MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 7Chương I: Những vấn đề cơ bản của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư khi thu hồi đất đai.9 9
I. Các khái niệm.9 9
1. Khái niệm về thu hồi đất đô thị.9 9
2. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ.10 10
3. Khái niệm về tái định cư.11 11
II. Mục đích của việc thu hồi đất đai.11 11
1. Thu hồi đất để xây dựng các công trình công cộng.11 11
1.1. Thu hồi đất để mở rộng, cải tạo và xây mới các tuyến đường, các
nót giao thông.11 11
1.2. Thu hồi đất để xây dựng trụ sở, cơ quan.12 12
1.3. Thu hồi đất để xây dựng các công trình văn hoá thể thao.13 13
1.4. Thu hồi đất cho mục đích thuỷ lợi13 13
2. Thu hồi đất để làm đất ở.13 13
2.1. Thu hồi đất để xây dựng các khu đô thị mới.13 13
2.2. Thu hồi đất để làm đất ở khác.14 14
3. Thu hồi đất để phát triển kinh tế.14 14
4. Thu hồi đất cho mục đích quốc phòng, an ninh.15 15
5. Thu hồi đất cho một số mục đích khác.15 15
III. Quy định chung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 16
1. Mục đích yêu cầu.16 16
2. Căn cứ xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.16 16
3. Điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ.17 17
4. Nguyên tắc chung về bồi thường, hỗ trợ.19 19
IV. Bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất đai 20
1. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất của tổ chức, doanh nghiệp.20 20
2. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất của hộ gia đình, cá nhân.21 21
1. Thực trạng việc thu hồi đất đai sử dụng cho mục đích đất ở tại thị xã
Hà Đông.31 31
1.1. Thực trạng việc thu hồi đất đai để làm đất ở nông thôn.31 31
1.2. Thực trạng thu hồi đất đai để làm đất ở đô thị.32 32
2. Thực trạng việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích xây dựng trụ sở
cơ quan.32 32
3. Thực trạng việc thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng - an
ninh.33 33
4. Thực trạng việc thu hồi đất để sử dụng cho mục đích sản xuất phi
nông nghiệp.33 33
4.1. Thực trạng việc thu hồi đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh
ngoài khu công nghiệp.33 33
4.2. Thực trạng việc thu hồi đất để xây dựng cụm điểm công nghiệp.34
34
5. Thực trạng việc thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích công
cộng.35 35
5.1. Xây dựng trạm y tế.35 35
5.2. Thu hồi đất sử dụng vào mục đích giáo dục đào tạo.35 35
5.3. Thu hồi đất sử dụng vào mục đích thể dục thể thao.36 36
5.4. Thu hồi đất sử dụng vào mục đích giao thông.37 37
5.5. Thu hồi đất sử dụng vào mục đích xây dựng công trình văn hoá.38
38
5.6. Thu hồi đất sử dụng vào mục đích thuỷ lợi.39 39
5.7. Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích xây dựng khác.39 39
6. Thu hồi đất sử dụng vào mục đích tôn giáo.39 39
7. Thu hồi đất cho mục đích làm nghĩa trang, nghĩa địa.40 40
8. Thu hồi đất sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp khác.40 40
III. Thực trạng việc bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất tại thị xã Hà
Đông 40
1. Giá bồi thường, hỗ trợ của từng loại đất.40 40
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI THU HỒI ĐẤT
ĐAI TẠI THỊ XÃ HÀ ĐÔNG 64
I. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thị xã Hà Đông đến năm
2010 64
1. Những chỉ tiêu cơ bản của thị xã Hà Đông đến năm 2010.64 64
2. Định hướng xây dựng, quản lý nhà đất và đô thị.65 65
3. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010.66 66
II. Một số giải pháp thu hồi đất đai tại thị xã Hà Đông. 67
