TÓM LƯỢC
Tên đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn
Austdoor”
Chương 1: : Một số vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của Doanh Nghiệp
Trong chương này khóa luận đã làm rõ một số lý thuyết về cạnh tranh và năng
lực cạnh tranh trong doanh nghiệp. Đồng thời trình bày một số nội dung nghiên cứu
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gồm: phân loại cạnh tranh, các công cụ cạnh
tranh, các chỉ tiêu đánh giá và những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn
Austdoor
Qua một số phương pháp nghiên cứu đã đánh giá được tổng quan tình hình và
ảnh hưởng của các nhân tố môi trường đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của
Công ty cổ phần Tập đoàn Austdoor. Có những kết quả điều tra đánh giá về năng lực
cạnh tranh của Công ty, đồng thời có những kết quả phân tích của các dữ liệu sơ cấp
và thứ cấp về năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Austdoor.
Chương 3: Một số đề suất và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
Công ty cổ phần Tập đoàn Austdoor
Từ những phân tích về thực trạng năng lực cạnh tranh trong chương 2 từ đó chỉ
ra được những cơ hôi và thách thức của Công ty cổ phần Tập đoàn Austdoor và một số
đề suất nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trong thời gian tới.
i
MỤC LỤC
ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Bảng 2.1 Bảng cơ cấu lao động theo trình độ của công ty cổ phần tập đoàn
Austdoor Error: Reference source not found
Bảng 2.2 Bảng tổng mức và cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của công ty cổ phần tập
đoàn Austdoor Error: Reference source not found
Bảng 2.3 Lợi nhuận của Công ty cổ phần Tập đoàn Austdoor qua các năm 2012-
2014 Error: Reference source not found
mại thế giới WTO được gần 10 năm nên các doanh nghiệp phải đối mặt với các đối
thủ mới, phải cạnh tranh quyết liệt trong điều kiện mới, để từng bước vươn lên giành
thế chủ động trong quá trình hội nhập. Khi gia nhập WTO thì chính sách nhà nước
cũng thông thoáng hơn với các doanh nghiệp nước ngoài, do đó các doanh nghiệp
trong nước phải chịu áp lực lớn về giá cả, chất lượng, quy mô từ các tập đoàn lớn của
nước ngoài.
Công ty cổ phần tập đoàn Austdoor không nằm ngoài số đó, bước vào ngành
công nghiệp cửa với vị thế là người đi tiên phong trong việc sản xuất và phân phối cửa
cuốn đến nay công ty đã mở rộng sang sản xuất nhiều loại cửa như cửa nhôm, cửa
nhựa. Tuy nhiên, hiện nay ngành công nghiệp cửa đã dần bão hòa vì có nhiều doanh
nghiệp lớn đã bước vào để cạnh tranh một cách trực tiếp cũng như gián tiếp nên vị thế
dẫn đầu của công ty đã dần bị mất đi.
Trước tình hình đó, câu hỏi lớn đặt ra cho công ty là làm thế nào để nâng cao
năng lực cạnh tranh và tận dụng tối đa cơ hội thị trường, nguồn lực sẵn có của công ty
để phát triển, khẳng định vị thế của mình ở thị trường trong nước. Nâng cao năng lực
canh tranh sẽ giúp công ty thực hiện sứ mệnh của mình: “Là nhà sản xuất và cung cấp
các giải pháp cửa hàng đầu Việt Nam và Châu Á. Cung cấp các sản phẩm cửa chất
lượng cao, an toàn, thuật tiện, thẩm mỹ phục vụ cho xã hội và đem lại lợi ích cho
Khách hàng, Nhân viên, Doanh nghiệp.”.
1
Xuất phát từ thực tiễn có tính cấp thiết nêu trên, em lựa chọn đề tài “Nâng cao
năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần tập đoàn Austdoor” cho luận văn của mình.
2. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Đứng trước áp lực cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, việc nâng cao năng lực
cạnh tranh ra rất quan trọng. Do đó đã có nhiều đề tài nghiện cứu liên quan đến vấn đề
này, em xin đưa ra một số đề tài nghiên cứu có thể tham khảo như sau:
Nguyễn Thị Huế (2010) - Nâng cao khả năng cạnh tranh của Công Ty TNHH
Minh Hòa - Khóa luận tốt nghiệp – Đại học thương mại.
Vũ Thị Minh Ngọc (Năm 2011) - Nâng cao khả năng cạnh tranh của Công Ty
TNHH Và Đầu Tư Trường Thịnh) - Khóa luận tốt nghiệp – Đại học thương mại.
Austdoor, em xin giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
Về thời gian : Các dữ liệu, thông tin phục vụ cho nghiên cứu đề tài được thu
thập trong thời gian từ 2012– 2014, đề tài có ý nghĩa ứng dụng đến năm 2015.
Về không gian : Đề tài tiến hành nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Công ty cổ
phần Tập đoàn Austdoor trên thị trường miền Bắc.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: dữ liệu thông tin thứ cấp là những
thông tin đã có sẵn hoặc là các kết quả nghiên cứu đã có từ trước được tập hợp về để
phục vụ cho mục đích nghiên cứu hiện tại. Mục đích tiến hành thu thập dữ liệu thứ cấp
là để có cái nhìn tổng quan về vị thế của công ty trên thị trường, tiềm lực của công ty
cũng như ảnh hưởng của các nhân tố môi trường tác động của công ty.
Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm hai nguồn:
- Nguồn bên trong công ty: thu thập từ phòng kế toán và phòng kinh doanh. Các
dữ liệu gồm: Báo cáo kết qủa hoạt động năm 2012 – 2014( Doanh thu, lợi nhuận ), báo
cáo tài chính ( nguồn vốn, doanh thu, lợi nhuận, thuế, thu nhập, cán bộ công nhân
viên…), ngân sách dành cho hoạt động xúc tiến, bảng danh mục sản phẩm, Website
của công ty.
- Nguồn bên ngoài công ty: Tổng cục thống kê, báo kinh tế Việt Nam, Website:
www.Vietrade.gove.vn
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: dữ liệu sơ cấp là dữ liệu chưa qua xử lý
và không có sẵn. Dữ liệu này bao gồm các nguồn sau:
- Sử dụng bảng hỏi
Trong quá trình thực tập và viết khóa luận, phương pháp nghiên cứu chính đó
là phương pháp điều tra trực tiếp tại Công ty cổ phần Tập đoàn Austdoor.
Hình thức điều tra được tiến hành dưới hình thức điền phiếu thăm dò. Phiếu
thăm dò các câu hỏi được xây dựng dựa vào tính chất công việc của công ty và tình
3
hình kinh doanh của công ty trong những năm gần đây. Đặc biệt là những câu hỏi về
tình hình năng lực cạnh tranh công ty. Với những câu hỏi có trả lời sẵn và câu hỏi mở
Austdoor
4
Chương 3: Đề xuất các giải pháp và kiến nghị để nâng cao năng lực cạnh tranh
của công ty cổ phần tập đoàn Austdoor
5
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Các khái niệm có liên quan
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển nền kinh tế xã hội. Trong giai
đoạn hiện nay, yếu tố được coi là khắc nghiệt nhất là cạnh tranh. Môi trường hoạt
động của doanh nghiệp ngày nay đầy biến động và cạnh tranh hiện nay là cuộc đấu
tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trường nhằm giành
giật nhiều các lợi ích kinh tế hơn về mình. Đứng trên mỗi góc độ khác nhau thì có các
quan điểm cạnh tranh là khác nhau.
Theo cuốn Kinh tế học, Paul Samuelson: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các
doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng”, Adam Smith: “Cạnh tranh có
thể làm giảm chi phí và giá cả sản phẩm, từ đó khiến cho toàn bộ xã hội được lợi do năng
suất của các doanh nghiệp tăng lên tạo ra”.(1)
Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh
tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà
doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận
trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. (2)
Vậy có thể rút ra khái niệm cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh của doanh
nghiệp là quan hệ kinh tế mà ở đó các doanh nghiệp kinh tế ganh đua nhau tìm mọi
biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh doanh của mình,
thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện
sản xuất,kinh doanh, thị trường có lợi nhất.”.
