tiểu luận Tìm hiểu về vấn đề ngoại tác tác động ngoại vi của giáo dục đại học Việt Nam. - Pdf 27

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
MÔN: KINH TẾ CÔNG CỘNG
ĐỀ TÀI :
TÌM HIỂU VỀ VẤN ĐỀ NGOẠI TÁC
TÁC ĐỘNG NGOẠI VI CỦA GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC VIỆT NAM. GVHD: Thạc sĩ TrầnThu Vân
Nhóm SVTH: Nguyễn Đình Duật ĐT1
Nguyễn Việt Dũng ĐT1
Phạm Ngọc Tĩnh ĐT1
Cao Võ Xuân Anh ĐT1
Đinh Việt Thắng ĐT1
Huỳnh Công Bình
ĐT1
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2009
MỤC LỤC
I. Đặt vấn đề Trang
1
II. Nội dung Trang
2
1. Vấn đề cơ bản về ngoại tác Trang
2
1.1 Khái niệm Trang
2
1.2 Đặc điểm Trang
2

điển về “vốn con người”. Ông cho rằng vốn con người bao hàm
những gì do giáo dục mang lại. Muốn có, gia đình xã hội phải
đầu tư, vốn đó sẽ giúp con người kiếm sống suốt đời và góp
phần làm xã hội giàu có. Vậy ảnh hưởng của giáo dục tác động
tích cực đối với xã hội như thế nào?
Nó có ảnh hưởng to lớn đối với đời sống kinh tế -xã hội–
văn hóa.Những ảnh hưởng đó đã làm cho thị trường đạt hiệu
quả chưa?
Để trả lời những câu hỏi trên, nhóm làm đề tài về vấn đề
ngoại tác - tác động ngoại vi của giáo dục đại học Việt Nam .
II. NỘI DUNG:
1. VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGOẠI TÁC:
1.1 Khái niệm: Khi hành động của 1 đối tượng có ảnh
hưởng đến 1 đối tượng khác nhưng những ảnh hưởng đó lại
không được phản ánh trong giá cả thị trường thì những ảnh
hưởng đó gọi là ngoại tác.
Khi xuất hiện ngoại tác, mối quan tâm xã hội về kết cục
thị trường không chỉ dừng ở phúc lợi người mua và người bán,
nó còn bao gồm phúc lợi của những người ngoài cuộc chịu ảnh
hưởng. Ngoại tác có thể là tiêu cực cũng có thể là tích cực.
Ngoại tác tiêu cực: là khoảng chi phí áp đặt lên đối tượng
thứ ba nhưng chi phí đó không phản ánh lên giá cả thị trường.
Ví dụ: Khí thải xe máy gây ra ngoại tác tiêu cực vì nó tạo
ra khói bụi mà những người khác phải hít thở.
Ngoại tác tích cực: là những lợi ích mang lại cho đối
tượng thứ ba nhưng lợi ích đó không phản ánh lên giá cả thị
trường .
Ví dụ: Những khu di tích lịch sử được trùng tu mang đến
những ngoại tác tích cực, bởi vì những người đi ngang qua có
thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp và ý nghĩa lịch sử của chúng.

xã hội.
2. ẢNH HƯỞNG YẾU TỐ NGOẠI VI TÍCH CỰC VÀ
TÌNH TRẠNG KHÔNG HIỆU QUẢ CỦA THỊ TRƯỜNG:
2.1 Hiệu quả thị trường:
Khi không có ngoại tác và sự can thiệp của chính phủ, giá cả
điều chỉnh để cân bằng cung và cầu. Lượng sản xuất và tiêu
dùng ở trạng thái cân bằng thị trường Q
E
là hiệu quả MC=MB.
(lợi ích biên = chi phí biên)
Q
P MC
Chi phí biên tư nhân
MB
Lợi ích biên tư
nhân
O
Q
E
E
2.2 Ảnh hưởng của yếu tố ngoại vi tích cực
Chi phí biên tư nhân:MC. Đó cũng là chi phí biên xã hội MSC
(MC=MSC)
Lợi ích biên tư nhân :MB
MC
MEB
MB
MB+s MSB=MB+MEB
E


Vậy làm thế nào có thể đẩy mức sản lượng của thị trường lên
ngang bằng mức tối ưu xã hội. Cách thông dụng nhất là tiến hành
trợ cấp. Đây là mức trợ cấp Pigou, sao cho trợ cấp đúng bằng lợi
ích biên tại mức sản lượng tối ưu. (s = MEB)
3. NGOẠI TÁC TÍCH CỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở
VIỆT NAM
Giáo dục được xác định là một dịch vụ, không phải là một
hàng hóa. Dịch vụ vì sản phẩm của giáo dục là kiến thức và kỹ
năng, mà kiến thức và kỹ năng thì không sờ mó được.
Giáo dục được xác định như là một “dịch vụ tư” vì dịch vụ
này bao hàm hai đặc điểm: có tính loại trừ và có tính cạnh tranh
trong sử dụng. Có tính loại trừ trong sử dụng vì sinh viên không
thể tham gia hưởng thụ dịch vụ đó mà không có điều kiện, họ phải
thi đầu vào, phải đóng học phí, vv. Nếu sinh viên không thỏa mãn
những điều kiện đó sẽ bị lọai trừ ra khỏi việc hưởng thụ dịch vụ
giáo dục. Dịch vụ giáo dục có tính cạnh tranh trong sử dụng vì việc
học của một sinh viên này sẽ ảnh hưởng đến việc học của người
khác. Vì số lượng sinh viên trong một lớp học là hạn chế và số
lượng lớp học trong một trường cũng bị hạn chế, nên sinh viên này
được học thì một người khác không được học, hay là nếu thêm một
sinh viên vào một lớp học quá đông sẽ ảnh hưởng đến việc học của
các sinh viên khác.
Tương tự hàng hoá và dịch vụ khác, thị trường dịch vụ giáo
dục, nói tắt là thị trường giáo dục, có hai khía cạnh, cung và cầu.
Trong một lý thuyết căn bản của kinh tế học, quy luật cầu muốn
nói rằng cầu và giá có quan hệ nghịch biến, tức là đường cầu dốc
xuống. Nếu giá càng cao thì cầu càng thấp và ngược lại. Khi chi
phí cho việc học tăng lên thì số người đi học sẽ giảm. Hơn nữa,
quy luật cung thì ngược lại, cung và giá có quan hệ đồng biến,
đường cung dốc lên, nếu học phí thu được từ sinh viên càng cao thì