1. Thành lập một cơ quan làm công tác thu hồi đất.67 67
2. Có kế hoạch thu hồi đất cụ thể.68 68
3. Cưỡng chế khi người dân cố tình không chấp nhận.68 68
4. Tránh tình trạng tái lấn chiếm.69 69
5. Có chính sách đổi đất lấy hạ tầng khi thu hồi đất.69 69
III. Giải pháp giải quyết việc bồi thường, hỗ trợ 69
1. Hoàn chỉnh những chính sách bồi thường, hỗ trợ không phù hợp.69 69
2. Mục đích yêu cầu của việc bồi thường, hỗ trợ.70 70
3. Bồi thường, hỗ trợ phải đảm bảo nguyên tắc công khai dân chủ, công
bằng.70 70
4. Tiến hành bồi thường, hỗ trợ theo quy trình.71 71
5. Đa dạng hoá các hình thức bồi thường.72 72
IV. Giải pháp giải quyết việc tái định cư 73
1. Có chính sách về tái định cư.73 73
2. Chọn địa điểm thích hợp để xây dựng khu tái định cư.73 73
3. Xây dựng khu tái định cư khi tiến hành thu hồi đất.74 74
4. Có kế hoạch phát triển kinh tế tại khu tái định cư.74 74
5. Quản lý các khu tái định cư.75 75
Kết luận 76
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Cơ cấu các loại đất đầu năm 200530 30
Bảng 2: Giá đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp của các loại đường
đai sẽ diễn ra thuận lợi.
Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là một chủ trương chính sách rất tốt
đẹp của nhà nước dành cho những người có đất bị thu hồi. Việc bồi thường,
hỗ trợ nhằm bù đắp một cách thích đáng những mất mát mà người dân phải
chịu khi bị thu hồi đất. Tái định cư giúp cho người dân ổn định lại cuộc
sống để tạo lập nghề nghiệp và thu nhập của mình.
Có thể nói bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất đai là một
công việc hết sức phức tạp vì nó đòi hỏi phải giải quyết hài hoà mối quan
hệ giữa lợi Ých Nhà nước, quyền lợi của các nhà đầu tư và quyền lợi của
những người dân bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dự án. Công tác bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi thu hồi đất đai đã được chính phủ hết sức quan tâm
thể hiện qua Nghị định số 90/NĐ-CP ngày 17/08/1994; Nghị định số
22/NĐ-CP ngày 24/04/1998 và mới đây nhất là Nghị định 197/NĐ-CP
ngày 03/12/2004. Qua một thời gian đi vào thực tế các Nghị định này đang
bộc lé những thiếu sót nhất định chính vì vậy cần sớm sửa đổi, bổ xung cho
phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh mới.
Thị xã Hà Đông phấn đấu để được công nhận là thành phố trực thuộc
tỉnh vào cuối năm 2005 nên nhiều dự án, công trình đang được triển khai
gấp rút. Nhu cầu xây dựng và chỉnh trang lại đô thị của Hà Đông đã thúc
đẩy công tác thu hồi đất đai diễn ra khẩn trương và nhanh chóng.
Hiện trạng sử dụng đất đai của thị xã Hà Đông có nhiều dạng và thời
điểm khác nhau. Quá trình thu hồi đất đai tại thị xã Hà Đông đã gặp phải
những khó khăn vướng mắc nhất định đặc biệt trong công tác bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư. Chính vì vậy em quyết định chọn đề tài: “Thực trạng
và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi thu hồi đất đai tại thị xã Hà Đông".
Hi vọng đề tài của em sẽ đưa ra một số giải pháp để công tác thu hồi
đất đai được diễn ra thuận lợi nhằm xây dựng Hà Đông ngày càng khang
trang, hiện đại.
Còn là một sinh viên của líp Kinh tế và quản lý đô thị K43 nên chắc
thừa kế, biếu tặng và trường hợp chuyển đổi quyền sở hữu nhà và quyền sử
dụng đất hợp pháp khác thì việc đền bù, di chuyển và giải phóng mặt bằng
do hai bên thoả thuận không thuộc vào chế độ đền bù thiệt hại của Nhà
nước. Nhà nước chỉ thực hiện việc thu hồi và giao đất về thủ tục và theo
quy định của pháp luật.