1.1.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo quan điểm của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) định nghĩa: “Năng lực
Các yếu tố năng lực cạnh tranh marketing bao gồm:
- Tổ chức marketing.
- Hệ thống thông tin marketing.
- Hoạch định chiến lược marketing.
- Các công trình marketing mix.
- Kiểm tra marketing.
- Hiệu suất hoạt động marketing.
Các yếu tố năng lực cạnh tranh phi marketing bao gồm:
- Vị thế tài chính.
- Năng lực quản trị và lãnh đạo.
- Nguồn nhân lực.
- Năng suất lao động
- Chi phí nhân công
1.1.4 Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.4.1 Giá.
Giá cả là phạm trù trung tâm của kinh tế hàng hoá của cơ chế thị trường. Giá cả
là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh. Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá
sản phẩm mà người bán có thể dự tính nhận được từ người mua thông qua sự trao đổi
giữa các sản phẩm đó trên thị trường.
Các chính sách để định giá trong cạnh tranh
7
- Chính sách giá thấp : Là chính sách định giá thấp hơn thị trường để thu hút
khách hàng về phía mình. Chính sách này đòi hỏi doanh nghiệp phải có tiềm lực vốn
lớn, phải tính toán chắc chắn và đầy đủ mọi tình huống rủi ro có thể xẩy ra đối với
doanh nghiệp khi áp dụng chính sách giá này.
- Chính sách giá cao : Là chính sách định giá cao hơn giá thị trường hàng hoá.
Chính sách này áp dụng cho các doanh nghiệp có sản phẩm độc quyền hay dịch vụ độc
quyền không bị cạnh tranh.
- Chính sách giá phân biệt : Nếu các đối thủ cạnh tranh chưa có mức giá phân
biệt thì cũng là một thứ vũ khí cạnh tranh không kém phần lợi hại của doanh nghiệp.
thụ nhanh chóng, hợp lý và đạt được hiệu quả cao. Thông thường kênh phân phối của
doanh nghiệp được chia thành 5 loại sau:Đại lý, bán buôn, bán lẻ, người tiêu dùng,
người sản xuất. Bên cạnh việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể đẩy
mạnh các hoạt động tiếp thị, quảng cáo, yểm trợ bán hàng để thu hút khách hàng.
Chính sách phân phối sản phẩm đạt được các mục tiêu giải phóng nhanh chóng
lượng hàng tiêu thụ, tăng nhanh vòng quay của vốn thúc đẩy sản xuất nhờ vậy tăng
nhanh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.4.4 Các công cụ cạnh tranh khác.
Dịch vụ sau bán hàng: Hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp không dừng lại sau
lúc bán hàng, thu tiền của khách hàng mà để nâng cao uy tín và trách nhiệm đến cùng
đối với người tiêu dùng về sản phẩm của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải làm
tốt các dịch vụ sau bán hàng.
Phương thức thanh toán:Đây cũng là một công cụ cạnh tranh được nhiều doanh
nghiệp sử dụng, phương thức thanh toán gọn nhẹ, rườm rà hay nhanh chậm sẽ ảnh
9
hưởng đến công tác tiêu thụ và do đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trường.
1.2. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1. Trình độ tổ chức quản lý
Tổ chức quản lý tốt trước hết là áp dụng phương pháp quản lý hiện đại đã được
doanh nghiệp của nhiều nước áp dụng thành công như phương pháp quản lý theo tình
huống, quản lý theo tiếp cận quá trình và tiếp cận hệ thống, quản lý theo chất lượng
như ISO 9000, ISO 1400. Bản thân doanh nghiệp phải tự tìm kiếm và đào tạo cán bộ
quản lý cho chính mình. Muốn có được đội ngũ cán bộ quản lý tài giỏi và trung thành,
ngoài yếu tố chính sách đãi ngộ, doanh nghiệp phải định hình rõ triết lý dùng người,
phải trao quyền chủ động cho cán bộ và phải thiết lập được cơ cấu tổ chức đủ độ linh
hoạt, thích nghi cao với sự thay đổi.
