Bàn về việc tự học thông qua việc ôn tập chương - Pdf 27

Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
Mở Đầu
Lý do chọn đề tài:
Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin mà ở đó khối lượng tri
thức của loài người tăng lên với tốc độ cực kỳ nhanh chóng. Người ta tính được
sau 10 năm thì lượng tri thức tăng lên gấp đôi. Đứng trước thực tế này, GD nhà
trường đã có những thay đổi căn bản: từ quan niệm học tập chỉ trong một thời gian
nhất định bằng quan niệm: “học thường xuyên, học liên tục, học suốt đời”. Để có
thể học tập suốt đời đạt hiệu quả, đương nhiên mỗi người phải lựa chọn cho mình
một cách phù hợp nhất, lấy tự học làm nền tảng.
Việt nam đang bước vào giai đoạn CNH – HĐH với mục tiêu đến năm 2020
sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp. Nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc
CNH – HĐH là con người là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về số
lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Để làm được điều
này GD Việt Nam đang phải đứng trước một bài toán: phải đổi mới một cách toàn
diện từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp và phương tiện dạy học. Về PPDH,
nghị quyết TW2 khóa WIII (12/1996) đã chỉ rõ: “phải đổi mới mạnh mẽ phương
pháp GD – ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy
sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương
tiện hiện đại vào quá trình dạy học (QTDH), đảm bảo điều kiện và thời gian tự
học, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề, phát triển năng lực thực hành sáng tạo
cho người học, …”
Nghị quyết TW2 (khoá VIII) của Đảng đã khẳng định: “Cuộc cách
mạng về phương pháp giáo dục phải hướng vào người học, rèn luyện và phát triển
khả năng suy nghĩ, khả năng giải quyết vấn đề một cách năng động, độc lập, sáng
tạo ngay trong quá trình học tập ở nhà trường phổ thông”. Trong luật giáo dục
năm 2005 tại điều 27 quy định về mục tiêu giáo dục phổ thông phải giúp học sinh
“phát triển năng lực cá nhân, tính năng động, sáng tạo ”; tại Điều 28 quy định
về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông: “Nội dung giáo dục phổ thông
phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống;
1

chương” làm đề tài nghiên cứu, với mong muốn được góp phần nhỏ bé vào quá
2
Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
trình đổi mới PPDH ở trường THPT hiện nay, bằng cách tìm hiểu xây dựng cách
ôn tập chương và một số tiết ôn tập.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
a. Lịch sử nghiên cứu vấn đề tự học:
a.1. Vấn đề tự học ở nước ngoài:
Tự học đã được con người thực hiện từ rất sớm, ngay từ khi GD chưa trở
thành một nghành khoa học thực sự. Ở thời kỳ đó, người ta đã biết quan tâm đến
việc làm sao cho người học chăm chỉ, tích cực ghi nhớ được những giáo huấn của
thầy và hành động theo những điều ghi nhớ đó.
Montaigne từng khuyên rằng: “tốt hơn là ông thầy để cho học trò tự học,
tự đi lên phía trước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc độ của thầy
cho phù hợp với sức học của trò”.
Từ thế kỷ XVII, các nhà giáo dục như: J.A Comensky (1592-1670);
G.Brousseau (1712-1778); J.H. Pestalozzi (1746-1872); A.Disterweg (1790-
1866) trong các công trình nghiên cứu của mình đều rất quan tâm đến sự phát
3
Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
triển trí tuệ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và nhấn mạnh phải
khuyến khích người đọc giành lấy trí thức bằng con đường tự khám phá, tìm tòi
và suy nghĩ trong quá trình học tập.
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của
tâm lý học hành vi, tâm lý học phát sinh, nhiều PPDH mới ra đời: “PP lạc
quan”,” PP trọng tâm tri thức”, “PP montessori”…Các PPDH này đã khẳng định
vai trò quyết định của học sinh trong học tập nhưng quá coi trọng “con người cá
thể” (individu) nên đã hạ thấp vai trò của người giáo viên đồng thời phức tạp hóa

trong đó nêu lên những biện pháp tổ chức hoạt động độc lập nhận thức của học
sinh trong quá trình dạy học.
a.2. Vấn đề tự học ở Việt Nam:
Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ lâu. Ngay từ thời kỳ phong
kiến, GD chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất. Những
nhân tài đó, bên cạnh yếu tố được những ông đồ tài giỏi dạy dỗ, thì yếu tố quyết
định đều là tự học của bản thân. Cũng chính vì vậy mà người ta coi trọng việc tự
học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài. Nhưng nhìn chung, lối GD còn
rất hạn chế “người học tìm thấy sự bắt chước, đúng mà không cần độc đáo, người
học học thuộc lòng …”[9].
Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền GD Âu Mỹ rất phát triển
nhưng nền GD nước ta vẫn chậm đổi mới. Vấn đề tự học không được nghiên cứu
và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự học rất cao trong nhiều tầng
lớp xã hội.
Vấn đề tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ
khi nền GD cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người
khởi xướng vừa nêu tấm gương về tinh thần và PPDH. Người từng nói: “còn
sống thì còn phải học”, và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học làm cốt” [14].
Có thể nói tự học là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh, về phương pháp học tập.
Những lời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinh ngiệm sâu sắc rút ra từ chính
tấm gương tự học bền bỉ và thành công của Người cho đến nay vẫn còn nguyên
giá trị.
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng về tự học đã được nhiều tác
giả trình bày trực tiếp và gián tiếp trong các công trình tâm lý học, GD học,
5
Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
PPDH bộ môn. Một số công trình tiêu biểu là: Nguyễn Cảnh Toàn (Nguyễn Cảnh
Toàn (1995), luận bàn và kinh nghiệm về tự học), Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim,
Thái Duy Tuyên, Bùi Văn Nghị,…
GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước

b.1. Cơ sở triết học:
Theo triết học duy vật biện chứng, mâu thuẫn là động lực thúc đẩy quá trình
phát triển. Mâu thuẫn trong học tập nảy sinh giữa yêu cầu nhận thức với tri thức,
kỹ năng còn hạn chế của người học.
b.2. Cơ sở tâm lý:
Theo các nhà tâm lý học, chỉ tư duy tích cực khi có nhu cầu hoạt động, chỉ
có kết quả cao khi chủ thể ham thích tự giác và tích cực. Thực tế cho thấy nếu
học sinh chỉ học một cách thụ động được nhồi nhét kiến thức, không có thói quen
suy nghĩ một cách sâu sắc thì kiến thức nhanh chóng bị lãng quên.
“Nhu cầu giáo dục nảy sinh theo từng giai đoạn phát triển của cá nhân. Trẻ
em thường bắt chước những gì ở người lớn mà chúng yêu thích, hấp dẫn bởi
những biểu hiện bề ngoài. Học sinh trung học có nhu cầu tự giáo dục mạnh mẽ,
đã tự ý thức, khao khát những giá trị mà các em cho là hữu ích với cuộc
sống”[13].
b.3. Cơ sở giáo dục học:
Dạy học tự học nằm trong hệ thống giáo dục nó phù hợp với nguyên tắc về
tính tích cực và tự giác. Nó khêu gợi hoạt động học tập của học sinh, hướng đích
gây hứng thú cho người học.
Những kết quả nghiên cứu của GD cho thấy: sẽ đem lại kết quả GD tốt hơn
nếu quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo, quá trình GD được
biến thành quá trình tự GD.
Tạp chí Mỹ Mathematical reviews năm 1977 đã thống kê rằng hiện nay có
hơn 10 vạn bài nghiên cứu toán học được công bố. Nhịp điệu tăng trưởng theo
hàm số mũ, cứ 10 năm tăng lên gấp đôi. Rõ ràng là cần phải học tất cả nhưng
không thể dạy tất cả. Chỉ có biết cách học mới đáp ứng được sự phát triển như vũ
bão của khoa học kỹ thuật.
Nghị quyết TW khóa VIII đã nhấn mạnh: Cần phải phát triển mạnh phong
trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh
niên. Luật GD nước CHXHCN Việt Nam năm 2007 trong chương 1 điều 5 cũng
ghi rõ: “Phương pháp GD phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, tư duy

Một là, hoạt động tự học (HĐTH) của học sinh diễn ra nhằm đáp ứng nhu
cầu hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng tri thức ngoài chương trình đào tạo ở
8
Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
trường không có sự điều khiển của người giáo viên. Người học tự đọc tài liệu, tự
suy nghĩ rút ra kinh nghiệm. Đó là tự học ở mức độ cao.
Hai là, HĐTH cũng có thể diễn ra do nhu cầu của giáo viên, nhưng không
có sự điều khiển trực tiếp của giáo viên. Ở đây, học sinh phải tự sắp xếp quỹ thời
gian và điều kiện vật chất để có thể tự ôn tập, củng cố tự đào sâu những tri thức
hoặc tự hình thành những kỹ năng kỹ xảo ở một lĩnh vực nào đó theo yêu cầu của
giáo viên hoặc quy định trong chương trình đào tạo của nhà trường. VD: Giáo
viên giao bài tập lớn về nhà cho học sinh. Nhưng đã có hướng dẫn cụ thể. Học
sinh làm theo dàn ý giáo viên đã cung cấp.
Hình thức này nhấn mạnh và đề cao vai trò quyết định của nội lực – năng
lực tự học của người học. Theo đó:
Trò: Chủ thể, trung tâm, tự tìm ra tri thức bằng hành động của chính
mình, tự tìm ra sản phẩm ban đầu mang tính cá nhân.
Lớp: Cộng đồng lớp học, môi trường xã hội, nơi diễn ra sự hợp tác trao
đổi, giữa trò – trò, thầy – trò, sản phẩm ban đầu mang tính chất xã hội.
Thầy: tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn, trọng tài, cố vấn cho trò tự
chiếm lĩnh lấy tri thức với sự hợp tác với bạn.
Như vậy, mô hình này hoàn toàn phù hợp với quy luật về sự phát triển
của sự vật mà cụ thể trong trường hợp này là sự phát triển của bản thân người
9
THẦY
TRÒ
TRI THỨC
THẦY
TR
Ò

TR
Ò
TRI
THỨC
Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
Toán học là một khoa học chứng minh, những tri thức sau được xây dựng
trên những cơ sở của kiến thức kết quả có trước. Không thể học tập toán có kết
quả nếu không có các tri thức toán học đã có.
Để chiếm lĩnh các tri thức khoa học toán học, người học cũng như người
trèo thang không qua nấc thang thấp thì không thể tiến lên nấc cao hơn. Để tự học
có hiệu quả thì người học phải tự trang bị cho mình vốn kiến thức tối thiểu để tự
nghiên cứu vấn đề mình quan tâm.
e.3. Ảnh hưởng của năng lực trí tuệ và tư duy:
Năng lực trí tuệ: Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng nắm bắt tri
thức khoa học nhanh hay chậm của mỗi học sinh. Yếu tố này ảnh hưởng rất lớn,
đôi khi là quyết định đến khả năng học tập nói chung và NLTH nói riêng. Những
người có năng lực trí tuệ tốt thường có khả năng tự học rất cao, khi có đủ vốn tri
thức tối thiểu nhiều khi họ có thể độc lập làm việc một mình mà không cần tới sự
hướng dẫn của thầy.
Phương pháp tư duy: Khả năng vận dụng các thao tác tư duy cũng là một
yếu tố có ảnh hưởng lớn đến khả năng tự học của học sinh.
Ngoài ra, trong quá trình học tập để tiếp thu tri thức, kết quả học tập của
học sinh tùy thuộc phần lớn vào tính chất và cơ cấu của tư duy tích cực của các
em. Tri thức là kết quả của tư duy đồng thời lại là những điều kiện, phương tiện
của tư duy. Vì vậy, tăng cường khả năng tư duy là một yêu cầu để nâng cao chất
lượng học tập và tự học.
e.4. Ảnh hưởng của phương pháp dạy học của thầy:
Theo Nguyễn Bá Kim [7], “PPDH là cách thức hoạt động và giao lưu của
thầy gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được mục
tiêu dạy học”. Như vậy, có thể thấy rằng: PPDH của thầy cũng có ảnh hưởng cực

 Thói quen gợi lại những cái cụ thể đã gặp trong cuộc sống hàng
ngày .
 Thói quen ghi nhớ máy móc.
 Thói quen suy luận logic.
 Thói quen tưởng tượng sáng tạo.
12
Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
Trong quá trình dạy học người giáo viên không nên ép buộc học sinh phải
suy nghĩ theo thói quen suy nghĩ của mình. Mặt khác cần chú ý bồi dưỡng phát
triển các thói quen chưa có cũng như còn yếu của các em, từ đó cũng ghóp phần
hình thành phương pháp học tập, phương pháp tự học cho các em.
e.6. Ảnh hưởng của SGK, tài liệu học tập và các điều kiện khác về cơ sở vật
chất, gia đình và xã hội.
Khi đánh giá vai trò của SGK đối với quá trình tự học của học sinh,
PGS.TS Bùi Văn Nghị nhận xét: “nếu người viết sách đặt mình vào vị trí người
đọc, trình bày một vấn đề có nguồn gốc (từ thực tiễn hoặc từ nội bộ toán học) có
hướng đích gợi động cơ, gợi vấn đề, có các hoạt động tương thích với nội dung và
mục đích thì sách viết ra sẽ hấp dẫn người học. Giúp người học ngoài việc học các
tri thức khoa học, còn học được cách suy nghĩ, cách đặt vấn đề và giải quyết vấn
đề vừa thu được những tri thức sự việc, vừa thu được những tri thức phương
pháp”.
Trong quá trình dạy học, học sinh còn chịu ảnh hưởng của môi trường xung
quanh. Đó là các yếu tố về điều kiện dạy học, điều kiện văn hóa xã hội… các yếu
tố này cũng có ảnh hưởng rất lớn, vì nó tác động không những đến người học, mà
cả người dạy học.
e.7. Ảnh hưởng của yếu tố tâm sinh lý:
Ở lứa tuổi THPT (từ 14 – 15 đến 17 – 18 tuổi), “các em không chỉ nhận
thức về cái tôi của mình trong hiện tại như thiếu niên, mà còn nhận thức về vị trí
của mình trong xã hội, trong tương lai (tôi cần trở thành người như thế nào, cần
làm gì để tốt hơn,…)” [12 tr.67]. Các em luôn muốn thể hiện mình với các bạn

nhưng cũng có thể chưa giải quyết ngay được, lúc này học sinh cần tiếp tục suy
nghĩ, đến khi bản thân cảm thấy không trả lời được thì hỏi bạn hỏi thầy. Trong lúc
nghe thầy hoặc bạn trình bày, người học vẫn phải giữ vai trò chủ thể tích cực, chủ
động để có thể tìm ra cho mình câu trả lời thỏa đáng nhất.
f.3. Kỹ năng ghi nhớ các tri thức toán học:
Ghi nhớ là thành phần cơ bản và quan trọng trong quá trình học tập nói
chung và học toán nói riêng. Vì nếu không có ghi nhớ thì người học cũng chẳng
thể tư duy. Để hướng dẫn học sinh cách ghi nhớ các tri thức toán học giáo viên
cần:
14
Nguyễn Văn Phùng Bàn về việc tự học thông qua các tiết ôn tập chương
 Làm cho học sinh biết toán học là khoa học đặc trưng bởi tính logic
chặt chẽ và tính trừu tượng cao độ. Vì vậy, để có thể ghi nhớ tốt thì điều trước hết
phải hiểu. Nếu ghi nhớ mà không hiểu thì ghi nhớ đó sẽ không bền vững. Thậm
chí có bền vững thì cũng chỉ là những tri thức “khô cứng” khó vận dụng được.
 Hướng dẫn học sinh biết cách ghi nhớ bằng cách hệ thống hóa, khái
quát hóa những tri thức cũ. Tìm cách so sánh, xem xét tương tự kiến thức mới với
kiến thức đã học. Thường xuyên ôn tập củng cố cũng như lập các sơ đồ khái niệm,
định lý, dạng toán… theo cách hiểu của riêng mình.
f.4. Kỹ năng làm việc với sách:
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh một số quy trình đơn giản về kỹ năng
đọc sách: bắt đầu từ việc làm quen với tên tác giả cuốn sách, tên sách, sau đó đọc
mục lục, đọc lời nói đầu, đọc lướt qua cuốn sách, rồi đọc kỹ, tóm tắt nội dung, ghi
lại những điều lý thú, nêu câu hỏi và đề xuất những ý mới trong quá trình đọc,…
Cần giáo dục lòng tôn trọng của học sinh đối với sách, nhất là SGK vì đây
là nguồn thông tin tập trung và có chọn lọc các giá trị cơ bản và quan trọng của
kinh nghiệm lịch sử loài người.
Khi đọc sách cần rút ra được những tư tưởng chính của mỗi đoạn, so sánh,
phân loại, hệ thống hóa,… đề xuất cái mới và nêu câu hỏi. Điều này rất quan trọng
vì sự sáng tạo thường nảy sinh trong quá trình đọc sách. Cần GD học sinh tái hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status