bằng với chi phí biên tương ứng với mức Q
E

. Rõ ràng lượng sinh
viên thấp hơn so với mức hiệu quả nên gây ra tổn thất cho xã hội.
Vấn đề: Người có thu nhập thấp không có khả năng tiếp
cận giáo dục
Vì chi phí cho việc học khá cao và đầu tư cho việc học là
đầu tư lâu dài, thời gian học đại học trung bình là 4 năm, trong thời
gian đi học phần lớn chỉ có chi không có thu, do đó những gia đình
có thu nhập thấp gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục
nếu tất cả các trường học theo cơ chế thị trường, học phí bù đắp
đầy đủ chi phí giáo dục của trường. Việc hỗ trợ cho người nghèo đi
học là rất cần thiết.
Giải pháp nhà nước
Vì tồn tại lơi ích ngoại tác nên nhà nước cần phải đầu tư cho
giáo dục, không thể để 100% chi phí cho người đi học phải gánh
chịu… Hơn nữa, vì người nghèo không có khả năng tham gia việc
học theo cơ chế thị trường, nhà nước cần phát triển thị trường vốn
để cho sinh viên vay vốn hoặc có các học bổng cho các sinh viên
nghèo học giỏi.
Giá dịch vụ
giáo dục
Lượng dịch vụ giáo dục
Lợi ích của
SV(MB)
B
Chi phí của
việc đi
học(MC)

Nhìn lại 2 năm qua, theo đánh giá của nhiều chuyên gia về
giáo dục, của xã hội, gia đình HSSV, những gì chương trình đạt
được gần như vượt qua cả mong đợi, đã tác động tích cực đến toàn
thể xã hội, tạo điều kiện cho HSSV có hoàn cảnh khó khăn được
có cơ hội học tập, giảm tỷ lệ HSSV bỏ học vì không có khả năng
trang trải chi phí học tập, giảm bớt thời gian đi làm thêm của
HSSV để tập trung cho học tập.
Theo báo cáo tại phiên trả lời chất vấn trước Quốc hội ngày
12/6 /2009 của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nguyễn Thiện Nhân:
“chúng ta đã cho vay được 1,3 triệu học sinh, sinh viên với tổng
kinh phí là 13.700 tỷ đồng, số hộ được vay 1,2 triệu hộ. Trong đó,
những người hộ nghèo chiếm hơn 35%, cận nghèo 50%.
Và trong tổng số 1,3 triệu người vay, chỉ có 913 người là
không đúng đối tượng chiếm 0,04 %. Chương trình đã được triển
khai thực hiện trên diện rộng tại hơn 9.000 xã, phường trong cả
nước.
Với diện đối tượng rộng và đa dạng, yêu cầu cho vay đúng,
đủ, đến tận tay đối tượng gần như đã được đảm bảo tuyệt đối.
Dễ dàng và nhanh chóng là nhận xét chung của nhiều sinh
viên về quy trình, thủ tục vay tín dụng đào tạo được thực hiện 2
năm nay.
1,3 triệu HSSV đã nhận được khoản vay này với mức vay tối đa là
800.000 đồng/tháng, lãi suất 6%/năm.
Với mức lãi suất thấp như vậy, đây là một giải pháp tài chính
hữu hiệu không chỉ với các em, mà còn với cả các gia đình. Ngoài
ra, trong thời gian học, HSSV không phải trả gốc hay lãi.
Trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế như lạm phát tăng
cao năm 2008 hay suy thoái kinh tế năm 2009, nguồn vốn cho
HSSV vay học tập không những vẫn được đảm bảo mà còn tăng

cả thời gian tới.
Làm vơi nỗi lo về gánh nặng tài chính đối với gia đình
nghèo, những người xây dựng, triển khai chương trình đều mong
mỏi, mỗi HSSV có thể thấu hiểu, sử dụng đúng nguồn vốn hỗ trợ,
nỗ lực học tập, cố gắng tự lực vươn lên hoàn trả vốn vay để các thế
hệ tiếp theo tiếp tục được thụ hưởng chính sách này. Như thế,
những đồng vốn hỗ trợ mới thực sự đạt được hiệu quả đích thực.
Tóm lại:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status