1.2.2. Nguồn lực
Nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm nguồn nhân lực, nguồn vốn và trình độ
khoa học công nghệ.
tạo đội ngũ nhân viên có đủ trình độ để điều khiển và kiểm soát công nghệ nhằm phát
huy tối đa năng suất thiết kế của công nghệ. Về công nghệ, nếu doanh nghiệp giữ bản
quyền sáng chế hoặc có bí quyết riêng thì thịtrường sản phẩm của doanh nghiệp sẽ có
tính độc quyền hợp pháp. Do đó, năng lực nghiên cứu phát minh và các phương thức
giữ gìn bí quyết là yếu tố quan trọng tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngày
nay, các doanh nghiệp đều có xu hướng thành lập các phòng thí nghiệm, nghiên cứu
ngay tại doanh nghiệp; đề ra các chính sách hấp dẫn để thu hút người tài làm việc cho
doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp tạo môi trường thuận lợi cho từng người lao
động phát huy sáng kiến cá nhân trong công việc của họ.
1.2.3. Năng lực cạnh tranh sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng sản phẩm đó bán được nhiều và
nhanh chóng trên thị trường có sản phẩm tương tự. Nó bị ảnh hưởng bởi các yếu tố:
chất lượng, giá cả sản phẩm, thời gian cung cấp, dịch vụ đi kèm, điều kiện mua bán,
danh tiếng và uy tín Khi lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình, doanh nghiệp
cần nhận định đầy đủ về các mức độ của sản phẩm. Mức cơ bản nhất là lợi ích cốt lõi,
chính là dịch vụ hay lợi ích cơ bản mà khách hàng thực sự mua. Doanh nghiệp phải
biến lợi ích cốt lõi thành sản phẩm chung. Ở mức độ tiếp theo, doanh nghiệp chuẩn bị
một sản phẩm mong đợi, tức là tập hợp những thuộc tính và điều kiện mà người mua
11
thường mong đợi và chấp thuận khi họ mua sản phẩm đó. Sau đó doanh nghiệp chuẩn
bị một sản phẩm hoàn thiện thêm với những dịch vụ và ích lợi phụ thêm làm cho sản
phẩm khác với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
1.2.4. Khả năng liên kết, hợp tác với doanh nghiệp khác và hội nhập kinh tế
quốc tế
Một doanh nghiệp tồn tại trong mối liên hệ nhiều chiều với các đối tượng hữu quan
trong môi trường kinh doanh. Trong kinh doanh thường xuất hiện nhu cầu liên kết và
hợp tác giữa nhiều đối tác với nhau làm tăng khả năng cạnh tranh. Khả năng liên kết
và hợp tác của doanh nghiệp thể hiện ở việc nhận biết các cơ hội kinh doanh mới, lựa
chọn đúng đối tác liên minh và khả năng vận hành liên minh một cách có kết quả và
đạt hiệu quả cao, đạt được các mục tiêu đặt ra. Khả năng liên kết và hợp tác cũng thể
nhuận, chỉ tiêu chi phí và tỷ suất chi phí.
1.3.1. Thị phần
- Thị phần là chỉ tiêu mà các doanh nghiệp thường dùng để đánh giá mức độ
chiếm lĩnh thị trường của mình so với đối thủ cạnh tranh. Thị phần càng lớn thể hiện
sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh.Thị phần của doanh nghiệp được
chia thành hai loại sau:
- Thị phần chiếm lĩnh thị trường tuyệt đối: Là phần trăm kết quả tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp so với kết quả tiêu thụ sản phẩm cùng loại của tất cả các
doanh nghiệp khác trên cùng một thị trường .
Thị phần của doanh nghiệp =
%100x
M
M
DN
Trong đó: M
DN
: Doanh thu của doanh nghiệp đạt được
M: Tổng doanh thu của toàn ngành trên cùng một thị trường
- Thị phần chiếm lĩnh thị trường tương đối: Là tỷ lệ giữa phần chiếm lĩnh
thị trường tuyệt đối của doanh nghiệp so với phần chiếm lĩnh thị trường
tuyệt đối của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong ngành trên cùng một thị
trường.
Thị phần tương đối =
%100x
M
M
DT
DN
Trong đó: M
DN
Công thức tỷ suất chi phí : F’ =
%100x
M
F
Trong đó: F’: Tỷ suất chi phí kinh doanh
F : Tổng mức chi phí kinh doanh
M : Tổng doanh thu của doanh nghiệp trong kỳ
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.4.1. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.
1.4.1.1. Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô.
Tỷ suất lợi nhuân theo doanh thu = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu tiêu thụ
14
Môi trường vĩ mô có ảnh hưởng gián tiếp lên hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, tuy nhiên sức ảnh hưởng có tác động rất mạnh vì bất kỳ doanh nghiệp nào khi
hoạt động kinh doanh cũng không thể nằm ngoài môi trường vĩ mô được. Môi trường vĩ
mô gồm 4 nhân tố: Kinh tế, chính trị- pháp luật, Khoa học công nghệ, văn hóa xã hội.
- Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế quốc gia ổn định hay bất ổn có ảnh hưởng lớn đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó tác động tới khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Tính ổn định của nền kinh tế được thể hiện dựa trên sự ổn định nền tài chính
quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát.
Nền kinh tế ổn định, tăng trưởng tốt, nâng cao được mức thu nhập, đời sống dân
cư, từ đó yêu cầu của họ cũng tăng lên đối với các sản phẩm dịch vụ, và các doanh
ngiệp cũng phải nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ của mình để thỏa mãn nhu cầu
đó. Khi kinh tế ổn định và tăng trưởng, tỷ suất lợi nhuận cao, nhiều doanh nghiệp tham
gia vào thị trường, cường độ cạnh tranh cũng sẽ tăng cao và ngược lại.
Các yếu tố như tỷ giá hối đoái, lãi suất cho vay… cũng có tác động,tỷ giá hối
đoái biến động sẽ tác động ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Môi trường chính trị - pháp luật:
tranh hiệu quả để không những giữ vững được thị phần mà còn thu hút thêm được
nhiều khách hàng. Mức độ cạnh tranh giữa các cty hiện tại trong ngành thể hiện ở: các
rào cản nếu muốn “thoát ra” khỏi ngành, mức độ tập trung của ngành, chi phí cố
định/giá trị gia tăng, tình trạng tăng trưởng của ngành, khác biệt giữa các sản phẩm,
các chi phí chuyển đổi, tình trạng sàng lọc trong ngành.
- Đối thủ mới tiềm ẩn
Đây là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh trong cùng một ngành sản
xuất kinh doanh với doanh nghiệp nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và
quyết định gia nhập ngành. Đây là đe dọa cho các doanh nghiệp hiện tại và nếu các đối
Các đối thủ cạnh tranh trong
ngành
Cạnh tranh giữa các
DN hiện tại
Các bên
liên quan
khác
Sự thay thế
Người
mua
Gia nhập tiềm năng
Người
cung ứng
Đe doạ của các sản phẩm /
dịch vụ thay thế
Quyền lực thương
lượng của người mua
Quyền lực thương lượng
của người cung ứng
Đe doạ gia nhập mới
Quyền lực tương ứng của
thay thế. Độ co giãn nhu cầu theo giá của một sản phẩm chịu tác động của sự thay đổi
giá ở hàng hóa thay thế. Vì vậy, sự tồn tại của các hàng hóa thay thế làm hạn chế khả
năng tăng giá của doanh nghiệp trong một ngành sản xuất nhất định, từ đó ảnh hưởng
đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Các bên liên quan khác
Bao gồm các cổ đông, công đoàn, chính phủ, các tổ chức tín dụng, hiệp hội.
17
1.4.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp.