(Giáo trình: Quản lý đô thị trang 202)
2. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ.
Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất đô thị bao gồm
các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất hợp pháp; các doanh nghiệp, các
tổ chức kinh tế - xã hội đang sử dụng đất hợp pháp và đã nép tiền sử dụng
đất mà tiền đó không thuộc nguồn vốn của ngân sách Nhà nước. Ngoài ra,
những trường hợp sau đây khi bị thu hồi đất tuy không được hưởng tiền
đền bù thiệt hại về đất nhưng được hưởng đền bù thiệt hại về tài sản và trợ
cấp vốn hoặc xem xét cấp đất mới:
+ Hé gia đình hoặc cá nhân sử dụng đất tạm giao, đất thuê của Nhà
nước, hoặc đất đấu thầu.
+ Cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, các đơn vị lực lượng
vũ trang nhân dân, các tổ chức kinh tế của Nhà nước được giao đất mà
không phải nép tiền giao đất hoặc nép tiền giao đất bằng nguồn vốn ngân
sách Nhà nước.
Những người sử dụng đất bất hợp pháp khi bị Nhà nước thu hồi đất
thì không được đền bù thiệt hại về đất và phải tự chịu mọi chi phí tháo dỡ,
giải toả mặt bằng theo yêu cầu của Nhà nước.
Về nguyên tắc chung, người được nhà nước giao đất sử dụng vào
mục đích nào thì khi nhà nước thu hồi đất được đền bù bằng cách giao đất
có cùng mục đích sử dụng để thay thế. Trường hợp Nhà nước không thể
đền bù bằng đất hoặc người bị thu hồi không yêu cầu đền bù bằng đất thì
đền bù bằng tiền theo giá đất bị thu hồi do uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban
hành theo khung giá đất do chính phủ quy định.
Đối với trường hợp đất ở đô thị khi Nhà nước thu hồi thì việc đền bù
các nót giao thông.
Việc gia tăng dân số và tốc độ phát triển của các phương tiện cơ giới
trong thời gian vừa qua đã tạo sức Ðp lên cơ sở hạ tầng trong đó có giao
thông đô thị. Chính vì vậy việc mở rộng, cải tạo và xây mới các tuyến
đường, các nót giao thông đang là nhu cầu cấp bách. Do đó việc thu hồi đất
được đặt ra để các công trình giao thông được thực hiện theo đúng quy
hoạch và kế hoạch. Việc thu hồi đất của các hộ ở ven đường giao thông là
công việc rất khó khăn vì nơi đây diễn ra các hoạt động kinh doanh, buôn
bán sôi động và sầm uất nhất. Hơn nữa việc kinh doanh, buôn bán lại là thu
nhập chính và là nghề nghiệp chủ yếu của các hộ ven đường nên sau khi
thu hồi đất thì họ sẽ trở nên thất nghiệp.
Việc xây dựng mới các tuyến đường thường sử dụng diện tích đất
nông nghiệp. Sản lượng lương thực nơi các tuyến đường chạy qua rất thấp
nên cần phải quy hoạch cho thật hợp lý. Việc thu hồi đất nông nghiệp thì
đơn giản hơn, nhưng cần có biện pháp hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho
nông dân.
