tác Quốc tế với ễxtrõylia “Quản lý nước tổng hợp trên hệ thống
tưới bằng bơm của Đồng bằng sông Hồng” do Viện Khoa học Thuỷ lợi thực hiện từ
năm 1995 đến 1998, một trong những nội dung chính của dự án là nghiên cứu ứng
dụng mô hình IMSOP để trợ giúp vận hành và đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ
thống thông qua chỉ tiêu cấp nước tại các điểm điều tiết.
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “ Nghiên cứu xác định năng lực làm việc thực tế
của các hệ thống thuỷ nụng đó cú so với thiết kế “ do Viện Khoa học Thuỷ lợi thực
hiện đã tiến hành nghiên cứu hiện trạng hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông
nhóm chỉ tiêu cần điều tra thông thường sẽ được thiết kế thành một bảng ví dụ như
thống kê về tên công trình, số lượng các công trình, số lượng các loại cống, thời
Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
21
điểm xây dựng và hiện trạng của loại công trình, thống kê về nhân lực, dân số, giới
tính, trình độ học vấn cán bộ, các bảng thống kê về tình hình tài chính, cân đối thu
chi cũng như các bảng thống kê nguồn vốn sử dụng cho công tác bảo dưỡng công
trình. Hoặc các bảng thống kê về diện tích, năng suất cũng như hiện trạng sử dụng
đất là những tài liệu cơ bản bao giờ cũng đi kèm với điều tra thuỷ lợi, các bảng này
có thể là bảng tự thiết kế của người điều tra hoặc là những bảng số thống kê của các
đơn vị quản lý, thống kê địa phương. Các số liệu thu thập được theo phương pháp
này đều là các số liệu thô mà rất cần sự phân tích sử dụng của người điều tra cũng
như cơ quan quản lý. Phương pháp thống kê này còn có tính kế thừa, luỹ tớch cỏc
tài liệu như các số liệu về mực nước, lưu lượng cũng như các tài liệu quan trắc
thống kê khí tượng thuỷ văn hoặc chất lượng nguồn nước.
+ Phương pháp điều tra phỏng vấn theo bảng câu hỏi được lập sẵn, đây là
cách mà các chuyên gia trong nước tiếp thu những kinh nghiệm của bạn bè quốc tế và có
điều chỉnh hoặc cải tiến cho phù hợp với điều kiện cụ thể từng mục tiêu điều tra trong
nước ở những năm gần đây. Người điều tra thiết kế hệ thống các câu hỏi dựa theo các
mục tiêu số liệu thu thập và được cơ quan chủ quản thông qua. Đây là phương pháp hay
sử dụng nhất để thu thập đánh giá về kinh tế xã hội, thu nhập, hoặc một số số liệu liên
quan đến môi trường, kinh tế xã hội và những sự chính kiến của người dân hoặc các nhà
quản lý nằm trong vùng điều tra. Số liệu điều tra được cũng là các tài liệu thô và được
các chuyên gia phân tích và đưa ra các số liệu đánh giá.
+ Phương pháp khảo sát, đo đạc thực địa: là phương pháp thường dùng để
tiến hành khảo sát đo đạc các thông số kỹ thuật của hệ thống như đo đạc hiệu suất
dẫn nước của hệ thống kênh mương, đo đạc hiệu suất của các thiết bị và tiêu thu
điện năng, dầu mỡ, kiểm tra hiệu suất thực tế của máy bơm,… Kết quả của phương
pháp này là những thông số kỹ thuật đánh giá tính trạng hoạt động của các thiết bị
hoặc tình trạng tổn thất nước, chiếm đất của hệ thống kênh mương, thấm qua thân
các thông tin điều tra. Cụ thể ứng dụng phương pháp này đã được tiến hành đối với
điều tra hiện trạng khai thác nước ngầm vựng Tõy Nguyờn phục vụ cho công tác
quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước ngầm và phát triển kinh tế xã hội Tõy
Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật Chuyên ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước
23
Nguyờn. Phần mềm Quản lý tài sản hệ thống thuỷ lợi của Trường Đại Học
Menbuốc, ễxtrõylia được thử nghiệm quản lý dữ liệu cơ bản về tài sản cho một số
hệ thống thuỷ lợi Củ Chi, Đan Hoài, La Khê. Và hiện nay, Tổ chức nông lương thế
giới (FAO) và Trung tâm đào tạo và nghiên cứu tưới (ITRC) Trường Đại học Tổng
hợp Kỹ thuật California (Cal Poly) San Louis Obispo, California, USA 93407 tháng
9 năm 2001 đã thiết kế và giới thiệu phần mềm đánh giá hệ thống thuỷ lợi theo các
tiêu chí công trình hiện đại (RAP), phầm mềm này đã được tổ chức FAO và ngân
hàng thế giới (WB) giới thiệu và ứng dụng để đánh giá hệ thống thuỷ lợi của nhiều
nước trên thế giới và khu vực như Australia, Thái Lan, Malaysia, Indonexia, Trung
Quốc, ấn Độ, Srilanka … và cũng đã giới thiệu tại Việt Nam thông qua hai khoá hội
thảo đào tạo tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2002 dưới sự tài trợ của
WB. Các học viên được tham gia hai khoá đào tạo đã đi đánh giá thực tế ở hai hệ
thống thuỷ nông lớn là Cấm Sơn - Cầu Sơn tỉnh Bắc Giang và hệ thống thuỷ lợi hồ
Dầu Tiếng tỉnh Tây Ninh, và hiện nay hai hệ thống này đã được WB và Bộ
NN&PTNT đưa vào chương trình nâng cấp hiện đại hoá trong khuôn khổ Dự án hỗ
trợ Thuỷ lợi Việt Nam (WRAP) và sẽ triển khai các năm 2004.
+ Phương pháp chuyên gia: Đây là phương pháp thường được quốc tế sử
dụng để đánh giá nhiều trong các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội và môi trường.
Phương pháp này dựa theo trình độ của các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao
về lĩnh vực khoa học chuyên ngành và có nhiều kinh nghiệm thực tế để đánh giá
trên cơ sở định tính hoặc kết quả định lượng bằng các chỉ tiêu cụ thể. Phương pháp
này cũng được tổ chức FAO giới thiệu và sử trong việc đánh giá một số chỉ tiêu
thực địa dựa trong phần mềm Chương trình Đánh giá nhanh (RAP). ở trong nước
hiện nay phương pháp này cũng được sử dụng tương đối rộng rãi trong các lĩnh vực
đánh giá tác động môi trường, đánh giá các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội …