Phần mở đầu
Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của sinh vật và
loài người trên trái đất. Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động kinh tế xã
hội, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế trong nông nghiệp,
là yếu tố quan trọng nhất cấu thành bất động sản và thị trường bất động sản.
Đất đai còn là một trong những bộ phận lãnh thổ của mỗi quốc gia. Chính vì
vậy mà điều 1 chương I luật đất đai có ghi: đất đai thuộc sở hữu toàn dân do
nhà nước thống nhất quản lý, nhà nước giao cho các tổ kinh tế đơn vị vũ
trang nhân dân, cơ quan nhà nước tổ chức chính trị xã hội, hộ gia đình và cá
nhân ổn định lâu dài.
Đất nông nghiệp là một thành phần cấu tạo nên quỹ đất nên phải có
những giải pháp hợp lý trong quản lý và sử dụng đất nông nghiệp.
Đất nông nghiệp là đất để canh tác và những mảnh đất nay có điều kiện
thuận lợi.
Đất nông nghiệp có rất Ýt nên vấn đề cần cải tạo và quản lý đất nhà
nước là vấn đề cấp thiết. Mục đích nghiên cứu để vạch ra những hướng quản
lý, từ đó sẽ sử dụng đất đảm bảo hiệu quả, phù hợp với yêu cầu quản lý từ
đó sẽ sử dụng đất đảm bảo hiệu quả phù hợp với yêu cầu quản lý đất đai của
nhà nước.
Nhiệm vụ nghiên cứu thực trạng về đất nông nghiệp ở nước ta để cùng
nhau bảo đảm và sử dụng hợp lý quỹ đất nông nghiệp.
Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp duy vật biện chứng và
phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp thống kê.
Phạm vi nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam với toàn bộ quỹ đất nông
nghiệp.
Chương I
Cơ sở khoa học việc sử dông
đầy đủ và hợp lý
I. Khái niệm và đặc điểm.
1. khái niệm.
Đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào mục đích sản xuất
+ Đất trồng cây lâu năm:
Là toàn bộ diện tích đất được dùng để trồng các cây dài ngày, trồng
một lần có thể cho thu hoạch nhiều lần và có chi phí kiến thiết cơ bản đáng
kể: như trồng dừa, mía, chuối
Đất nông nghiệp ở nước ta phân bổ không đều giữa các vùng trong cả
nước. Vùng đồng Bằng sông Cửu Long có tỷ trọng lớn nhất của cả nước
chiếm 67,1% diện tích toàn vùng và vùng đất trũng. Độ phì và độ màu mỡ
của các vùng khác nhau, trong đó vùng đồng vằng Sông Hồng và đồng bằng
sông Cửu Long có độ màu mỡ cao chủ yếu là đất phù sa chiếm tỷ lệ lớn so
với các vùng khác. Còn vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên phần lớn là đất
bazan.
Đất nông nghiệp Việt Nam chiếm tỷ lệ rất lớn tổng diện tích đất tự
nhiên của cả nước. Với quỹ đất như vậy sẽ bảo đảm cho nguồn lương thực,
thực phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Do đó đặc điểm tự nhiên kí
hậu cận nhiệt đới lên thực vật Việt Nam rất đa dạng nên sản xuất nông
nghiệp ở nước ta cũng rất đa dạng và phong phú. ở miền Bắc nước ta có 4
mùa rõ rệt vì vậy sản xuất nông nghiệp mang tính mùa vụ. ở miền Nam có 2
mùa (mùa mưa và mùa khô) nên việc sản xuất nông nghiệp rất thuận lợi.
Vậy để sử dụng đất nông nghiệp cần có các biện pháp nhằm nâng cao
và sử dụng đất đai hiệu quả nhất.
3. vai trò của đất nông nghiệp.
Đất nông nghiệp là loại đất phù hợp cho trồng cây lương thực, cây hoa
màu và chỉ trồng trên đất nông nghiệp thì mới cho hiệu quả cao đảm bảo cho
sự tồn tại, duy trì và phát triển của các loại cây lương thực, hoa màu trên.
Phát triển kinh tế nông nghiệp chủ yếu do quỹ đất nông nghiệp và tính chất
đó là yếu tố cơ sở nền tảng và làm tiền đề để cho sự phát triển
II. vai trò của việc sử dụng đất nông nghiệp trong sự phát triển kinh tế
xã hội.
- Đất nông nghiệp là sản phẩm tự nhiên có trước lao động và cùng với
sự phát triển của xã hội, là điều kiện chung của lao động. Đất nông nghiệp
ngành chế bién nông sản .
b.Chủ quan.
*.Dân sè:
Đây là một vấn đề đáng quan tâm đối với quá trínhử dụng đất nông
nghiệp .Ơ nước ta hiện nay dân số là7633900 chiếm 78%dân số trong cả
nước với số liệu này thì mật độ dân số ở nông nghiệp là quá đông. Mặt khác
sự phân bố dân số dữa các vùng không đồng đều dẫn tới việc sử dụng đất
nông nghiệp không hiệu quả ,ví dụ như khu vưc đồng bằng Sông Hồng
Đòng bằng Sông Cử Long mật đọ dân số quá đông ,còn khu vực miền núi
dân số thưa thít .
*. Tác động của quá trình đô thị hóa.
Do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội nên quá trình đô thị hóa dẫn tới
đất nông nghiệp bị thu hẹp khá lớn để phục vụ cho nhu cầu xây dựng nhà ở
đô thị của dân cư, của các đơn vị cơ quan Nhà nước và xây dựng các công
trình hạ tầng kỹ thuật. Do vậy gây ảnh hưởng rất lớn tới công tác quản lý
đất đai bởi các lý do chủ yếu là:
* Do tác động của quá trình đô thị hóa, dân cư biến động cơ học dẫn
đến tăng nhu cầu về đất xây dựng, tình trạng mua bán đất trái phép, mua
bán đất nông nghiệp để xây dựng nhà ở phát sinh rất phức tạp. Hiện tượng
vi phạm pháp luật đất đai của các cá nhân, tổ chức kèm theo đó là tình
trạng vi phạm về công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị.
* Quá trình đô thị hóa đòi hỏi phải sử dụng diện tích đất ngày càng
nhiều để xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị và các công trình phục vụ đời
sống văn hóa, phát triển sản xuất trong khi đó quỹ đất đai lại có hạn.
2.Biện phá khắc phục.
+Xây dựng hệ thống giao thông vận tải đảm bảo cho việc vận chuyển
nông nghiệp tới nơi tiêu thụ, chế biến .
+Cần phải có biện pháp làm giảm việc tăng dân số ,và đưa ra các
chính sách nhằm chuiển dịch cơ cấu dân số giữa các vùng sao cho cân đối
giữa các vùng ,ví dụ chính sách khuyến khích người dân di cư tới các vùng
Hướng thứ hai: Tăng quỹ đất nông nghiệp bởi vì nhu cầu về lao động
và thu nhập, do nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp ngày càng tăng, dân
số ngày càng Đông nên việc khai khẩn đất hoang hoá để đưa vào sản xuất
nông nghiệp tăng lên. Đây là xu hướng vận động theo chiều rộng là vấn đề
cần được khuyến khích và thực hiện theo những chính sách, tính toán của
Nhà nước, theo những định hướng, những mục tiêu đã đề ra.
Quỹ đất nông nghiệp được cấu thành từ các loại đất khác nhau, tuỳ
theo mục đích sử dụng của chúng. Nói cách khác, quỹ đất nông nghiệp được
phân thành các loại khác nhau. Khi mục đích sử dụng đất nông nghiệp thay
đổi làm cho số lượng loại đất này tăng lên, loại đất kia giảm đi. Quỹ đất
nông nghiệp có sự biến động trong nội bộ của nó cùng với sự biến động các
loại quỹ đất trong tổng quỹ đất tự nhiên, ở từng loại quỹ đất cũng có sự biến
đổi.
Đối với quỹ đất nông nghiệp, sự biến động trong nội bộ của nó
thương theo xu hướng: Giảm dấn diện tích trồng cây lương thực để chuyển
sang trồng các loại cây khác. Xu hướng biến động này do trình độ sản xuất
ngày càng cao, nhờ thành tựu của cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng
xanh năng suất cây lương thực đã tăng lên đảm bảo an toàn lương thực, từ
một nước thiếu ăn, nước ta đã trở thành nước xuất khẩu gạo. Xuất khẩu gạo
của đất nước ta chiếm ưu thế về số lượng nhưng chất lượng thì còn kém và
thua so với chất lượng gạo của các nước như Thái, Mỹ. Đòi hỏi phải thay
thế, chuyển đổi các loại cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cũng
như nâng cao hiệu quả kinh tế của cây trồng. Mặt khác, do sự phát triển của
hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, đặc biệt là của hệ thống giao thông đã
mở ra khả năng giao lưu hàng hoá làm cho việc chuyển sang trồng các loại
cây trồng khác mang tính thiết thực hơn như cây ăn quả và cây công nghiệp.
Vấn đề giao thông phải thật sự cải thiện tốt, đảm bảo cho sự vận
chuyển thuận lợi nhanh chóng để đưa ccc sản phẩm ra thị trường trao đổi thì
mới tránh được hình thức sản xuất tự cung - tự cấp tại mỗi địa phương.
Trong quỹ đất trồng cây lương thực cũng như quỹ đất trồng các loại
5.339,0 5.463,8 5.553,80
2. Đất trồng cây lâu năm 549,5 804,8 1.045,2 1.347,7 1.449,60
3. Đất trồng cỏ 272,2 328,6 342,3 221,0 132,50
4. Đất có mặt nước dùng
vào sản xuất nông nghiệp.
117,5 169,8 266,7 334,7
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng cục Địa chính.
Tuy nhiên, so với quỹ đất chưa sử dụng, đất nông nghiệp chiếm tỷ
trọng nhỏ hơn còn lượng lớn đất đai chưa được khai thác. Việc đầu tư khai
thác đất nông nghiệp một cách đầy đủ và hợp lý đã và đang được đặt ra một
cách cấp thiết.
2. Phân bố đất nông nghiệp
Đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội. Vì
vậy việc phân bổ quỹ đất đai đặc biệt là quỹ đất nông nghiệp bị chi phối của
hai yếu tố đó rất mạnh. Phân bố đất đai theo vùng bị chi phối bởi các điều
kiện tự nhiên gắn với đất đai mạnh hơn, còn phân bố theo hai loại cây trồng
lại bị chi phối bởi các yếu tố về mặt xã hội mạnh hơn.
2.1. Phân bố đất nông nghiệp theo vùng kinh tế
Phân bố đất nông nghiệp theo vùng kinh tế trước hết được thể hiện
theo tính tự nhiên của đất đai. Tức là trong quỹ đất nông nghiệp của cả nước,
đất nông nghiệp thuộc phân bố theo các vùng như thế nào phụ thuộc vào đặc
tính tự nhiên của đất đai. Trong đó, các yếu tố địa hình, nông hoá, thổ
nhưỡng đóng vai trò quyết định.
ở Việt Nam căn cứ vào các yếu tố tự nhiên của đất đai là chủ yếu,
người ta phân quỹ đất đai thành 7 vùng lãnh thổ. Đất Nhà nước phân theo 7
vùng đó như sau:
* Vùng Trung du miền núi phía Bắc:
Đất nông nghiệp có 1.201.437 ha chiếm 11,67% so với tổng quỹ đất
tự nhiên của vùng. Đất nông nghiệp ở đây chủ yếu trồng cây hàng năm (lúa
rẫy, sắn, đậu, đỗ ). Phần lớn đất nông nghiệp ở vùng này là cây công
năng về nông nghiệp ở vùng này rất lớn.
* Vùng Đông Nam Bé:
Diện tích đất nông nghiệp là 1.029.375 ha, chiếm hơn 41,22% quỹ đất
của vùng. Vùng này chủ yếu là đất bazan màu mỡ thuận lợi cho phát triển
các cây công nghiệp dài ngày và các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Vì
vậy, đây là một trong những vùng kinh tế trù phú, là miền đất có sức hấp dẫn
đối với những người làm nông nghiệp. Tuy nhiên, hiện tại trong vùng vẫn
còn 35.087 ha đất chưa sử dụng, trong đó đất có khả năng nông nghiệp
chiếm tỷ trọng đáng kể. ĐâY là nguồn lực quý giá cần được khai thác.
* Vùng Đồng bằng sông Cửu Long:
Đây là vùng đất nông nghiệp chiếm thành phần lớn đất nông nghiệp
2.620.238 ha trong tổng số 3.955.550 ha, chiếm 73,77% diện tích đất nông
nghiệp. Hệ thống đất đai của vùng này được hệ thống sông Cửu Long bồi tu
phù sa thường xuyên nên rất màu mỡ. Vì vậy, đấy được coi là vựa lúa của cả
nước, vùng có sản lượng lương thực và sản lượng lương thực hàng hoá lớn
nhất trong cả nước. Bên cạnh đó tiềm năng về đất đai của vùng cũng còn rất
lớn. Đất chưa sử dụng chủ yếu là đất nông nghiệp và được tập trung ở vùng
Đồng Tháp Mười và khu Tứ Giác Long Xuyên. Để khai thác tiềm năng này
cần đầu tư một cách đồng bộ cả về kinh tế và xã hội, từ khai hoang cải tạo
đất đến xây dựng được các kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật. Giải quyết được
các vấn đề đó việc khai thác mở ra rất lớn, vùng sản xuất lúa hàng hoá sẽ
được mở rộng.
2.2 Phân bố đất nông nghiệp theo cây trồng.
Trong tổng số 7.637.710 ha đất nông nghiệp của cả nước, đất trồng
cây hàng năm có 5.553 889 ha, đất trồng cây lâu năm chiếm 1.449.607 ha.
Còn lại là đất đồng cỏ và đất mặt nước có sử dụng vào nông nghiệp.
Trong đất trồng cây hàng năm, đất trồng lúa chiếm tỷ trọng lớn hơn
cả. Tổng diện tích trồng lúa năm 1994 là 4.230.077 ha chiếm 54,42% diện
tích đất nông nghiệp. Đất trồng lúa chủ yếu tập trung ở hai vựa lúa của cả
nước là trồng lúa ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long.
Với hình thức sở hữu tập thể về ruộng đất nên chúng ta đã thực hiện tốt một
số khâu thủy lợi, cải tạo và quy hoạch đồng ruộng,trên thực tế ruộng đất lại
bị lãng phí trong quản lý và sử dụng chế độ sở hữu tập thể với mô hình hợp
tác kiểu cũ đã làm cho nông dân không thiết tha với ruộng đất lắm, không
tạo ra động lực vật chất để thúc đẩy họ tích cực sản xuất. Dẫn đến kém hiệu
quả, sản xuất bị trì trệ do không nhận ra điểm bất hợp lý đó nên sau 1975 mô
hình này lại áp dụng vào miền Nam mà không tính đến sự khác nhau giữa
nông nghiệp và nông thôn miền Nam và miền Bắc. Vì hình thức sở hữu
ruộng đất ở miền Nam trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá chứ không phải
nền kinh tế tự cung tự cấp như ở miền Bắc trước khi hợp tác hoá ruộng đất
từ chỗ có chủ nhân cụ thể, trực tiếp có kinh nghiệm sản xuất nay chuyển
sang sở hữu tập thể dẫn đến phát triển nông nghiệp chậm chạp , trì trệ cả khi
coi nông nghiệp là hàng đầu. Từ thực tế Đảng ta đã nhận thấy rằng cần phải
khắc phục mô hình kiểu cũ tìm tòi các bước đi và hình thức thích hợp.Để
xây dựng mô hình kinh tế nông nghiệp phát tryển vững mạnh.
Năm 1979, Nghị quyết hội nghị Trung ương 6 đã cho phép xã viên mượn
đất làm vụ đông, khuyến khích nông dân tận dụng đất hoang để sản xuất, tạo
thêm sản phẩm cho xã hội. Năm 1981, Ban Bí thư TW Đảng ra chỉ thị số
100 cho phép áp dụng rộng rãi chế độ khoán sản phẩm đến nhóm và người
lao động thực chất là đến hộ gia đình xã viên. Ruộng đất của tập thể song hé
gia đình được giao đảm bảo nhận nhiều khâu trong canh tác có thể đầu tư
thêm công sức, vật tư, kỹ thuật để tăng sản lượng. Năm 1986, Đại hội VI đã
đề ra đường lối đổi mới trong đó có đổi mới về quản lý, cơ chế khoán.
Với Nghị quyết 10 Bộ chính trị (4-1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông
nghiệp. Ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân nhưng nông dân đã được giao
khoán ruộng đất ổn định lâu dài hạn.Cùng với Nghị quyết 10 của Bộ chính
trị thì tháng 3/1989, Hội nghị Trung ương VI đã tiến thêm một bước quan
trọng đó là việc xác định lại vị trí của kinh tế hộ gia đình, vai trò quyền lợi
của người lao động. Hộ gia đình được coi là đơn vị kinh tế tự chủ. Điều đó
hoàn toàn phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp của nước ta hiện nay.
nhu cầu của thị trường. Song mặt khác, Luật đất đai còn hạn chế việc chuyển
đất trồng lúa, trồng lương thực thành đất nuôi trồng các sản phẩm khác.
+ Trên quan điểm bảo toàn lương thực quốc gia, pháp luật đã giới hạn
việc chuyển đất trồng cây lương thực chủ yếu là đất trồng lúa sang nuôi
trồng các sản phẩm khác. Song trên quan điểm đảm bảo tăng hiệu quả kinh
tế thì ta lại khuyến khích nuôi trồng các loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao,
đang được thị trường chấp nhận chưa có cơ chế thích hợp để giải quyết mâu
thuẫn này.
+ Chóng ta muốn quy hoạch sử dụng đất để đảm bảo sử dụng đất
nông nghiệp
đạt hiệu quả nhất nhưng lại chưa có cơ chế hợp lý các chủ sử dụng đất thực
hiện theo quy hoạch. Trong quyền tự do kinh doanh theo cơ chế thị trường,
các chủ sử dụng đất nông nghiệp được giao 5 quyền: chuyển nhượng,
chuyển đổi, thừa kế, thế chấp, cho thuê thì chính quy hoạch là một quá trình
quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp. Song thực tế một số vùng
chưcon chã thực hiện tốt. Điển hình là Tây Nguyên, Trung du và miền núi.
ở Tây Nguyên:công tác xây dựng và thực hiện quuy hoạch kế hoạch sử
dụng đất nông nghiệp giữa tỉnh và huyện,giữa huyện và xã,giữa các ngành
và các cơ quan TƯ
trên địa ban còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ.Dẫn tới các tổ chức,nhân ở
tỉnh,thành phố khác đều canh tác cao su,cà fê trên địa bàn chưcon chã thee
quy hoạch,hoach tổng thể.Mặt khác viec chặt phá rừng làm lương rẫy của
đồng bào dân téc du canh du cư và di cư tự do là môtnguyen nhân làm tăng
diện tích đất nông nghiệp không quản lý được.lafnguyeen nhân dẫn tới sử
dụng đất nông nghiệp ở Tây Nguyên không hiệu quả.
Còn vùng Trung du và miền núi thì diễn ra theo hai hướng:
- Hướng truyền thống lạc hậu phá rừng làm rẫycủa đồng bào dân téc
du canh du cư và di dân tự do đang là moott trong những nguyen nhân làm
tăng diẹn tích đát nông nghiệp không quản lý được.
- Hướng mới là chuyển đất trồng cây lương thực sang trồng cây ăn
ổn định chính trị, xã hội trong nông thôn.
3. Các chính sách về quản lý và sử dụng ruộng đất:
Chính sách đổi mới của Đảng và Chính phủ đã tạo ra sự chuyển biến
rõ rệt trong nền nông nghiệp phân phối và tổ chức lại đất đai , tù do hoá việc
ra quyết định sản xuất nông nghiệp mở cửa thị trường đầu vào và đầu ra.
Thừa nhận hộ nông dân là đơn vị cơ bản của sản xuất nông nghiệp. Dưới tác
động của chính sách đổi mới Luật đất đai năm 1993 ra đời đặc biệt là Luật
đất đai năm 1998 sửa đổi tuỳ theo mục tiêu cụ thể của chính sách được cụ
thể hoá dưới các dạng văn bản pháp lý được Chính phủ ban hành đến các địa
phương.
Các chính sách sử dụng đất phải đảm bảo vừa phát triển về kinh tế,
vừa ổn định về xã hội. Sử dụng đầy đủ và hợp lý ruộng đất tạo ra nhiều nông
sản có chất lượng cao, giá hạ, đáp ứng đầy đủ sản lượng ngày càng tăng của
dân cư, có sản phẩm tốt để xuất khẩu tác động đến các ngành kinh tế hữu
quan, bảo vệ chất đất và ổn định môi trường.
Từ các mục tiêu kể trên các chính sách sử dụng đất nông nghiệp và
bảo vệ đất nông nghiệp gồm các loại sau đây:
+ Các chính sách xác lập về quyền lợi gắn chặt với đất đai
- Chính sách bảo vệ người nông dân có đất sản xuất ổn định lâu dài.
- Chính sách khuyến khích người trồng lúa.
- Chính sách trợ cấp cho người đi xây dựng vùng kinh tế mới.
- Chính sách tín dụng.
- Chính sách ưu tiên phát triển đất nông nghiệp.
- Chính sách bảo vệ và phát triển đất trồng lúa.
+ Các chính sách về nghĩa vụ của người sử dụng đất như:
- Chính sách khuyến khích chuyển đất nông nghiệp trồng lúa sang
mục đích sử dụng khác.
- Chính sách sử dụng đất nông nghiệp.
- Chính sách sử dụng đất đúng mđ.
- Chính sách thuế chuyển quyền sử dụng đất.
hình ở đây cũng phức tạp, bên cạnh diện tích đất trồng lúa còn có diện tích
đất bãi trồng màu, các cây lương thực ngô, khoai, ngoài ra còn vùng rộng
lớn đất chiêm trũng. Vì vậy việc bố trí cây trồng ở đây rất đa dạng tuỳ thuộc
vào từng địa phương cũng như vùng ven thành phố Hà Nội nhu cầu cung cấp
cho thành phố về rau màu là rất nhiều nên cần bố trí trồng cây rau màu.
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc với diện tích rộng lớn đất đai đa
dạng nên việc bố trí cây trồng ở đây cũng phụ thuộc vào loại chất đất đai và
điều kiện phù hợp của từng loại cây các tỉnh Thái Nguyên, Yên Bái có diện
tích đất xám bạc màu, thời tiết bốn mùa rõ rệt phù hợp để trồng các cây công
nghiệp chè, vùng miền núi Sơn La có thời tiết phù hợp với các loại cây ăn
quả như mận, xoài, đào, Vùng miền núi Lạng Sơn, Bắc Giang phù hợp
với cây ăn quả: vải, mận, na, như vậy việc bố trí cơ cấu cây trồng trong cả
nước sao cho phù hợp với lợi thế của từng vùng cũng như là việc phát triển
nông nghiệp cả nước là rất quan trọng là một khâu trong việc quản lý nông
nghiệp nước ta.
2. Thâm canh.
Đây là biện pháp cơ bản lâu dài để phát triển nền nông nghiệp theo
chiều sâu, quy mô công nghiệp hiện đại thực hiện thâm canh là khai thác
“Khả năng sinh lời vô hạn của ruộng đất”. Tuy nhiên, khai thác đặc điểm
của ruộng đất bằng thâm canh phải coi trọng tính hiệu quả và phải gắn với
việc cải tạo, bảo vệ, bồi dưỡng đất.
Trong điều kiện của sản xuất hàng hoá để thâm canh có hiệu quả cần
hiểu rõ mối quan hệ giữa các yếu tố của quá trình sản xuất của từng cây
trồng cụ thể. Phải xem xét và tính toán trạng thái và hiệu quả kinh tế của
từng hướng đầu tư cho từng yếu tố và tập hợp các yếu tố.
Khi đầu tư các yếu tố vật chất: phân bón, giống, thuốc trừ sâu, cần
lưu ý đến đặc điểm sinh học của cây trồng đảm bảo sản xuất nông sản có
chất lượng cao đảm bảo về vệ sinh an toàn thực phẩm, tạo lòng tin với người
tiêu dùng. Trên thực tế, ở nước ta nhiều nơi nông dân vẫn canh tác theo kiểu
truyền thống chưa có kỹ thuật cũng như áp dụng các thành tựu khoa học mới
đai hạn hẹp.
Để tăng vụ đạt hiệu quả cao cần phải giải quyết các vấn đề như sử
dụng linh hoạt các giống cây ngắn ngày có năng suất cao và chất lượng cao,
ổn định, chọn loại cây trồng thích hợp đảm bảo các điều kiện vật chất kỹ
thuật, phòng trừ dịch bệnh.
5. Kết quả sử dụng đất nông nghiệp.
Với các chính sách về đất nông nghiệp của Nhà nước, các biện pháp
quản lý hợp lý cũng như các biện pháp sử dụng khai thác có hiệu quả đất
nông nghiệp đã đưa nước ta từ một nước luôn thiếu lương thực phải nhập
khẩu và xin viện trợ đã trở thành một nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế
giới sau Thái Lan (khối lượng xuất khẩu năm 1999 là 4,560 triệu tấn). Nói
chung về lương thực đã cơ bản ổn định, việc sử dụng đất nông nghiệp đang
có xu hướng ngày càng hiệu quả, chúng ta đang từng bước chuyển dịch cơ
cấu cây trồng, đầu tư vào những loại cây có giá trị kinh tế cao, hình thành
các vùng chuyên cung cấp nguồn nguyên, nhiên vật liệu cho sản xuất công
nghiệp.
Ví dô: cao su, mía,cà phê, nhưng vẫn đảm bảo đất trồng lúa là 4,3
triệu ha.
Có thể tổng hợp kết quả sử dụng đất nông nghiệp như sau:
Đất nông nghiệp đến năm 2000:
n v : 1000 ha.Đơ ị
Cả
nước
TDM
N
ĐBS
H
KBC DHM
T
TN ĐNB SCL
972,7 644,8 528,
0
474,7 333,
2
569,9 2.215,
9
- Trồng lúa 4.332,
5
595,8 588,
3
422,
3
266,4 156,
4
293,7 2.009,
6
- Cây công
nghiệp
1.476,
7
376,9 56,5 175,
7
208,3 176,
8
276,2 260,3
Cây lâu năm 1.558,
6
204,3 31,1 118,
2
82,0 340,
các cây lương thực, trồng cây có giá trị kinh tế cao như là cà phê, hạt tiêu,
đã làm cho diện tích rừng bị chặt phá đặc biệt là rừng đầu nguồn. Nên hậu
quả về sinh thái và thực tế đã cho thây như lũ quét ở Lai Châu, Bắc Cạn, lũ
lụt miền Trung, hạn hán ở Bình Định, Phú Yên năm 1998.
- Việc áp dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp,
đưa giống cây trồng có hiệu quả và năng suất cao, áp dụng các công nghệ
sinh học và vi sinh vào nông nghiệp vừa bảo đảm năng suất, vừa ổn định
môi trường. Tuy vậy nhưng ở nước ta việc ứng dụng thành tựu này còn kém.
Thứ nhất do đội ngò khoa học còn Ýt, điều kiện nghiên cứu còn nghèo nàn,
kinh phí Ýt, Vì vậy cần phải có chính sách thúc đẩy đầu tư vào lĩnh vực
nghiên cứu khoa học áp dụng trong nông nghiệp.
- Cơ chế quản lý còn lỏng lẻo dẫn đến lạm dụng cũng như sử dụng bất
hợp lý quỹ đất nông nghiệp, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang
mục đích sử dụng khác làm cho diện tích canh tác nông nghiệp bị thu hẹp.
- Luật đất đai còn chưa hoàn chỉnh, còn có sơ hở đối với việc xác định
quyền hạn của hộ gia đình và các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp
trong kinh tế thị trường có rất nhiều phát sinh cần giải quyết như thừa kế, thế
chấp, cho thuê,
- Cần mở rộng thêm các chính sách ưu tiên trong nông nghiệp, hiện
nay nhiều chính sách vẫn chưa được thực thi đến tay người dân đặc biệt là
dân téc Ýt người, vùng sâu, vùng xa, hải đảo.
- Cần phân bố, bố trí lực lượng cơ cấu cây trồng phù hợp. Trên đây là
các tồn tại tuy chưa nêu hết những tồn tại hiện nay nhưng cũng một phần nói
nên được nhiệm vụ trước mắt đối với việc thuyết phục các yếu kém và phát
huy thế mạnh của nông nghiệp nước ta góp phần làm nền tảng để phát triển
đất nước.
2. Nguyên nhân cơ bản.
Các tồn tại ở trên đều phải xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan
cũng như khách quan.
- Nguyên nhân khách quan:
chính trình Chính phủ thì quan điểm sử dụng đất đai trong cả nước đến 2010
như sau:
* Đất đai nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam nhưng lại là
điều kiện không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển, vì vậy việc sử
dụng tốt tài nguyên quốc gia này không chỉ sẽ quyết định tương lai của nền
kinh tế đất nước mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị và
phát triển xã hội. Xã hội càng phát triển thì giá trị của đất đai sẽ càng cao và
yêu cầu về sử dụng đất càng phải tốt hơn với hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã
hội cao hơn.
* Quy hoạch sử dụng đất là biện pháp quản lý không thể thiếu trong việc tổ
chức sử dụng đất của các ngành kinh tế xã hội và các địa phương. Phương
án quy hoạch sử dụng đất là kết quả hoạt động thực tiễn của hệ thống bộ