1.2. Thu hồi đất để xây dựng trụ sở, cơ quan.
Các trụ sở, cơ quan là nơi làm việc của các tổ chức, đơn vị nên cần
có vị trí đẹp và dễ tìm. Kinh tế phát triển nên các văn phòng, các trụ sở làm
việc ngày càng nhiều hơn đòi hỏi phải thu hồi đất đai để xây dựng. Trụ sở,
cơ quan có thể của Nhà nước hoặc của tư nhân; nếu của tư nhân thì thông
thường Nhà nước thu hồi và cho thuê đất trong một thời gian dài. Các trụ,
sở cơ quan là các trường học, bệnh viện, các sở ban ngành, các công ty
Trong thời gian qua nhu cầu đất đai cho xây dựng trường học tăng
cao do mục tiêu kiên cố hoá trường học và phổ cập tiểu học, trung học cơ
sở, trung học phổ thông. Trường học ngày càng được xây dựng khang
trang, hiện đại hơn nên đất đai cho xây dựng trường học ngày càng nhiều
hơn. Đồng thời dân số tăng cao trẻ em đến trường ngày càng nhiều. Hơn
nữa mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá dẫn đến việc hình thành và mở
rộng các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.
nhu cầu xây dựng, cải tạo, mở rộng và chỉnh trạng lại đô thị nên các khu đô
thị mới đang được xây dựng ngày càng nhiều. Việc xây dựng khu đô thị
mới thường sử dụng diện tích đất nông nghiệp nên cần phải có chính sách
phát triển hợp lý để đảm bảo an ninh lương thực. Các khu đô thị mới
thường được xây dựng ở ven đô; việc thu hồi đất và biến một khu vực nông
thôn thành đô thị cần có những chính sách phù hợp để hỗ trợ người dân có
đất bị thu hồi. Việc thu hồi đất ở của người dân thì cần xây dựng khu tái
định cư ngay trong khu đô thị mới hoặc ở một vị trí khác.
Các khu vực nhà ở trong đô thị quá cũ nát và thiếu quy hoạch cũng
cần phải thu hồi đất đai, giải phóng mặt bằng để xây dựng và chỉnh trang
lại. Việc thu hồi đất đai để xây dựng khu đô thị mới trong lòng đô thị cũ thì
phức tạp hơn nhiều.
2.2. Thu hồi đất để làm đất ở khác.
Việc thu hồi đất cho mục đích đất ở đang gia tăng mạnh mẽ vì nhu
cầu ở của người dân tăng cao. Nhu cầu ở tăng cao do dân số tăng cao; quá
trình đô thị hoá; điều kiện sống của người dân tốt hơn nên có nhu cầu ở nhà
to, rộng hơn. Chính nhu cầu đất ở như vậy nên cần phải tiến hành thu hồi.
Có nhiều loại đất có thể chuyển thành đất ở như: đất nông nghiệp; đất sản
xuất kinh doanh phi nông nghiệp; đất quốc phòng, an ninh
Có thể thu hồi đất nông nghiệp ở ven các trục đường giao thông để
bán cho người dân. Có thể chuyển một phần đất quốc phòng, an ninh để
làm đất ở cho các cán bộ. Có thể chia một phần đất của các cơ quan, doanh
nghiệp cho các cán bộ, công nhân viên.
3. Thu hồi đất để phát triển kinh tế.
Để tạo động lực cho sự phát triển kinh tế trong những năm vừa qua
các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao ngày càng được xây
dựng nhiều. Thông thường việc xây dựng các khu công nghiệp thường thu
hồi đất nông nghiệp và đào tạo một bộ phận nông dân thành công nhân.
Các khu công nghiệp thường ở xa khu dân cư và nằm trên diện tích đất
nông nghiệp; các khu chế xuất, khu công nghệ cao thường có những chính
III. Quy định chung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
1. Mục đích yêu cầu.
Vận dụng đúng chính sách của Nhà nước về nhà, đất và các chính
sách xã hội khác vào công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB, đảm bảo lợi Ých
của Nhà nước và của nhân dân.
Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải công khai, dân chủ.
Trong quá trình thực hiện phải đảm bảo ổn định cuộc sống của nhân
dân, ổn định chính trị an ninh và trật tự an toàn xã hội. Có giải pháp thích
hợp khuyến khích, động viên các tổ chức, hộ gia đình thực hiện để đáp ứng
yêu cầu về thời gian thực hiện.
2. Căn cứ xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Căn cứ Luật đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 197/2004/NĐ - CP ngày 3/12/2004 của chính
phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
Căn cứ Thông tư số 116/2004/TT - BTC ngày 07/12/2004 của Bộ
Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ - CP ngày
03/12/2003 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất; công văn số 624/TC - QLCS ngày 18/01/2005 của Bộ Tài
chính về sử lý vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng
ở tỉnh Hà Tây nói chung và thị xã Hà Đông nói riêng;
Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND tỉnh Hà Tây ngày 26 tháng 11
năm 2003;
Căn cứ theo quyết định số 1545/2004/QĐ - UB ngày 31/12/2004 của
UBND Tỉnh Hà Tây về việc bàn hành quy định các loại đất trên địa bàn
tỉnh Hà Tây.
Căn cứ theo quyết định số 71/2005/QĐ - UB ngày 24/01/2005 của
UBND tỉnh Hà Tây về việc quy định giá bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với
nhà, vật kiến trúc, cây, hoa mầu trên địa bàn tỉnh Hà Tây.
Quyết định số 156/2005/ QĐ - UB ngày 22/02/2005 của UBND tỉnh
Hà Tây ban Hà Tây ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
xã xác nhận là đất sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
- Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở
theo quy định của pháp luật;
- Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người
sử dụng đất.
3.4. Hé gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy
tờ theo quy định tại mục 3.3 mà trên giấy tờ đó có ghi tên người khác, kèm
theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ kí của các
bên có liên quan, nhưng đến thời điểm có quyết định thu hồi đất chưa thực
hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay
được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp.
3.5. Hé gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại
địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ
sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi,
hải đảo, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã
sử dụng đất ổn định không có tranh chấp.
3.6. Hé gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ
quy định tại 3.1; 3.2; 3.3 nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày
15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất
đó không có tranh chấp.
3.7. Hé gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết
định của toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án
hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền đã được thi hành.
3.8. Hé gia đình, cá nhân sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy
định tại mục 3.1; 3.2; 3.3 nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10
năm 1993 đến thời điểm có quyết định thu hồi đất, mà tại thời điểm sử
dụng không vi phạm quy hoạch; không vi phạm hành lang bảo vệ các công
trình, được cấp có thẩm quyền phê duyệt đã công bố công khai, cắm mốc,
không phải là đất lấn chiếm trái phép và được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi
thì hội đồng bồi thường GPMB có trách nhiệm tổ chức tháo dỡ, bàn giao
mặt bằng.
4.4. Tài sản bồi thường, hỗ trợ bao gồm:
Nhà cửa, vật kiến trúc (ngầm và nổi), cây cối hoa mầu được bồi
thường, hỗ trợ từ thời điểm có quyết định thu hồi đất của UBND tỉnh và
thông báo kiểm đếm của hội đồng bồi thường GPMB trở về trước, sau thời
điểm có quyết định thu hồi đất và thông báo kiểm đếm nếu có phát sinh
(Nhà cửa, vật kiến trúc, lán trại, cây mới trồng ) thì không được bồi
thường, hỗ trợ.
4.5. Các tổ chức, hộ gia đình cá nhân hiện đang sử dụng nhà, đất, các
công trình (trên không, mặt đất, ngầm dưới đất) nằm trong mặt bằng quy
hoạch xây dụng dự án đều phải tháo dỡ di chuyển và GPMB để thi công
theo đúng tiến độ.
IV. BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI THU HỒI ĐẤT ĐAI.
1. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất của tổ chức, doanh nghiệp.
Tổ chức đang sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp được
Nhà nước giao đã nép tiền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng từ người
sử dụng đất hợp pháp, mà tiền sử dụng đất đã nép, tiền trả cho việc nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà
nước thì được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Tổ chức được Nhà nước cho thuê đất hoặc giao đất không phải nép
tiền sử dụng đất hoặc đã nép tiền sử dụng đất bằng tiền có nguồn gốc từ
ngân sách Nhà nước thì không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu
hồi đất. Nếu tiền chi phí đầu tư vào đất còn lại không có nguồn gốc từ ngân
sách Nhà nước thì tiền chi phí đầu tư này được bồi thường.
Cơ sở của tổ chức tôn giáo đang sử dụng đất ổn định, nếu là đất được
Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất thì không được bồi
thường, nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
(Nghị định số 197/2004/NĐ-CP)
2. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất của hộ gia đình, cá nhân.
dân cấp tỉnh ban hành theo quy định của chính phủ.
3.2. Đối với nhà, công trình xây dựng khác không thuộc đối tượng
quy định tại 3.1 được bồi thường theo mức sau:
Mức bồi thường nhà, công trình = Giá trị hiện có của nhà, công trình
bị thiệt hại + Mét khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có
của nhà, công trình.
Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định bằng tỷ
lệ phần trăm chất lượng còn lại của nhà, công trình đó nhân với giá trị xây
dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kĩ thuật tương đương do Bộ
Xây dựng ban hành.
Một khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà,
công trình do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng mức bồi thường
tối đa không lớn hơn 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu
chuẩn kĩ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại;
Đối với công trình kết câu hạ tầng kĩ thuật, mức bồi thường bằng giá
trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kĩ thuật tương đương do Bộ
Xây dựng ban hành; nếu công trình không còn sử dụng thì không được bồi
thường.
3.3. Đối với nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, mà
phần còn lại không còn sử dụng được thì được bồi thường cho toàn bộ nhà,
công trình; trường hợp nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần,
nhưng vẫn tồn tại và sử dụng được phần còn lại thì được bồi thường phần
giá trị công trình bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại
theo tiêu chuẩn kĩ thuật tương đương của nhà, công trình trước khi phá dỡ.
3.4. Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp quy
định tại các khoản 4, 6, 7 và 10 điều 38 Luật đất đai 2003 thì không được
bồi thường.
3.5. Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp quy
định tại các khoản 2, 3, 5, 8, 9, 11 và 12 điều 38 luật đất đai 2003 thì việc
sử lý tài sản theo quy định tại điều 35 Nghị định số 181/2004/NĐ - CP
định sau:
- Đối với vật nuôi mà tại thời điểm thu hồi đất đã đến kì thu hoạch
thì không phải bồi thường.
- Đối với vật nuôi mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kì thu
hoạch thì được bồi thường thiệt hại thực tế do phải thu hoạch sớm; trường
hợp có thể di chuyển được thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt
hại do di chuyển gây ra; mức bồi thường cụ thể do Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh quy định cho phù hợp với thực tế.
(Nghị định số 197/2004/NĐ-CP)
6. Chính sách hỗ trợ.
6.1. Hỗ trợ di chuyển.
Hé gia đình khi Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở trong
phạm vi tỉnh, thành phố được hỗ trợ mỗi hộ cao nhất 3.000.000 đồng, di
chuyển sang tỉnh khác được hỗ trợ cao nhất 5.000.000 đồng; mức hỗ trợ cụ
thể do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
Tổ chức có đủ điều kiện được bồi thường thiệt hại đất và tài sản khi
bị thu hồi mà phải di chuyển cơ sở, được hỗ trợ toàn bộ chi phí thực tế về
di chuyển, tháo dỡ và lắp đặt.
Người bị thu hồi đất ở, không còn chỗ ở khác; trong thời gian chờ
tạo lập lại chỗ ở mới (bố trí tái định cư), được bố trí vào nhà ở tạm hoặc hỗ
trợ tiền thuê nhà ở; thời gian và mức hỗ trợ cụ thể do Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh quy định phù hợp với thực tế tại địa phương.
6.2. Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất.
Hé gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước
thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp được giao, được hỗ trợ ổn định
đời sống trong thời gian 3 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong
thời gian 6 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến
các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 12 tháng. Mức hỗ trợ
bằng tiền cho một nhân khẩu/01 tháng tương đương 30 kg gạo tính theo