- Nguồn lực về tài chính
Nguồn lực về tài chính ảnh hưởng lớn tới khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Khả năng tài chính ở đây là quy mô tài chính của doanh nghiệp, tình hình
nguồn vốn,đầu tư,…Tình hình tài chính tốt sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp mở rộng
sản xuất kinh doanh, đầu tư, đổi mới máy móc, trang thiết bị, đầu tư vào các chương
trình quảng cáo marketing, giới thiệu sản phẩm,…từ đó nâng cao chất lượng cạnh
tranh cho doanh nghiệp.
- Nguồn lực về cơ sở vật chất kĩ thuật
Thể hiện ở trình độ khoa học kĩ thuật của doanh nghiệp, nếu một doanh nghiệp
có trình độ khoa học kĩ thuật hiện đại, phù hợp thì có điều kiện tạo ra các sản phẩm có
chất lượng cao, từ đó tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường.
- Nguồn nhân lực
Con người luôn là yếu tố quyết định trong mọi hoạt động, cũng như vậy trong
hoạt động kinh doanh, nguồn nhân lực rất quan trong với hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp hay với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đầu tiên là trình độ tổ
chức, quản lý của đội ngũ lãnh đạo, quản lí doanh nghiệp, đây là lực lượng ra các
quyết định về hoạt động của công ty, mọi quyết định của lực lượng này sẽ tác động tới
các hoạt động khác bên dưới như các phòng ban, đơn vị sản xuất,… lực lượng này nếu
có trình độ cao sẽ ra các quyết định đúng đắn, hợp lí, ngược lại sẽ có các quyết định
sai lầm, gây thiệt hại cho doanh nghiệp, giảm sức cạnh tranh. Tiếp đến là hoạt động
của các phòng ban, các đơn vị sản xuất, trực tiếp thực hiện kế hoạch cần có kinh
nghiệm thực tiễn, am hiểu chuyên môn, nắm bắt thị trường, ý thức, kỉ luật lao động…
Vốn điều lệ: 124.000.000.000 ( một trăm hai mươi bốn tỷ đồng )
Vốn pháp định: 6.000.000.000 ( sáu tỷ đồng )
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần tập đoàn
Austdoor
Công ty cổ phần tập đoàn Austdoor tiền thân là Công ty TNHH SX&TM Hưng
Phát được thành lập năm 2002 với tiền thân hoạt động trong lĩnh vực máy in phun
công nghiệp VIDEOJET USA.
Đến năm 2003 công ty bắt đầu bước vào kinh doanh cửa cuốn với việc nhập
khẩu cửa cuốn đồng bộ từ Australia để phân phối tại Việt Nam.
Đến năm 2004 công ty bắt đầu xậy dựng nhà máy sản xuất cửa cuốn đầu tiên ở
Việt Nam tại Khu công nghiệp Ngọc Hồi, Hà Nội, nhận chuyển giao công nghệ bằng
hợp đồng Li-xăng.
Đến năm 2005, công ty đã khánh thành và đi vào hoạt động nhà máy sản xuất
cửa cuốn lớn nhất Việt Nam tại khu công nghiệp Phố Nối A, Hưng Yên với công suất
300.000 m2 cửa/1 năm. Và đặt quan hệ đối tác với hang INNO DIGIT, Đài Loan- nhà
sản xuất các thiết bị điều khiển cửa cuốn hàng đầu Châu Á, đặt quan hệ và trở thành
nhà phân phối của hãng Kylin- nhà sản xuất động cơ cửa cuốn lớn nhất Trung Quốc.
Năm 2007, đặt quan hệ và trở thành nhà phân phối của hãng Tung Yuan- nhà
sản xuất động cơ cửa cuốn lớn nhất Đài Loan và giới thiệu công nghệ “ đảo chiều khi
gặp chướng ngại vật” cho cửa cuốn khe thoáng – công nghệ Đức. Tháng 7/2007 khánh
thành xưởng cửa nhựa uPVC tại khu công nghiệp Phố Nối A.
Năm 2008, công ty đặt quan hệ và trở thành nhà phân phối ủy quyền của
Efaflex Germany- nhà sản xuất cửa cuốn tốc độ cao hàng đầu thế giới. Ngoài ra, công
20